Thứ năm 23/07/2026 23:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.

Đặt vấn đề

Chức năng cơ bản quan trọng nhất của Quốc hội tại bất kỳ quốc gia nào trên thế giới là thực hiện quyền lập pháp. Việc xây dựng kế hoạch/chương trình nhằm thực hiện quyền lập pháp có ý nghĩa rất quan trọng. Trên cơ sở quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (Luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 ngày 25/6/2025) (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025) và thực tiễn triển khai công tác xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội thời gian qua, bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.

1. Quá trình đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng chương trình lập pháp của Quốc hội

Văn bản pháp luật đầu tiên đánh dấu bước phát triển của việc xây dựng quy trình trong hoạt động lập pháp của Quốc hội nói chung là Nghị quyết số 91/NQ/HĐNN8 ngày 06/8/1988 phê chuẩn Quy chế xây dựng luật và pháp lệnh do Hội đồng Nhà nước ban hành. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn việc thực hiện Quy chế này, năm 1996, Quốc hội thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó, quy định cụ thể quy trình lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ và hằng năm. Khắc phục các tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), Quốc hội khóa XII ban hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, quy định Quốc hội xem xét, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) có quyền xem xét, quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm; Quốc hội khóa XIII ban hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, quy định Quốc hội xem xét, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm, UBTVQH có quyền xem xét, quyết định điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm.

Triển khai thực hiện chương trình công tác của Bộ Chính trị khóa XIII, năm 2021, UBTVQH xây dựng Đề án định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định. Trên cơ sở Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV (Kết luận số 19-KL/TW), UBTVQH đã ban hành Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 ngày 05/11/2021 triển khai thực hiện Kết luận số 19-KL/TW (Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15) và Kế hoạch số 734/KH-UBTVQH15 ngày 22/01/2024 bổ sung Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 (Kế hoạch số 734/KH-UBTVQH15) xác định 156 nhiệm vụ lập pháp cần nghiên cứu, rà soát để kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất xây dựng mới luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, UBTVQH trong khóa XV.

Trên cơ sở định hướng chương trình lập pháp của Quốc hội khóa XV, yêu cầu thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, tính đến hết ngày 12/9/2025, Quốc hội đã ban hành 04 nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh các năm 2022, 2023, 2024 và 2025, UBTVQH ban hành 33 nghị quyết điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh các năm thuộc nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV. Theo đó, tính đến hết tháng 8/2025, Quốc hội, UBTVQH khóa XV đã ban hành 01 nghị quyết sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, 99 luật, 08 pháp lệnh và nhiều nghị quyết quy phạm pháp luật, trong số đó có 103 văn bản là kết quả thực hiện nhiệm vụ lập pháp được đề ra trong Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 và Đề án định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; Kế hoạch số 734/KH-UBTVQH15. Như vậy, có thể thấy, vai trò quan trọng của định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV với kết quả thực hiện công tác lập pháp của Quốc hội, UBTVQH.

Trên cơ sở các nhiệm vụ được đề ra trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ đạo của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật, đặc biệt là yêu cầu của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới và kết quả thực hiện định hướng nhiệm kỳ khóa XV, ngày 20/01/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 119-KL/TW về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật với mục tiêu tạo lập hệ thống pháp luật hoàn thiện, bảo đảm nền tảng pháp lý vững chắc, tạo động lực mạnh mẽ, bứt phá cho phát triển, góp phần hoàn thành thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đề ra đưa đất nước vững bước tiến vào “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Để thực hiện thành công mục tiêu này, đòi hỏi phải đổi mới tư duy về xây dựng pháp luật, đổi mới mạnh mẽ quy trình xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, khoa học, kịp thời, khả thi, hiệu quả. Trong đó, Bộ Chính trị yêu cầu đổi mới mạnh mẽ việc xây dựng chương trình lập pháp của Quốc hội theo hướng vừa có chiến lược, định hướng dài hạn, vừa có chương trình hằng năm linh hoạt, bám sát thực tiễn cuộc sống; xây dựng định hướng chương trình lập pháp cho mỗi nhiệm kỳ Quốc hội trình Bộ Chính trị xem xét quyết định, trên cơ sở đó xây dựng chương trình lập pháp hằng năm; chuyển thẩm quyền quyết định chương trình lập pháp hằng năm từ Quốc hội sang UBTVQH; giảm tối đa thời gian, đơn giản hóa thủ tục trong việc lập, điều chỉnh chương trình lập pháp hằng năm; tách quy trình xây dựng chính sách ra khỏi việc xây dựng chương trình lập pháp.

Thể chế hóa yêu cầu này, thay vì quy định chương trình xây dựng luật, pháp luật nhiệm kỳ và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm do Quốc hội quyết định, tại Kỳ họp bất thường lần thứ 9 và Kỳ họp thứ 9, Quốc hội đã thông qua Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội do UBTVQH thực hiện để trình cơ quan có thẩm quyền quyết định và giao UBTVQH quyết định chương trình lập pháp hằng năm.

Quy định mới của Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 tạo thế chủ động cho các chủ thể đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết thực hiện theo định hướng lập pháp cả nhiệm kỳ gắn với thực tiễn triển khai công tác xây dựng pháp luật của từng năm, góp phần thực hiện thành công chức năng lập pháp của Quốc hội trong mỗi nhiệm kỳ.

Bên cạnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành VBQPPL (Nghị định số 78/2025/NĐ-CP) và Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP (Nghị định số 187/2025/NĐ-CP), trong đó, quy định chi tiết về lập đề xuất của Chính phủ về định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, chương trình lập pháp hằng năm.

Tuy nhiên, nghị định của Chính phủ chỉ điều chỉnh trong phạm vi lĩnh vực phụ trách của Chính phủ, trong khi, các chủ thể tham gia vào xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội gồm: UBTVQH, Chủ tịch nước, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của mặt trận, đại biểu Quốc hội.

Ngoài ra, triển khai thực hiện Luật Ban hành VBQPPL năm 2025, ngày 28/3/2025, UBTVQH ban hành Văn bản số 1239/UBTVQH15-PLTP và 1240/UBTVQH15-PLTP lưu ý một số vấn đề trong triển khai thi hành Luật, trong đó có nội dung xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và chương trình lập pháp hằng năm.

2. Quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội

Theo Điều 23 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025, việc xác định quy trình, thủ tục xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội như sau:

Một là, về chủ thể trình: có 10 nhóm chủ thể có quyền trình đề xuất nhiệm vụ lập pháp, gồm: (i) UBTVQH; (ii) Chủ tịch nước; (iii) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; (iv) Chính phủ (Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký tờ trình, báo cáo UBTVQH đề xuất của Chính phủ về định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội); (v) Tòa án nhân dân tối cao; (vi) Viện kiểm sát nhân dân tối cao; (vii) Kiểm toán nhà nước; (viii) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (ix) Cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của mặt trận; (x) Đại biểu Quốc hội.

Hai là, về thời gian gửi đề xuất nhiệm vụ lập pháp, gồm các mốc sau: các chủ thể gửi đến UBTVQH trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội. Bộ, cơ quan ngang bộ gửi đến Bộ Tư pháp: thời hạn theo đề nghị của Bộ Tư pháp và phải bảo đảm Bộ Tư pháp có đủ thời gian xây dựng đề xuất của Chính phủ để trình Chính phủ xem xét trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ họp đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội. Chính phủ xem xét, thông qua đề xuất của Chính phủ về định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội theo Quy chế làm việc của Chính phủ để trình UBTVQH trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ họp đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội.

Ba là, nơi nhận đề xuất nhiệm vụ lập pháp: UBTVQH nhận đề xuất của 10 nhóm chủ thể nêu trên; Bộ Tư pháp nhận đề xuất của bộ, cơ quan ngang bộ để tổng hợp xây dựng đề xuất của Chính phủ gửi UBTVQH.

Bốn là, căn cứ xây dựng đề xuất nhiệm vụ lập pháp: có 04 căn cứ gồm: (i) chủ trương, đường lối của Đảng, các định hướng, kết luận của cơ quan có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước; (ii) kết quả thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội nhiệm kỳ trước, yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; (iii) vấn đề mới, xu hướng mới cần có pháp luật điều chỉnh; (iv) yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn.

Năm là, nội dung đề xuất nhiệm vụ lập pháp gồm: (i) tờ trình; (ii) danh mục nhiệm vụ lập pháp, trong đó nêu rõ căn cứ, nội dung cần được nghiên cứu, rà soát, thể chế hóa; (iii) dự kiến thời hạn hoàn thành việc nghiên cứu, rà soát; (iv) thời hạn cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH (nếu có).

Sáu là, chủ thể xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội là: UBTVQH chủ trì, phối hợp với Chính phủ xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội.

Bảy là, thời hạn hoàn thành việc xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội: trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc kỳ họp đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội.

Tám là, nội dung định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội gồm 03 nhóm chính: (i) danh mục các nhiệm vụ lập pháp, trong đó xác định cụ thể yêu cầu về việc rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc nghiên cứu, đề xuất ban hành mới luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; (ii) cơ quan chủ trì thực hiện; (iii) thời gian hoàn thành việc nghiên cứu, rà soát được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên hằng năm của nhiệm kỳ Quốc hội.

Chín là, chủ thể phê duyệt định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền của Đảng.

Mười là, chủ thể triển khai thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội: Khoản 5 và khoản 6 Điều 23 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định UBTVQH ban hành kế hoạch triển khai thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội ngay sau khi được phê duyệt; Chính phủ và cơ quan, tổ chức được UBTVQH giao thực hiện các nhiệm vụ lập pháp ban hành kế hoạch thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội.

Theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng, trình Chính phủ ban hành kế hoạch thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội.

Bên cạnh đó, qua rà soát tới thời điểm hiện nay, ngoài Chính phủ chưa có chủ thể nào quy định việc triển khai thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội. Tham khảo các văn bản triển khai thực hiện định hướng Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV được Bộ Chính trị thông qua ngày 14/10/2021, có thể UBTVQH sẽ phân công, quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức ban hành kế hoạch triển khai thực hiện định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội[1].

Mười một là, việc điều chỉnh nhiệm vụ lập pháp: UBTVQH xem xét, quyết định điều chỉnh kế hoạch triển khai thực hiện khi phát sinh các nhiệm vụ lập pháp mới. 10 nhóm chủ thể có quyền trình đề xuất nhiệm vụ lập pháp gửi đề xuất đến UBTVQH để xem xét, quyết định việc điều chỉnh. Các bộ, cơ quan ngang bộ đề xuất gửi Bộ Tư pháp tổng hợp, trình Chính phủ xem xét, báo cáo UBTVQH quyết định điều chỉnh kế hoạch triển khai thực hiện.

Mười hai là, việc theo dõi kết quả triển khai thực hiện định hướng: 10 nhóm chủ thể có quyền trình đề xuất nhiệm vụ lập pháp gửi báo cáo kết quả triển khai thực hiện các nhiệm vụ lập pháp theo quy định tại kế hoạch triển khai do UBTVQH ban hành. Các bộ, cơ quan ngang bộ triển khai kế hoạch đã được Chính phủ phân công và gửi báo cáo kết quả triển khai kế hoạch đến Bộ Tư pháp để tổng hợp, báo cáo Chính phủ.

3. Quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội

Theo các điều 24, 25 và 26 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, Nghị định số 187/2025/NĐ-CP của Chính phủ, quy trình lập chương trình lập pháp hằng năm như sau:

Một là, về chủ thể trình: tương đồng với chủ thể có quyền trình đề xuất nhiệm vụ lập pháp, chủ thể có quyền trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh bao gồm 10 nhóm: (i) UBTVQH; (ii) Chủ tịch nước; (iii) Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; (iv) Chính phủ (Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký tờ trình, gửi UBTVQH đề xuất của Chính phủ về chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội); (v) Tòa án nhân dân tối cao; (vi) Viện kiểm sát nhân dân tối cao; (vii) Kiểm toán nhà nước; (viii) Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (ix) Cơ quan trung ương của tổ chức thành viên của mặt trận; (x) Đại biểu Quốc hội.

Hai là, về thời gian gửi đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết gồm các mốc: các chủ thể gửi đến UBTVQH: trước ngày 01/8 hằng năm để đưa vào chương trình lập pháp của năm tiếp theo. Bộ, cơ quan ngang bộ gửi đến Bộ Tư pháp trước ngày 01/6 hằng năm để tổng hợp báo cáo Chính phủ. Chính phủ xem xét, thông qua đề xuất của Chính phủ về chương trình lập pháp hằng năm trước ngày 15/7 của năm trước.

Ba là, nơi nhận đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh: UBTVQH (gửi đến Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp để tổng hợp, báo cáo) nhận đề xuất của 10 nhóm chủ thể nêu trên; Bộ Tư pháp nhận đề xuất của bộ, cơ quan ngang bộ để tổng hợp xây dựng đề xuất của Chính phủ gửi UBTVQH.

Bốn là, căn cứ xây dựng đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết: định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội hoặc yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn (nếu có).

Năm là, tờ trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết: gửi bằng bản điện tử và 01 bản giấy, trong đó nêu rõ sự cần thiết, mục đích ban hành; phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; các vấn đề cụ thể để xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập có nguyên nhân từ pháp luật; vấn đề mới, xu hướng mới và các nội dung cần thiết khác (nếu có); thời gian dự kiến trình và thông qua.

Sáu là, chủ thể xây dựng tờ trình chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội: Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có ý kiến về nội dung đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết theo lĩnh vực phụ trách. Trong đó, cho ý kiến về nội dung trong tờ trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết do các chủ thể đề xuất; thứ tự ưu tiên và thời gian trình Quốc hội, UBTVQH. Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp chủ trì, phối hợp với cơ quan trình, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội xây dựng tờ trình dự kiến chương trình lập pháp hằng năm.

Bảy là, chủ thể thông qua chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội: UBTVQH thông qua bằng nghị quyết và gửi đến đại biểu Quốc hội. Riêng đối với đề xuất xây dựng pháp lệnh mà nội dung chưa được Quốc hội giao thì UBTVQH báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

Tám là, thời hạn ban hành nghị quyết chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội: trước ngày 01/10 hằng năm, UBTVQH thông qua nghị quyết về chương trình lập pháp của Quốc hội năm tiếp theo.

Chín là, nội dung của nghị quyết về chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội bao gồm: (i) tên luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; (ii) cơ quan trình; (ii) cơ quan thẩm tra; (iv) thời gian dự kiến trình theo kỳ họp của Quốc hội, phiên họp của UBTVQH.

Mười là, việc triển khai thực hiện chương trình lập pháp hằng năm: UBTVQH có trách nhiệm chỉ đạo việc triển khai thực hiện chương trình lập pháp hằng năm. Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp chủ trì giúp UBTVQH triển khai. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức triển khai chương trình lập pháp hằng năm; theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chương trình; hằng tháng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình, tiến độ và những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình.

Cơ quan được giao chủ trì soạn thảo có trách nhiệm bảo đảm tiến độ soạn thảo và chất lượng dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; định kỳ hằng tháng báo cáo và cập nhật thông tin về tình hình thực hiện chương trình, tình hình điều chỉnh chương trình, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết gửi Bộ Tư pháp trước ngày 25 hằng tháng để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Mười một là, việc điều chỉnh chương trình lập pháp hằng năm: Điều chỉnh chương trình lập pháp hằng năm là việc làm thường xuyên để đáp ứng yêu cầu thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong triển khai thi hành luật. Điểm mới nổi bật của Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 khi quy định cụ thể trường hợp cần bổ sung dự án trình Quốc hội sát với thời điểm diễn ra kỳ họp Quốc hội. Do đó, việc điều chỉnh chương trình được thực hiện theo 02 thủ tục khác nhau:

Thủ tục thứ nhất: áp dụng quy trình như lập chương trình lập pháp hằng năm đối với các đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết được gửi đến UBTVQH ngoài thời hạn 45 ngày, trước ngày dự kiến khai mạc kỳ họp. Lưu ý, đối với việc điều chỉnh chương trình lập pháp hằng năm, theo quy định tại Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, bộ, cơ quan ngang bộ chủ động xây dựng đề xuất gửi Bộ Tư pháp cho ý kiến trước khi trình Chính phủ, sau khi Chính phủ đồng ý đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ sẽ ký tờ trình đề xuất điều chỉnh chương trình lập pháp gửi UBTVQH (Bộ trưởng Bộ Tư pháp chỉ ký tờ trình chương trình lập pháp hằng năm gửi UBTVQH trước ngày 01/8/2025 theo quy định tại Điều 24 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025).

Thủ tục thứ hai: áp dụng quy trình trình UBTVQH xem xét về nội dung dự án, đồng thời, quyết định việc bổ sung dự án vào chương trình kỳ họp gần nhất để trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Theo hướng dẫn tại Công văn số 1240/UBTVQH15-PLTP ngày 28/3/2025 của UBTVQH và Thông báo số 3323/TB-VPQH ngày 11/9/2025 của Văn phòng Quốc hội, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025, trong vòng 45 ngày trước ngày dự kiến khai mạc kỳ họp Quốc hội các chủ thể không lập đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết đề nghị bổ sung vào chương trình lập pháp mà tập trung hoàn thiện hồ sơ dự án luật, nghị quyết theo quy định gửi các cơ quan của Quốc hội thẩm tra, trình UBTVQH xem xét, cho ý kiến, đồng thời, quyết định bổ sung vào chương trình kỳ họp nếu đáp ứng đủ điều kiện, trong đó, lưu ý không trình dự án sát ngày khai mạc kỳ họp, trừ trường hợp có vấn đề cấp bách phát sinh cần giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Như vậy, trong trường hợp này, cơ quan chủ trì soạn thảo không lập đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết mà tiến hành soạn thảo ngay dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết theo quy trình soạn thảo để trình UBTVQH xem xét cho ý kiến về nội dung, đồng thời, quyết định đưa vào chương trình kỳ họp của Quốc hội.

4. Một số lưu ý trong xây dựng chương trình lập pháp hằng năm

Một là, tờ trình đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh, nghị quyết phải bám sát quy định tại khoản 2 Điều 24 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và bảo đảm đủ các nội dung sau: (i) sự cần thiết, mục đích ban hành, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng; (ii) các vấn đề cụ thể để xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập có nguyên nhân từ pháp luật; (iii) vấn đề mới, xu hướng mới và các nội dung cần thiết khác (nếu có); (iv) thời gian dự kiến trình và thông qua.

Hai là, chỉ đề nghị áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 26 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 để giải quyết vấn đề thực sự cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn và gửi hồ sơ dự án đúng thời hạn để UBTVQH xem xét nội dung dự án luật, nghị quyết, đồng thời, quyết định việc bổ sung vào chương trình kỳ họp Quốc hội. Lưu ý, không trình dự án sát ngày khai mạc kỳ họp, trừ trường hợp có vấn đề cấp bách phát sinh cần giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Ba là, chỉ đề xuất việc áp dụng quy định soạn thảo dự án theo trình tự, thủ tục rút gọn khi đáp ứng yêu cầu tại khoản 1 Điều 50 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và tuân thủ trình tự, thủ tục đề nghị áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn.

Kết luận

Có thể khẳng định, việc đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội là bước tiến quan trọng trong tiến trình nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động lập pháp. Những cải cách thể chế được thể hiện rõ nét trong Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra khuôn khổ pháp lý đồng bộ, chặt chẽ, chuyên nghiệp, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt và gắn kết giữa định hướng chiến lược dài hạn với yêu cầu thực tiễn từng năm./.

ThS. Đặng Thị Thu Hiền

Vụ Pháp luật và Tư pháp, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội

Ảnh: Internet

[1]. Tương tự như Mục 3 Kế hoạch số 81/KH-UBTVQH15 ngày 05/11/2021 của Ủy ban Thường vụ Quốc về việc triển khai thực hiện Kết luận số 19-KL/TW của Bộ Chính trị và Đề án định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025” xuất bản năm 2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định hướng hoàn thiện tổ chức, hoạt động các cơ quan tư pháp đến năm 2045

Định hướng hoàn thiện tổ chức, hoạt động các cơ quan tư pháp đến năm 2045

Ngày 23/7, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo khoa học "Tổ chức và hoạt động các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp và nguồn nhân lực tư pháp, bổ trợ tư pháp trong kỷ nguyên mới - đề xuất định hướng, nhiệm vụ hoàn thiện đến năm 2045". Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội thảo.
Bảo đảm cơ sở pháp lý trong triển khai thực hiện chế độ chính sách về bảo hiểm xã hội

Bảo đảm cơ sở pháp lý trong triển khai thực hiện chế độ chính sách về bảo hiểm xã hội

Ngày 23/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Mạnh Khương đồng chủ trì Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội. Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Dự kiến sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Dự kiến sửa đổi quy định về đối tượng không chịu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp

Ngày 22/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn đồng chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Bảo đảm tính liên ngành, đa chiều tại Hội thảo cấp quốc gia về tổ chức thi hành pháp luật

Bảo đảm tính liên ngành, đa chiều tại Hội thảo cấp quốc gia về tổ chức thi hành pháp luật

Chiều ngày 21/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh làm việc với Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật về việc tổ chức Hội thảo cấp quốc gia về tổ chức thi hành pháp luật.
Phát huy thế mạnh trong nghiên cứu, đề xuất và phản biện chính sách

Phát huy thế mạnh trong nghiên cứu, đề xuất và phản biện chính sách

Ngày 21/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Nâng tầm tổ chức nghiên cứu chiến lược, chính sách trong lĩnh vực pháp luật thuộc Bộ Tư pháp (Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý) trở thành cơ sở nghiên cứu trọng điểm quốc gia, trung tâm nghiên cứu chính sách, pháp luật thuộc nhóm dẫn đầu các nước ASEAN" và Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới".
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Kinh nghiệm quốc tế trong hoàn thiện hệ thống pháp luật

Kinh nghiệm quốc tế trong hoàn thiện hệ thống pháp luật

Sáng ngày 17/7, TS. Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) và TS. Nguyễn Hữu Huyên, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Tư pháp) đồng chủ trì Hội thảo khoa học "Nghiên cứu kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới". Tham dự Hội thảo có đại diện một số cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn.
Xây dựng Luật An ninh dữ liệu, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong môi trường số

Xây dựng Luật An ninh dữ liệu, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong môi trường số

Ngày 17/7, thừa ủy quyền của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính Nguyễn Thị Hạnh chủ trì Hội đồng thẩm định Hồ sơ dự thảo chính sách Luật An ninh dữ liệu (chính sách Luật). Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện thể chế đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình hoạt động thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện thể chế đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình hoạt động thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Sau quá trình thực hiện chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư pháp, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Lãnh đạo Cục Quản lý Thi hành án dân sự, cùng sự chủ động, quyết tâm, toàn Hệ thống Thi hành án dân sự đã tập trung mọi nguồn lực để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Đặc biệt, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế tiếp tục có nhiều đổi mới, tạo nền tảng nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật về khai thác quỹ đất nhằm tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông tại Việt Nam vượt khả năng ngân sách, khai thác quỹ đất trở thành giải pháp quan trọng. Nghiên cứu phân tích, đánh giá cơ sở pháp lý và kinh nghiệm quốc tế về thu hồi giá trị gia tăng từ đất gắn với hạ tầng qua các mô hình phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD), tái điều chỉnh đất đai và kết hợp hạ tầng - bất động sản. Kết quả cho thấy, pháp luật Việt Nam còn hạn chế về cơ chế phân chia địa tô chênh lệch, tiêu chí vùng phụ cận và tính đồng bộ pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứ đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả khai thác quỹ đất phục vụ phát triển hạ tầng giao thông.
Xây dựng Cổng Pháp luật quốc gia trở thành nền tảng số dùng chung quốc gia về pháp luật

Xây dựng Cổng Pháp luật quốc gia trở thành nền tảng số dùng chung quốc gia về pháp luật

Ngày 13/7/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký thay Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 35/2026/QĐ-TTg ban hành "Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Pháp luật quốc gia" và Quyết định số 1264/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Phát triển Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026 - 2030".
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Đổi mới tư duy pháp luật trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và y tế

Đổi mới tư duy pháp luật trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và y tế

Sáng ngày 14/7, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ tư pháp) Nguyễn Văn Cương chủ trì Hội thảo khoa học “Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Tham dự Hội thảo có đại diện một số cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: