![]() |
| Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) Nguyễn Văn Cương cho biết, pháp luật quốc tế cũng như hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia đang chuyển động nhanh hơn so với các giai đoạn trước |
Phát biểu khai mạc, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) Nguyễn Văn Cương cho biết, giai đoạn từ nay đến năm 2045 là thời kỳ thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước gắn với hai dấu mốc 100 năm. Đối với giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam phấn đấu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng một hệ thống pháp luật chất lượng cao có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng cho quá trình phát triển.
Theo Viện trưởng Nguyễn Văn Cương, pháp luật quốc tế cũng như hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia đang chuyển động nhanh hơn so với các giai đoạn trước. Đáng chú ý, nhiều quốc gia coi việc hoàn thiện pháp luật và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh là một lợi thế cạnh tranh.
Việt Nam đang trong quá trình nỗ lực, sớm kiến tạo hệ thống pháp luật chất lượng cao nhất phục vụ tiến trình phát triển đất nước, bởi, pháp luật không chỉ là công cụ để ghi nhận và điều chỉnh các quan hệ xã hội đã hình thành mà pháp luật đang trở thành bộ phận của năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, năng lực thích ứng với các biến động và năng lực tham gia định hình luật chơi quốc tế. Vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cần được tiếp cận toàn diện, không chỉ xem xét hình thức của hệ thống pháp luật mà còn phải phân tích kinh nghiệm xây dựng pháp luật về phương diện nội dung, cách thức tổ chức, vận hành và đặc biệt là quá trình tổ chức thực thi nhằm phát huy tối đa hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, qua đó tạo cơ sở tham khảo cho Việt Nam trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật.
![]() |
| Toàn cảnh Hội thảo |
Nhấn mạnh chủ đề của Hội thảo, Viện trưởng Nguyễn Văn Cương đề nghị các chuyên gia, nhà khoa học tập trung trao đổi, làm rõ 03 nhóm vấn đề trọng tâm, cụ thể: (i) Làm rõ các xu hướng lớn trong quá trình hoàn thiện pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật của các quốc gia; (ii) Phân tích kinh nghiệm của các quốc gia; (iii) Xác định các giá trị tham khảo có thể vận dụng đối với Việt Nam.
Trên cơ sở trao đổi về kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới, có đại biểu cho biết, Việt Nam có thể nghiên cứu tham khảo có chọn lọc trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, cụ thể: Cần đổi mới thực chất cơ chế đánh giá tác động chính sách; cần thiết kế cơ chế tham vấn có phản hồi thực chất. Bên cạnh đó, Việt Nam có thể quy định rõ nghĩa vụ công bố bảng tổng hợp ý kiến theo nhóm vấn đề về ý kiến được tiếp thu, ý kiến không tiếp thu cùng các lý do và sự thay đổi của các dự thảo Luật. Khi phản hồi ý kiến trở thành nghĩa vụ pháp lý, tham vấn sẽ chuyển từ thủ tục sang cơ chế kiểm soát chất lượng.
Ngoài ra, đại biểu cho rằng, cần phát triển pháp điển hóa theo điều khoản và hiệu lực thực tế. Người dân và doanh nghiệp không chỉ cần biết các văn bản còn tồn tại, mà còn cần xác định chính xác điều khoản đang được áp dụng, đã được sửa đổi, bổ sung bởi văn bản nào, có hiệu lực từ thời điểm nào, có quy định ngoại lệ hay không, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành, án lệ hoặc quyết định giải thích pháp luật có liên quan. Vì vậy, cơ sở dữ liệu pháp luật cần từng bước được phát triển theo mô hình “hạ tầng pháp lý số”, trong đó văn bản, điều khoản, thủ tục, dữ liệu thực thi và lịch sử sửa đổi được liên kết một cách logic, thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu, áp dụng và tổ chức thực thi pháp luật.
![]() |
| Đại biểu trao đổi tại Hội thảo |
Trong khuôn khổ Hội thảo, các đại biểu, chuyên gia và nhà khoa học tập trung trao đổi, phân tích nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Các ý kiến thảo luận tập trung làm rõ nhiều nội dung quan trọng như: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vị trí, hiệu lực và cơ chế thực hiện điều ước quốc tế trong kỷ nguyên mới; hoàn thiện hệ thống pháp luật trước yêu cầu nâng cao vị thế quốc gia trong trật tự pháp lý quốc tế; kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống pháp luật của Trung Quốc trong những năm gần đây; kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống pháp luật của Singapore và những giá trị tham khảo đối với Việt Nam; kinh nghiệm hoàn thiện hệ thống pháp luật của Vương quốc Anh và khả năng vận dụng trong điều kiện Việt Nam.