Thứ bảy 24/10/2026 05:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhu cầu tăng cường hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực tư pháp hình sự đang trở thành yêu cầu tất yếu. Việc Quốc hội ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 đánh dấu bước tiến mới trong hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế của Việt Nam. Đạo luật này không chỉ tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà còn góp phần bảo đảm quyền con người, nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự và đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Ảnh minh họa (nguồn: Internet)

1. Sự cần thiết phải ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025

Trong những năm qua, cùng với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới trong lĩnh vực tư pháp hình sự ngày càng được tăng cường. Thực tiễn cho thấy số lượng công dân Việt Nam chấp hành án phạt tù ở nước ngoài và người nước ngoài chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có xu hướng gia tăng, kéo theo nhu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa các quốc gia ngày càng lớn. Điều này đòi hỏi phải có cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất và phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên.

Bên cạnh đó, yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án hình sự và thực hiện chủ trương cải cách tư pháp đã đặt ra nhu cầu xây dựng một đạo luật chuyên biệt điều chỉnh hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Việc ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 góp phần khắc phục những hạn chế của các quy định hiện hành, đồng thời tạo hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch cho quá trình tiếp nhận, giải quyết và thực hiện các yêu cầu chuyển giao.

Đạo luật cũng thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong bảo đảm quyền con người, tạo điều kiện để người đang chấp hành án phạt tù được tiếp tục thi hành phần hình phạt còn lại tại quốc gia có mối liên hệ gắn bó về quốc tịch, gia đình, ngôn ngữ và văn hóa bản sắc nơi họ sinh ra. Đây là yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả cải tạo, giáo dục và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù.

2. Những điểm mới nổi bật của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025

Một trong những điểm mới quan trọng của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 là lần đầu tiên Việt Nam có một đạo luật chuyên ngành điều chỉnh toàn diện hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam và nước ngoài. Theo Điều 1 của Luật, phạm vi điều chỉnh gồm nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Việc ban hành đạo luật riêng đã góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án hình sự.

Bên cạnh đó, Luật đã quy định rõ các nguyên tắc thực hiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Theo Điều 4 của Luật, hoạt động chuyển giao được thực hiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đối với trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù thì việc chuyển giao được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế. Đặc biệt, Luật nhấn mạnh yêu cầu tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đang chấp hành án phạt tù.

Một điểm đáng chú ý khác là Luật quy định cụ thể hơn về điều kiện chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài. Theo đó, Điều 32 quy định việc có thể được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện như: Người được chuyển giao là công dân của nước nhận hoặc là người được phép cư trú không thời hạn ở nước nhận hoặc được nước nhận đồng ý tiếp nhận; hành vi phạm tội mà người đó bị kết án tại Việt Nam cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật nước nhận vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm, trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm; có đủ các điều kiện quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều 15 của Luật này; đã thực hiện xong trách nhiệm dân sự trong bản án, hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản và các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật hoặc được nước nhận, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hỗ trợ thực hiện các trách nhiệm pháp lý này hoặc được nước nhận cam kết bảo đảm người đang chấp hành án phạt tù sẽ thực hiện các trách nhiệm pháp ý này sau khi được chuyển giao về nước nhận; có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước nhận trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao. Các quy định này góp phần bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khả thi trong quá trình thực hiện chuyển giao.

Luật cũng đã hoàn thiện trình tự, thủ tục và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, xem xét, quyết định và tổ chức thực hiện việc chuyển giao. Việc xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan không chỉ nâng cao hiệu quả giải quyết các yêu cầu chuyển giao mà còn góp phần bảo đảm tính công khai, minh bạch và thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật.

Có thể thấy, những quy định mới của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 không chỉ hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà còn thể hiện rõ chính sách nhân đạo, bảo đảm quyền con người và phù hợp với xu hướng tăng cường hợp tác tư pháp quốc tế trong giai đoạn hiện nay.

3. Ý nghĩa của việc ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025

Việc ban hành Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế của Việt Nam. Với việc xây dựng một đạo luật chuyên ngành, các quy định về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất và phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn cũng như các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Đáng chú ý, Luật đã tạo cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ cho hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trong quá trình tiếp nhận, xem xét và thực hiện các yêu cầu chuyển giao. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực này không chỉ bảm đảm tính minh bạch, thống nhất trong áp dụng pháp luật mà còn nâng hiệu quả thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, tăng cường sự tin cậy và hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác tư pháp quốc tế trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, Luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc để tăng cường hiệu quả hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia trong lĩnh vực tư pháp hình sự, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành án, đặc biệt là trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia và xây dựng lòng tin trong các quan hệ quốc tế, thúc đẩy hội nhập và giải quyết các thách thức toàn cầu. Đây cũng là bước đi quan trọng nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khẳng định vị thế, trách nhiệm của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.

Kết luận

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 ra đời đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới. Những quy định mới của Luật không chỉ hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà còn góp phần bảo đảm quyền con người, nâng cao hiệu quả thi hành án hình sự và tăng cường hợp tác giữa Việt Nam với các quốc gia trên thế giới. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ hiệu quả yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

Đào Khánh Đan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra

Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra

Tóm tắt: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là vấn đề quan trọng cần xác định nhằm xử lý các vi phạm hành chính của đối tượng thanh tra. Trên cơ sở nghiên cứu quy định pháp luật thanh tra và pháp luật xử lý vi phạm hành chính, nghiên cứu tập trung phân tích, đánh giá thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người tiến hành thanh tra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trình tự, thủ tục thanh tra hiện hành làm cho việc thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra không khả thi. Đồng thời, hoạt động thanh tra chuyên ngành ở bộ, cơ quan ngang bộ (nơi không có Thanh tra Bộ) được chuyển giao cho Thanh tra Chính phủ (trừ một số trường hợp luật định), ở sở chuyển giao cho Thanh tra tỉnh nhưng quyết định thanh tra của Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính làm ảnh hưởng đến hiệu quả của việc xử lý kịp thời các hành vi vi phạm hành chính được phát hiện qua thanh tra. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thanh tra.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác thi hành án dân sự

Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác thi hành án dân sự

Qua hơn 03 năm triển khai Chương trình số 87-CTr/BCSĐ ngày 28/6/2023 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp về hành động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thi hành án dân sự giai đoạn 2023 - 2026, Cục Quản lý Thi hành án dân sự và các cơ quan trong Hệ thống đã triển khai nhiều nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, gắn phòng ngừa với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực. Những kết quả đạt được góp phần nâng cao hiệu lực quản lý, chất lượng thi hành án và tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn Hệ thống.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tái cấu trúc quy trình thủ tục thi hành án dân sự: Cắt giảm 96,6% chi phí tuân thủ, nâng cao trải nghiệm trên môi trường số

Tái cấu trúc quy trình thủ tục thi hành án dân sự: Cắt giảm 96,6% chi phí tuân thủ, nâng cao trải nghiệm trên môi trường số

Ngày 18/9/2026, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2088/QĐ-BTP phê duyệt Phương án tái cấu trúc quy trình thủ tục hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Đột phá này tập trung vào thủ tục "Yêu cầu thi hành án dân sự", loại bỏ gánh nặng hồ sơ giấy, tự động hóa kết nối dữ liệu và cắt giảm tới 96,6% tổng chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Khoảng trống pháp lý về ly thân tại Việt Nam - Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Phản ánh mức độ can thiệp của Nhà nước vào quan hệ hôn nhân và gia đình, ly thân pháp lý cấu thành cơ chế mà theo đó, các bên vợ chồng được phép sống riêng nhưng vẫn duy trì giá trị pháp lý của hôn nhân, gắn với các quyền và nghĩa vụ được xác định rõ ràng. Tại Việt Nam, dù trở thành hiện tượng xã hội phổ biến, song, ly thân hiện chưa được pháp luật điều chỉnh, làm cho các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng trong thời gian ly thân thiếu căn cứ pháp lý để xác định. Khoảng trống pháp lý này tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, cũng như của chủ thể thứ ba do thiếu biện pháp pháp lý bảo đảm tương xứng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ khoảng trống pháp lý thông qua các số liệu thực tế, kinh nghiệm quốc tế và nền tảng lý luận về quyền con người, từ đó, đề xuất xây dựng chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: