Mục tiêu của việc áp dụng nguyên tắc này nhằm bảo đảm thực chất, tránh tình trạng rà soát mang tính hình thức, đồng thời xác định rõ sự gắn kết giữa chất lượng chuyên môn và trách nhiệm cá nhân trong toàn bộ hệ thống thực hiện nhiệm vụ.
Cụ thể hóa nguyên tắc qua hệ thống văn bản điều hành
Nguyên tắc “6 rõ” không chỉ là định hướng chỉ đạo mà đã được cụ thể hóa thông qua các văn bản pháp lý và công tác nghiệp vụ do Bộ Tư pháp ban hành:
Xác định danh mục công việc và lộ trình (rõ việc, rõ thời gian): Quyết định số 1049/QĐ-BTP ngày 20/4/2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Kế hoạch triển khai tổng rà soát tại Bộ Tư pháp đã phân tách các giai đoạn thực hiện với các mốc thời hạn cụ thể cho từng đầu việc.
Phân định chủ thể thực hiện (rõ người, rõ thẩm quyền): Quyết định số 1125/QĐ-BTP ngày 26/4/2026 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập Tổ công tác triển khai nhiệm vụ Tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) tại Bộ Tư pháp đã định danh các cá nhân và đơn vị chịu trách nhiệm chính. Ngày 06/5/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ký ban hành Công văn số 2994/BTP-KTVB&TCTHPL về việc triển khai thực hiện tổng rà soát hệ thống VBQPPL tại Bộ Tư pháp. Tại các văn bản nêu trên đã xác định cụ thể trách nhiệm chỉ đạo của các đồng chí Thứ trưởng Bộ Tư pháp, trách nhiệm tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm của Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ đối với kết quả tổng rà soát hệ thống VBQPPL thuộc lĩnh vực phụ trách của các đơn vị, cũng như các nhiệm vụ khác được giao, trên cơ sở tuyệt đối bảo đảm thực hiện đúng thời hạn và yêu cầu chất lượng công việc đã được xác định trong Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Thiết lập tiêu chuẩn kỹ thuật (rõ kết quả): Các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và đề cương báo cáo chuyên đề (như Công văn số 4319/CQTBCĐ ngày 17/6/2026 gửi các bộ, ngành liên quan về Đề cương Báo cáo chuyên đề kết quả tổng rà soát và đề xuất xử lý VBQPPL do các cơ quan ở Trung ương và địa phương thực hiện) yêu cầu kết quả rà soát phải được định lượng bằng các danh mục văn bản cụ thể, các nội dung mâu thuẫn được nhận diện rõ ràng và có đề xuất phương án xử lý thực chất.
Cơ chế bảo đảm trách nhiệm và kỷ luật thực thi
Việc thực hiện “6 rõ” gắn liền với vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu. Theo đó, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ chịu trách nhiệm toàn diện trước Lãnh đạo Bộ về tiến độ và chất lượng kết quả rà soát đối với các văn bản thuộc lĩnh vực phụ trách.
Để bảo đảm nguyên tắc “rõ thời gian” và “rõ kết quả”, Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo thiết lập chế độ báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ định kỳ 02 tuần/lần (theo Công văn số 3401/CQTBCĐ ngày 19/5/2026 của Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo). Điều này cho phép Ban Chỉ đạo theo dõi sát sao, kịp thời đôn đốc các đơn vị chậm tiến độ hoặc xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình rà soát.
Việc quán triệt và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, kỷ luật, kỷ cương trong quá trình rà soát đã bảo đảm các kết quả báo cáo được xây dựng trên cơ sở khách quan, toàn diện, phản ánh đúng thực trạng hệ thống pháp luật, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế có chất lượng và tính khả thi cao.
Hiệu quả thực tiễn từ đợt rà soát lần 1
Đến hết tháng 7/2026, việc áp dụng nguyên tắc “6 rõ” đã bước đầu mang lại những kết quả tích cực. Các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp đã hoàn thành việc rà soát lần thứ nhất đối với hệ thống văn bản thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Thông qua cơ chế “6 rõ”, quá trình tổng hợp các kiến nghị về chính sách và những khó khăn, vướng mắc từ các bộ, ngành, địa phương được thực hiện minh bạch, có địa chỉ và trách nhiệm cụ thể. Qua đó, nhiều “điểm nghẽn” về thể chế đã được nhận diện, tạo cơ sở quan trọng để Bộ Tư pháp tham mưu Chính phủ nghiên cứu, đề xuất các giải pháp tháo gỡ, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
Nguyên tắc “6 rõ” là công cụ quản trị quan trọng, góp phần cụ thể hóa các chủ trương, định hướng và nhiệm vụ chính trị thành các mục tiêu, yêu cầu và chỉ tiêu thực hiện rõ ràng. Sự vận hành đồng bộ của nguyên tắc này dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy Bộ Tư pháp đã bảo đảm cuộc tổng rà soát hệ thống VBQPPL được triển khai đúng tiến độ, đạt chất lượng, thực sự trở thành cuộc “tổng kiểm kê thể chế” nhằm chuẩn bị nền tảng pháp lý cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.
(Ảnh: Internet)