Thứ ba 08/09/2026 17:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Sức ép tăng trưởng và xu thế an ninh năng lượng mới

Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, nền kinh tế Việt Nam đứng trước yêu cầu bứt phá mạnh mẽ với mục tiêu tăng trưởng GDP đạt mức hai con số[1]. Sự bứt phá này nằm trong tổng thể chiến lược đưa Việt Nam trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Đi liền với mục tiêu phát triển kinh tế quy mô lớn là bài toán hiện thực hóa các cam kết lịch sử về chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính và đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050[2]. Tuy nhiên, những biến động địa chính trị phức tạp, sự gia tăng của các xung đột quân sự tại các khu vực sản xuất, trung chuyển năng lượng trọng yếu trên thế giới đang gây đứt gãy nguồn cung toàn cầu, làm biến động mạnh giá nhiên liệu hóa thạch và đe dọa trực tiếp đến an ninh năng lượng quốc gia.

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC
Sức ép tăng trưởng – phát triển bền vững

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định rõ quan điểm phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên[3]. Bổ sung và cụ thể hóa đường lối của Đảng, Nghị quyết số 55-NQ/TW ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã nhấn mạnh yêu cầu sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường phải được xem là quốc sách hàng đầu và là trách nhiệm của toàn xã hội.

Cụ thể hóa đường lối chiến lược đó, Chính phủ đã ban hành các văn bản chỉ đạo điều hành như Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 19/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện (Chỉ thị số 09/CT-TTg), Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà (Chỉ thị số 10/CT-TTg), cùng Công điện số 27/CĐ-TTg ngày 31/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển hạ tầng trạm sạc xe điện tại các khu chung cư (Công điện số 27/CĐ-TTg).

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống, an ninh năng lượng đóng vai trò là mạch máu sống còn của nền kinh tế. Thực tiễn vận hành nền kinh tế trong giai đoạn vừa qua ghi nhận thị trường năng lượng quốc tế diễn biến vô cùng khó lường. Đối với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở thuộc nhóm cao nhất thế giới và phụ thuộc ngày càng nhiều vào năng lượng nhập khẩu, những biến động này tạo ra thách thức vô cùng lớn đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô, cán cân thanh toán và an sinh xã hội. Việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không đơn thuần là việc “thắt lưng buộc bụng” mang tính tình thế, mà được xác định là giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm giảm thiểu rủi ro về nguồn cung, hạ giá thành sản xuất, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Năm 2026 là năm bản lề khởi đầu cho Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2026 - 2030, nếu Việt Nam không nhanh chóng chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, nền kinh tế sẽ sớm đối mặt với thiếu hụt nguồn cung năng lượng nghiêm trọng. Đặc biệt, trong giai đoạn cao điểm mùa khô và các tháng nắng nóng hằng năm, hệ thống điện quốc gia luôn đối mặt với nguy cơ mất cân đối cung cầu cục bộ, việc đầu tư xây dựng mới các nhà máy điện gây tốn kém nguồn lực ngân sách, đòi hỏi thời gian kéo dài và chịu nhiều rào cản về môi trường. Do đó, việc chuyển dịch tư duy từ nâng cao công suất cung cấp tối đa sang quản lý thông minh, chủ động kiểm soát nguồn cung điện đóng vai trò quan trọng.

Chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước được lượng hóa bằng các con số pháp lý cụ thể. Đến năm 2030, toàn quốc phải giảm tiêu hao năng lượng tính trên đơn vị GDP ở mức từ 1% đến 1,5% mỗi năm. Hằng năm, phấn đấu tiết kiệm điện tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc, đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, tỷ lệ tiết kiệm điện bắt buộc đạt tối thiểu 3% mỗi năm. Ngoài ra, mục tiêu phấn đấu giảm tổn thất điện năng trên toàn hệ thống truyền tải và phân phối xuống dưới mức 5,8% vào năm 2030, cùng với việc chuyển đổi tối thiểu 50% phương tiện giao thông công cộng tại các đô thị sang sử dụng điện hoặc nhiên liệu sạch[4]. Đồng thời, thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ và khuyến khích xây dựng, triển khai áp dụng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001[5].

Hoàn thiện hành lang pháp lý, huy động nguồn lực tiết kiệm năng lượng

Một chủ trương lớn hay một chính sách phát triển chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi có được hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch, khả thi và có hiệu lực thi hành cao. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chỉ đạo điều hành thể hiện tầm nhìn toàn diện của Chính phủ trong việc tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, giải phóng nguồn lực xã hội, đầu tư cho tiết kiệm năng lượng.

kiến tạo cơ chế, đột phá hàng lang pháp lý
Kiến tạo cơ chế, đột phá hành lang pháp lý

Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 77/2025/QH15 (Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010) là cơ sở pháp lý điều chỉnh hành vi của các tổ chức, cá nhân trong toàn bộ chuỗi sản xuất, truyền tải, phân phối và tiêu dùng năng lượng. Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế khuyến khích tự nguyện sang cơ chế bắt buộc tuân thủ gắn với trách nhiệm pháp lý rõ ràng đối với các cơ sở tiêu thụ năng lượng trọng điểm. Hệ thống quy định mới mở rộng danh mục phương tiện, thiết bị phải dán nhãn năng lượng, áp dụng bắt buộc mức hiệu suất năng lượng tối thiểu. Đồng thời, Nhà nước kiên quyết loại bỏ các công nghệ, thiết bị lạc hậu tiêu tốn nhiều năng lượng ra khỏi thị trường, điển hình là nghiên cứu xây dựng chương trình chuyển đổi thị trường hiệu suất năng lượng, loại bỏ đèn sợi đốt từ 20W đến 60W[6].

Chỉ thị số 10/CT-TTg đã cụ thể hóa việc triển khai Nghị định số 58/2025/NĐ-CP ngày 03/3/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới. Đây là giải pháp có ý nghĩa quan trọng nhằm giải phóng nguồn lực tài chính xã hội, giảm bớt áp lực đầu tư công và bổ sung nguồn điện tại chỗ cho hệ thống điện quốc gia. Mức phấn đấu được đặt ra cụ thể là hằng năm có khoảng 10% cơ quan công sở và 10% hộ gia đình trên cả nước lắp đặt, sử dụng điện mặt trời mái nhà nhằm giảm phụ tải giờ cao điểm và tăng tính chủ động, Chính phủ khuyến khích tích hợp hệ thống lưu trữ năng lượng Battery Energy Storage System (hệ thống BESS). Để chính sách không dừng lại trên giấy, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Công Thương đề xuất các cơ chế tín dụng xanh, hỗ trợ tài chính trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp.

Một trong những vướng mắc lớn kéo dài nhiều năm qua là thiếu cơ chế tài chính đủ mạnh để huy động nguồn lực tư nhân tham gia đầu tư các dự án tiết kiệm năng lượng. Để tháo gỡ “điểm nghẽn” này, Chính phủ chỉ đạo tập trung phát triển thị trường dịch vụ năng lượng thông qua hoạt động của các công ty dịch vụ năng lượng Energy Service Company (ESCO)[7]. Đây là mô hình kinh doanh hiện đại, nơi doanh nghiệp ESCO đầu tư toàn bộ vốn, công nghệ và nhận lại chi phí từ chính số tiền năng lượng tiết kiệm được của khách hàng. Cùng với đó là việc khẩn trương hoàn thiện quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, cho phép Tập đoàn Điện lực Việt Nam hạch toán các chi phí hợp lý cho chương trình quản lý phụ tải và tiết kiệm điện vào giá thành sản xuất kinh doanh điện lực[8].

Hạ tầng giao thông xanh và bài toán tháo gỡ “nút thắt” thực tiễn

Giao thông vận tải là ngành kinh tế tiêu thụ lượng nhiên liệu hóa thạch khổng lồ và phát thải khí nhà kính lớn hàng đầu trong nền kinh tế. Chuyển đổi sang phương tiện giao thông điện là xu thế tất yếu không thể đảo ngược, nhưng sự đứt gãy giữa tốc độ gia tăng phương tiện điện và hạ tầng trạm sạc đang là bài toán phức tạp trong quản lý đô thị hiện đại.

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC
Hạ tầng giao thông xanh

Công điện số 27/CĐ-TTg chỉ rõ những bất cập tồn tại trong thực tiễn. Hệ thống trạm sạc và điểm đổi pin tại các khu đô thị, nhà chung cư còn thiếu hụt và chưa đồng bộ. Quy hoạch điểm đỗ xe tại các dự án bất động sản chưa tính toán đầy đủ nhu cầu sạc điện, gây áp lực nặng nề lên hệ thống điện nội bộ và tiềm ẩn rủi ro an toàn phòng cháy, chữa cháy. Bên cạnh đó, các vướng mắc về thủ tục cải tạo, cấp phép trạm sạc tại các tòa nhà chung cư hiện nay vẫn chưa được tháo gỡ triệt để do xung đột quy định pháp luật giữa các ngành xây dựng, điện lực và phòng cháy, chữa cháy.

Để không phát sinh tiêu cực, Chính phủ đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành với những mốc thời điểm hoàn thành cụ thể. Đến nay, hệ thống phục vụ hạ tầng giao thông xanh đã ghi nhận những bước chuyển biến căn bản. Ngày 15/6/2026 Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BXD ban hành Sửa đổi 01:2026 QCVN 04:2021/BXD Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà chung cư, hướng dẫn kỹ thuật chuẩn hóa về thiết kế trạm sạc, bảo đảm an toàn phòng chống cháy nổ và khả năng ứng phó sự cố tại các tòa nhà cao tầng. Cùng với đó, hệ thống quy chuẩn quy hoạch đô thị tích hợp hạ tầng giao thông xanh cũng đã được hoàn thiện trong Quý II năm 2026, tạo hành lang pháp lý minh bạch để tháo gỡ triệt để các vướng mắc về thủ tục cải tạo, cấp phép trạm sạc cho các công trình chung cư hiện hữu.

Song song với hạ tầng xây dựng, Bộ Công Thương đã đẩy nhanh tiến độ ban hành hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn, tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng cho thiết bị sạc, trạm sạc và hệ thống cấp điện. Về phía đơn vị vận hành, Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã chuẩn hóa và đơn giản hóa quy trình, thủ tục đấu nối, lắp đặt công tơ riêng cho hệ thống trạm sạc tại các khu dân cư, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong thanh toán tiền điện. Sự vào cuộc đồng bộ, đúng tiến độ của các cơ quan quản lý nhà nước trong 8 tháng đầu năm 2026 đã từng bước giải tỏa “điểm nghẽn” hạ tầng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy người dân chuyển đổi sang phương tiện giao thông xanh.

Song song với giao thông điện, việc giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch được thúc đẩy bằng lộ trình nhiên liệu sinh học. Bộ Công Thương chỉ đạo triển khai lộ trình chuyển đổi sang sử dụng xăng sinh học, từ 01/6/2026 toàn bộ các trạm xăng dầu trên toàn quốc chuyển sang bán xăng sinh học E10 và dừng toàn bộ xăng khoáng truyền thống, nhằm góp phần giảm ngay 10% lượng tiêu thụ xăng khoáng trên toàn quốc. Các cơ quan chức năng đồng thời rà soát và phát triển vùng nguyên liệu, thúc đẩy sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất ethanol nhiên liệu.

Tôn vinh mô hình sáng tạo và siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước

Việc biểu dương các điển hình tiên tiến đi đôi với giám sát, phản biện xã hội là phương thức hiệu quả để đưa chính sách pháp luật vào thực tiễn đời sống.

tôn vinh mô hình sáng tạo
Siết chặt kỷ cương và tôn vinh mô hình sáng tạo

Thực thi các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, nhiều tập đoàn, doanh nghiệp và địa phương đã ghi dấu ấn mạnh mẽ. Trong khu vực sản xuất công nghiệp, nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành thép, xi măng, dệt may đã chủ động đầu tư hệ thống thu hồi nhiệt thải phát điện, ứng dụng công nghệ chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo trong điều phối năng lượng. Trong khu vực dân dụng và công sở, xuất hiện ngày càng nhiều mô hình tòa nhà xanh tự chủ một phần điện năng nhờ điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống BESS. Việc ứng dụng hệ thống chiếu sáng thông minh tại các đô thị lớn đã giúp tiết kiệm trên 30% điện năng tiêu thụ. Trong ngành giao thông, xu hướng xanh dịch vụ vận tải công cộng, taxi điện và xe buýt điện đang phát triển bứt phá.

Bên cạnh chính sách khuyến khích, pháp luật quy định rõ ràng việc tiết kiệm năng lượng là kỷ luật công vụ bắt buộc. Các cơ quan công sở phải đưa nội dung tiết kiệm điện vào chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chấp hành kỷ luật nội bộ và thi đua khen thưởng hằng năm. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, địa phương chịu trách nhiệm trực tiếp trước cấp trên nếu để xảy ra vi phạm hoặc không đạt mục tiêu đề ra. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, rà soát danh sách phụ tải ưu tiên và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về hiệu suất năng lượng.

Một số vấn đề khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn

Thực tiễn thi hành các quy định về tiết kiệm năng lượng và chuyển dịch năng lượng xanh thời gian qua đang bộc lộ những vướng mắc ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thực thi trên thực tế.

Bức tranh thực tiễn: Những điểm nghẽn trong chuyển dịch năng lượng xanh tại Việt Nam
Những điểm nghẽn, vướng mắc trong chuyển dịch năng lượng xanh tại Việt Nam

Thứ nhất, điểm nghẽn về hạ tầng kỹ thuật và quy chuẩn giao thông điện

Mặc dù chủ trương chuyển đổi sang phương tiện giao thông điện đã được khẳng định rõ, việc triển khai hạ tầng trạm sạc tại các không gian công cộng, đặc biệt là khu nhà chung cư và đô thị nén, đang gặp rào cản lớn về pháp lý và kỹ thuật[9]. Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn phòng cháy chữa cháy, an toàn điện cho trạm sạc công suất cao trong không gian kín (như hầm để xe chung cư) chưa được đồng bộ hoàn toàn giữa các ngành xây dựng, điện lực và phòng cháy chữa cháy. Bên cạnh đó, áp lực lên hạ tầng lưới điện hạ áp tại các khu dân cư hiện hữu khi gia tăng đột biến số lượng trạm sạc cũng là bài toán kỹ thuật chưa có cơ chế tài chính tháo gỡ triệt để.

Thứ hai, rào cản tài chính và cơ chế vận hành thị trường dịch vụ ESCO

Mô hình doanh nghiệp ESCO được coi là chìa khóa để huy động nguồn lực xã hội hóa đầu tư cho tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, khung pháp lý cho hoạt động của ESCO tại Việt Nam vẫn còn khoảng trống lớn. Các tổ chức tín dụng gặp khó khăn trong việc định giá và chấp nhận “hợp đồng tiết kiệm năng lượng” làm tài sản bảo đảm thế chấp vay vốn. Mặt khác, cơ chế hạch toán, chia sẻ rủi ro tài chính và thủ tục thanh toán chi phí tiết kiệm điện trong các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước vẫn bị ràng buộc bởi các quy định cứng nhắc của Luật Ngân sách nhà nước và Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, làm giảm động lực hợp tác công - tư trong lĩnh vực này.

Thứ ba, khó khăn trong tích hợp hệ thống BESS

Nghị định số 135/2024/NĐ-CP và các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ tạo hành lang khuyến khích điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ. Dù vậy, việc thiếu hụt các cơ chế hỗ trợ tài chính trực tiếp, cùng giá thành đầu tư hệ thống BESS còn ở mức cao khiến tỷ lệ lắp đặt thực tế chưa đạt như kỳ vọng. Ngoài ra, quy trình thẩm định an toàn chịu lực công trình, an toàn phòng cháy chữa cháy đối với hệ thống điện mặt trời mái nhà lắp đặt trên các công sở, nhà xưởng hiện hữu vẫn còn phức tạp, tốn nhiều thời gian và chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp.

Các giải pháp đồng bộ

Các giải pháp nhằm tạo sự chuyển biến căn bản, đưa sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trở thành văn hóa sống và thói quen tiêu dùng trong toàn xã hội.

Thứ nhất, nâng cao hiệu lực thực thi thể chế và hoàn thiện đồng bộ hành lang pháp lý. Trên cơ sở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn và tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà chung cư, trạm sạc xe điện, dán nhãn năng lượng và hiệu suất năng lượng đã được ban hành và sửa đổi, trọng tâm hiện nay là tổ chức thi hành pháp luật nghiêm minh. Cần kịp thời rà soát, hệ thống hóa các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; ban hành bộ thủ tục hành chính mẫu chuẩn hóa, đơn giản hóa tối đa quy trình đăng ký, lắp đặt, đấu nối và kiểm định an toàn đối với hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu và trạm sạc xe điện.

Thứ hai, tối ưu hóa công cụ tài chính xanh và vận hành cơ chế thị trường. Đưa Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả vận hành tối đa công suất và hiệu quả. Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về tín dụng xanh, trái phiếu xanh; mở rộng các gói ưu đãi tài chính và lãi suất cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ hiệu suất cao, phát triển mạnh mẽ mô hình ESCO, đồng thời tạo điều kiện cho hộ gia đình tiếp cận vốn vay ưu đãi khi đầu tư điện mặt trời mái nhà kết hợp hệ thống BESS.

Thứ ba, chuẩn hóa quy hoạch hạ tầng đô thị và bảo đảm an toàn lưới điện. Bắt buộc lồng ghép tiêu chuẩn hạ tầng giao thông xanh, trạm sạc, trạm đổi pin xe điện vào quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết đô thị, khu công nghiệp và khu dân cư mới. Khẩn trương nâng cấp, hiện đại hóa hạ tầng lưới điện phân phối tại các khu vực trọng điểm, bảo đảm khả năng hấp thụ, giải tỏa công suất từ các nguồn điện mặt trời tự sản, tự tiêu và bảo đảm vận hành an toàn, ổn định cho hệ thống trạm sạc tập trung công suất lớn.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong quản lý năng lượng. Thúc đẩy nghiên cứu, chuyển giao và nội địa hóa công nghệ sản xuất pin lưu trữ, động cơ điện hiệu suất cao, công nghệ tích hợp năng lượng tái tạo. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu thụ năng lượng; ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet kết nối mọi vật (IoT) trong việc giám sát, dự báo phụ tải đỉnh, tối ưu hóa vận hành hệ thống điện quốc gia và triển khai các chương trình điều chỉnh phụ tải điện thông minh (DR).

Thứ năm, tăng cường truyền thông, phát huy vai trò giám sát phản biện và xây dựng văn hóa tiết kiệm. Đẩy mạnh tuyên truyền chuyên sâu trên các kênh truyền thông chủ lực và nền tảng số. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực thi chính sách năng lượng. Đưa nội dung tiết kiệm năng lượng vào chương trình giáo dục các cấp, phát động sâu rộng các phong trào thi đua gắn với tiêu chí đánh giá kỷ luật công vụ, nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và xây dựng văn hóa công sở xanh.

Thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về tiết kiệm năng lượng là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị và toàn xã hội. Mỗi kilôwatt giờ điện tiết kiệm được, mỗi trạm sạc xe điện an toàn được đưa vào vận hành, mỗi mái nhà sử dụng hệ thống năng lượng mặt trời chính là một viên gạch bồi đắp nên nền móng vững chắc cho an ninh năng lượng quốc gia. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ cùng sự đồng lòng của người dân, Việt Nam hoàn toàn có thể chủ động vượt qua mọi thách thức, tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển xanh, thịnh vượng và bền vững./.


[1] Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.

[2] Phạm Văn Sơn (2024), Chuyển dịch năng lượng xanh và cam kết Net Zero của Việt Nam: Từ thể chế đến hành động, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.116-118.

[4] Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 19/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường thực hiện tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng và phát triển phương tiện giao thông điện.

[5] Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ cấp bách, quyết liệt ngăn chặn, giải quyết tình trạng ô nhiễm môi trường.

[6] Chỉ thị số 09/CT-TTg.

[7] Thanh Bình (2026), ESCO: Giải pháp cho bài toán sử dụng năng lượng hiệu quả, https://congthuong.vn/esco-giai-phap-cho-bai-toan-su-dung-nang-luong-hieu-qua-442921.html, truy cập ngày 26/8/2026.

[8] Tập đoàn Điện lực Việt Nam (2026), EVNHANOI: Đưa vào vận hành 5 hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), https://www.evn.com.vn/d/vi-VN/news/EVNHANOI-Dua-vao-van-hanh-5-he-thong-pin-luu-tru-nang-luong-BESS-60-3557-508818, truy cập ngày 26/8/2026.

[9] Công điện số 27/CĐ-Ttg ngày 31/3/2026 của Thủ tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển hạ tầng trạm sạc xe điện tại các khu chung cư.

Đăng Quang

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội kiến tạo một "thành phố trải nghiệm về đêm"

Hà Nội kiến tạo một "thành phố trải nghiệm về đêm"

Trong xu thế phát triển đô thị hiện đại, kinh tế đêm là một động lực mới góp phần mở rộng không gian tăng trưởng, gia tăng giá trị dịch vụ và nâng cao sức hấp dẫn của các thành phố lớn. Các hoạt động diễn ra vào ban đêm thúc đẩy mạnh mẽ các lĩnh vực du lịch, văn hóa, ẩm thực, giải trí, công nghiệp sáng tạo và thương mại, qua đó tạo thêm việc làm, tăng thu ngân sách và nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng đô thị.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) tập trung khắc phục những vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và tăng cường sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Hà Nội tiên phong xây dựng và triển khai Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa

Hà Nội tiên phong xây dựng và triển khai Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và định hướng phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô, ngày 05/8/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Đề án “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội” (Đề án), trong đó xác định phạm vi áp dụng trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội, triển khai tính toán Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa từ năm 2026, đánh giá hiệu quả, áp dụng ổn định từ năm 2027 và các năm tiếp theo.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được thông qua với tỷ lệ tán thành cao

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được thông qua với tỷ lệ tán thành cao

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất với nhiều điểm mới, trong đó chú trọng xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật thông qua các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mới, hiệu quả, có tính tương tác đa chiều, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo.
TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW

Lịch sử kiến tạo và phát triển của các quốc gia trên thế giới đều minh chứng: những giai đoạn hưng thịnh nhất, sự phát triển vượt bậc về kinh tế và vị thế địa chính trị luôn gắn liền với các giá trị văn hóa. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những biến động chưa từng có, sự cạnh tranh giữa các cường quốc không chỉ đơn thuần ở sức mạnh quân sự hay quy mô thương mại, mà chuyển dịch mạnh mẽ sang cạnh tranh về hệ giá trị, sức ảnh hưởng và sức mạnh của nền công nghiệp văn hóa. Nhận thức rõ thời cơ cũng như thách thức đó, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, một Đại hội mang tính bản lề đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Bộ Chính trị đã ban hành một quyết sách lịch sử: Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Cơ sở quan trọng thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Cơ sở quan trọng thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, với cách tiếp cận ngày càng gắn kết giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành, giữa ban hành văn bản với theo dõi, đánh giá hiệu quả thực thi; đồng thời góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” pháp lý, cải thiện môi trường pháp lý, đổi mới phương thức tiếp nhận phản ánh, phổ biến pháp luật và nâng cao ý thức tuân thủ trong xã hội.
Nghiên cứu các giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Nghiên cứu các giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp cho ý kiến về những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh cùng dự.
Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) không chỉ là dịp tri ân những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc, mà còn là cơ hội khẳng định giá trị bền vững của truyền thống biết ơn trong đời sống dân tộc. Trong tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc phát huy văn hóa tri ân càng có ý nghĩa trong xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam.
Con người Việt Nam trong dòng chảy văn hóa dân tộc (Kỳ 2)

Con người Việt Nam trong dòng chảy văn hóa dân tộc (Kỳ 2)

Giá trị lịch sử, văn hóa, truyền thống dân tộc đã tạo nên hệ giá trị con người Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương và sáng tạo) và giờ đây, những con người mang theo hệ giá trị ấy, với tư cách là chủ thể của văn hóa, đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của văn hóa, làm nên sức mạnh nội sinh của quốc gia, dân tộc.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: