Chủ nhật 16/08/2026 10:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.

Xuất phát từ những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong thực tiễn, đồng thời, triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật)[1] được xây dựng nhằm hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, khơi thông các nguồn lực và thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có sức cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Dự thảo Luật tập trung giải quyết những vấn đề then chốt thông qua 06 chính sách trụ cột[2]. Cụ thể:

Chính sách 1: Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa - kết nối các chủ thể trong toàn bộ chuỗi giá trị

Sự phát triển của công nghiệp văn hóa phụ thuộc rất lớn vào khả năng liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị. Một sản phẩm văn hóa muốn thành công cần sự tham gia của nhiều yếu tố, từ người sáng tạo, doanh nghiệp, nhà đầu tư, cơ sở đào tạo, tổ chức công nghệ đến các hiệp hội và cơ quan quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay còn tồn tại tình trạng thiếu kết nối, chia sẻ thông tin giữa các thành tố; chi phí và công cụ công nghệ phục vụ sáng tạo còn là rào cản đối với nhiều cá nhân, tổ chức; kỹ năng số và hạ tầng dữ liệu dùng chung chưa đáp ứng yêu cầu; trong khi pháp luật chưa phải lúc nào cũng theo kịp các mô hình kinh doanh và sản phẩm văn hóa mới dựa trên công nghệ.

Để khắc phục những hạn chế này, dự thảo Luật đề xuất xây dựng và củng cố hệ sinh thái công nghiệp văn hóa theo bốn hướng trọng tâm gồm: (i) Định hình toàn diện hệ sinh thái và thiết lập cơ chế đánh giá, liên kết chuỗi giá trị; (ii) Hỗ trợ toàn diện các hoạt động nền tảng của hệ sinh thái; (iii) Đầu tư bộ công cụ sáng tạo và cung cấp gói dịch vụ cơ bản miễn phí cho toàn dân; (iv) Thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho các mô hình văn hoá công nghệ mới.

Chính sách 2: Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa - động lực tăng trưởng quan trọng nhất của ngành công nghiệp văn hóa

Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là yếu tố đột phá tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất, tạo động lực tăng trưởng quan trọng nhất của công nghiệp văn hóa, có thể tạo ra nhiều sản phẩm phái sinh. Khác với các ngành sản xuất truyền thống dựa vào vốn hữu hình và tài nguyên thiên nhiên, giá trị gia tăng lớn nhất của ngành công nghiệp văn hóa nằm ở sự sáng tạo và tài sản trí tuệ. Một tài sản trí tuệ trong ngành văn hóa (như một kịch bản, một nhân vật hoạt hình, một bản ghi âm hay một trò chơi điện tử) có khả năng tạo ra vô số các sản phẩm phái sinh, mở rộng chuỗi giá trị và sinh lời liên tục qua nhiều năm.

Pháp luật hiện hành đã có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để quyền đó tiếp tục được phát triển thành giá trị kinh tế, trở thành tài sản có thể định giá, giao dịch và sử dụng để huy động vốn. Vì vậy, điểm then chốt của chính sách này là tháo gỡ triệt để các rào cản: Sự thiếu hụt công cụ quản lý và truy xuất vòng đời tài sản trên môi trường số; tình trạng thiếu hồ sơ chuẩn hóa phục vụ thương mại hóa; rào cản trong tiếp cận vốn tín dụng bằng tài sản trí tuệ; thiếu công cụ hỗ trợ bảo vệ quyền sáng tạo và sự bất cập về năng lực định giá tài sản trí tuệ.

Dự thảo Luật đề xuất bốn nhóm giải pháp gồm: (i) Số hóa, định danh và chuẩn hóa quản lý tài sản trí tuệ; (ii) Khai thông nguồn vốn và chính thức hóa giao dịch tài sản trí tuệ; (iii) Hỗ trợ công cụ quản lý sáng tạo và bảo hộ bản quyền; (iv) Nâng cao năng lực và bảo vệ pháp lý cho hoạt động định giá.

Chính sách 3: Nhân lực công nghiệp văn hóa - đầu tư cho nguồn lực quyết định sức sáng tạo và cạnh tranh của toàn ngành

Con người là yếu tố cốt lõi quyết định năng lực sáng tạo và sức cạnh tranh của công nghiệp văn hóa. Vì vậy, dự thảo Luật đặt trọng tâm vào việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng kết hợp giữa nghệ thuật, văn hóa, công nghệ và kinh doanh.

Chính sách này nhằm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn về: tiêu chuẩn nhà giáo; tính liên thông trong đào tạo; quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm đối với khu vực công; cơ chế đãi ngộ nhân lực chất lượng cao; cùng tình trạng phân tán nguồn lực đầu tư cho tài năng.

Lần đầu tiên, dự thảo Luật quy định việc xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa, phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các khung tham chiếu quốc tế, làm căn cứ chuẩn hóa toàn bộ hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực.

Trên cơ sở đó, dự thảo Luật đề xuất 03 nhóm giải pháp đột phá: (i) Đổi mới phát triển nhân lực trong hệ thống giáo dục quốc dân; (ii) Ươm mầm tài năng đỉnh cao; (iii) Thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao.

Chính sách 4: Hạ tầng công nghiệp văn hóa - tiền đề cho sự phát triển bền vững của ngành Công nghiệp văn hoá

Hạ tầng là điều kiện nền tảng để công nghiệp văn hóa phát triển. Nếu không có không gian sáng tạo, hạ tầng sản xuất, nền tảng số và dữ liệu dùng chung thì khó hình thành chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa hiện đại.

Hạ tầng công nghiệp văn hoá là khái niệm mới. Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam cụ thể hóa bởi Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 của Chính phủ về Hạ tầng văn hóa số và Nghị định số 282/2026/NĐ-CP ngày 14/7/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, đã đưa ra nhiều khái niệm liên quan hạ tầng công nghiệp văn hóa như: Tổ hợp, cụm, khu công nghiệp, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và hạ tầng văn hóa số.

Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, dự thảo Luật đưa ra khái niệm và cấu trúc tương đối toàn diện về hạ tầng công nghiệp văn hóa, gồm bốn nhóm thành phần: (i) Công trình hạ tầng công nghiệp văn hóa (công trình quốc gia và công trình cấp tỉnh); (ii) Tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; (iii) Không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; (iv) Hạ tầng văn hóa số.

Đối với hạ tầng văn hóa số, hạ tầng dữ liệu được xác định là cấu phần cốt lõi và chuẩn hoá các nền tảng số quan trọng, bao gồm: kho dữ liệu văn hóa số quốc gia; cơ sở dữ liệu về văn hóa; hệ thống nền tảng số, phần mềm, công cụ kỹ thuật phục vụ tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ, phân tích và khai thác dữ liệu văn hóa số, đồng thời hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Dự thảo Luật cũng đẩy mạnh phân cấp, trong đó giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp xã chủ động số hóa, thu thập và cập nhật dữ liệu văn hóa tại địa phương. Đặc biệt, dự thảo Luật thiết lập hệ thống các cơ chế, chính sách mang tính đột phá nhằm giải phóng tối đa nguồn lực và thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư xã hội.

Chính sách 5: Thị trường công nghiệp văn hóa - định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia

Thị trường là yếu tố quyết định sự thành công của công nghiệp văn hóa. Sản phẩm dù có giá trị sáng tạo cao nhưng nếu không tiếp cận được người tiêu dùng, không được định giá và không có khả năng lưu thông thì khó tạo ra giá trị kinh tế bền vững.

Điểm đặc trưng khác biệt của các ngành công nghiệp văn hóa so với các ngành công nghiệp khác là ngành công nghiệp văn hoá có thể huy động được toàn dân tham gia vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể tiêu thụ. Và nếu huy động được toàn dân thì các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ có bước phát triển đột phá.

Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường công nghiệp văn hóa đang đối mặt với nhiều rào cản lớn: Thiếu thước đo định lượng để phân bổ nguồn lực; năng lực quản trị, năng lực số và thương hiệu của doanh nghiệp còn hạn chế; thiếu hạ tầng giao dịch và định giá tài sản trí tuệ; chi phí tiếp cận sản phẩm văn hóa của các đối tượng chính sách còn cao; cùng các rào cản trong hoạt động xúc tiến thương mại và vươn ra thị trường quốc tế.

Để khắc phục hạn chế, điểm nghẽn trên và thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hoá Việt Nam phát triển bứt phá, dự thảo Luật đưa ra 05 nhóm giải pháp trọng tâm, cụ thể: (i) Chuẩn hóa và định hình sản phẩm công nghiệp văn hóa mũi nhọn; (ii) Nâng cao năng lực doanh nghiệp và phát triển Thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia; (iii) Khai thông hạ tầng giao dịch tài sản trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa; (iv) Thúc đẩy tiêu dùng văn hóa toàn dân qua công cụ số; (v) Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xuất khẩu văn hóa.

Chính sách 6: Tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư - khơi thông nguồn lực cho công nghiệp văn hóa

Điểm then chốt của chính sách này là tháo gỡ các điểm nghẽn lớn về nguồn lực, bao gồm: Sự phân tán và thiếu hụt các nguồn tài chính chuyên biệt cho văn hóa; rào cản trong việc huy động vốn tư nhân và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với doanh nghiệp; chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn đối với hạ tầng và các sản phẩm trọng điểm; rào cản về thuế, phí, tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sáng tạo; cùng sự thiếu vắng các chính sách để cạnh tranh quốc tế để thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có khả năng đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn ra toàn cầu.

Dự thảo Luật đề xuất 05 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tạo đột phá về cơ chế tài chính và ưu đãi đầu tư: (i) Đa dạng hóa nguồn tài chính và thiết lập cơ chế đồng đầu tư; (ii) Ưu đãi đặc biệt cho hạ tầng, tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo; (iii) Tạo đòn bẩy hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân sáng tạo; (iv) Ưu đãi vượt trội cho sản phẩm trọng điểm và tài sản trí tuệ cốt lõi; (v) Thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và khuyến khích cơ sở công cộng.

Như vậy, 06 chính sách được đề xuất trong dự thảo Luật có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một chỉnh thể từ hình thành hệ sinh thái, phát huy giá trị tài sản trí tuệ, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư hạ tầng, mở rộng thị trường đến huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính. Đây không chỉ là những chính sách hỗ trợ riêng lẻ mà hướng tới hình thành một môi trường pháp lý đồng bộ cho toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối, tiêu dùng và đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Dự thảo Luật có sự chuyển biến mạnh từ tư duy quản lý, hỗ trợ từng lĩnh vực sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa; đồng thời coi sáng tạo và tài sản trí tuệ là nguồn lực quan trọng, doanh nghiệp và người sáng tạo là chủ thể trung tâm, thị trường là động lực và hạ tầng là nền tảng của sự phát triển. Việc thiết lập các cơ chế về thử nghiệm có kiểm soát, số hóa và định danh tài sản trí tuệ, sử dụng tài sản trí tuệ để huy động vốn, phát triển các tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo, thúc đẩy tiêu dùng văn hóa và thiết lập cơ chế đồng đầu tư... được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển của ngành.

Dự thảo Luật sau khi được thông qua sẽ trở thành nền tảng pháp lý vững chắc để khơi thông nguồn lực, phát huy sức sáng tạo của người Việt Nam và nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa. Từ những giá trị văn hóa giàu bản sắc, Việt Nam có thể từng bước hình thành những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, có sức lan tỏa và vươn ra thị trường quốc tế./.


[1] Hiện, Hồ sơ dự án Luật đang được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để lấy ý kiến góp ý của toàn thể người dân, doanh nghiệp.

[2] Dự thảo Tờ trình của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đăng trên trang web https://bvhttdl.gov.vn/y-kien-cho-van-ban-du-thao?dtid=7735, truy cập ngày 12/8/2026.

QV

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.

Theo dõi chúng tôi trên: