Thứ tư 09/09/2026 01:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.

Xuất phát từ những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong thực tiễn, đồng thời, triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đề ra trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật)[1] được xây dựng nhằm hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, khơi thông các nguồn lực và thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, có sức cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Dự thảo Luật tập trung giải quyết những vấn đề then chốt thông qua 06 chính sách trụ cột[2]. Cụ thể:

Chính sách 1: Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa - kết nối các chủ thể trong toàn bộ chuỗi giá trị

Sự phát triển của công nghiệp văn hóa phụ thuộc rất lớn vào khả năng liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị. Một sản phẩm văn hóa muốn thành công cần sự tham gia của nhiều yếu tố, từ người sáng tạo, doanh nghiệp, nhà đầu tư, cơ sở đào tạo, tổ chức công nghệ đến các hiệp hội và cơ quan quản lý nhà nước.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay còn tồn tại tình trạng thiếu kết nối, chia sẻ thông tin giữa các thành tố; chi phí và công cụ công nghệ phục vụ sáng tạo còn là rào cản đối với nhiều cá nhân, tổ chức; kỹ năng số và hạ tầng dữ liệu dùng chung chưa đáp ứng yêu cầu; trong khi pháp luật chưa phải lúc nào cũng theo kịp các mô hình kinh doanh và sản phẩm văn hóa mới dựa trên công nghệ.

Để khắc phục những hạn chế này, dự thảo Luật đề xuất xây dựng và củng cố hệ sinh thái công nghiệp văn hóa theo bốn hướng trọng tâm gồm: (i) Định hình toàn diện hệ sinh thái và thiết lập cơ chế đánh giá, liên kết chuỗi giá trị; (ii) Hỗ trợ toàn diện các hoạt động nền tảng của hệ sinh thái; (iii) Đầu tư bộ công cụ sáng tạo và cung cấp gói dịch vụ cơ bản miễn phí cho toàn dân; (iv) Thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho các mô hình văn hoá công nghệ mới.

Chính sách 2: Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa - động lực tăng trưởng quan trọng nhất của ngành công nghiệp văn hóa

Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là yếu tố đột phá tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất, tạo động lực tăng trưởng quan trọng nhất của công nghiệp văn hóa, có thể tạo ra nhiều sản phẩm phái sinh. Khác với các ngành sản xuất truyền thống dựa vào vốn hữu hình và tài nguyên thiên nhiên, giá trị gia tăng lớn nhất của ngành công nghiệp văn hóa nằm ở sự sáng tạo và tài sản trí tuệ. Một tài sản trí tuệ trong ngành văn hóa (như một kịch bản, một nhân vật hoạt hình, một bản ghi âm hay một trò chơi điện tử) có khả năng tạo ra vô số các sản phẩm phái sinh, mở rộng chuỗi giá trị và sinh lời liên tục qua nhiều năm.

Pháp luật hiện hành đã có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tương đối đầy đủ. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để quyền đó tiếp tục được phát triển thành giá trị kinh tế, trở thành tài sản có thể định giá, giao dịch và sử dụng để huy động vốn. Vì vậy, điểm then chốt của chính sách này là tháo gỡ triệt để các rào cản: Sự thiếu hụt công cụ quản lý và truy xuất vòng đời tài sản trên môi trường số; tình trạng thiếu hồ sơ chuẩn hóa phục vụ thương mại hóa; rào cản trong tiếp cận vốn tín dụng bằng tài sản trí tuệ; thiếu công cụ hỗ trợ bảo vệ quyền sáng tạo và sự bất cập về năng lực định giá tài sản trí tuệ.

Dự thảo Luật đề xuất bốn nhóm giải pháp gồm: (i) Số hóa, định danh và chuẩn hóa quản lý tài sản trí tuệ; (ii) Khai thông nguồn vốn và chính thức hóa giao dịch tài sản trí tuệ; (iii) Hỗ trợ công cụ quản lý sáng tạo và bảo hộ bản quyền; (iv) Nâng cao năng lực và bảo vệ pháp lý cho hoạt động định giá.

Chính sách 3: Nhân lực công nghiệp văn hóa - đầu tư cho nguồn lực quyết định sức sáng tạo và cạnh tranh của toàn ngành

Con người là yếu tố cốt lõi quyết định năng lực sáng tạo và sức cạnh tranh của công nghiệp văn hóa. Vì vậy, dự thảo Luật đặt trọng tâm vào việc hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng kết hợp giữa nghệ thuật, văn hóa, công nghệ và kinh doanh.

Chính sách này nhằm tháo gỡ triệt để các điểm nghẽn về: tiêu chuẩn nhà giáo; tính liên thông trong đào tạo; quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm đối với khu vực công; cơ chế đãi ngộ nhân lực chất lượng cao; cùng tình trạng phân tán nguồn lực đầu tư cho tài năng.

Lần đầu tiên, dự thảo Luật quy định việc xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa, phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các khung tham chiếu quốc tế, làm căn cứ chuẩn hóa toàn bộ hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực.

Trên cơ sở đó, dự thảo Luật đề xuất 03 nhóm giải pháp đột phá: (i) Đổi mới phát triển nhân lực trong hệ thống giáo dục quốc dân; (ii) Ươm mầm tài năng đỉnh cao; (iii) Thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao.

Chính sách 4: Hạ tầng công nghiệp văn hóa - tiền đề cho sự phát triển bền vững của ngành Công nghiệp văn hoá

Hạ tầng là điều kiện nền tảng để công nghiệp văn hóa phát triển. Nếu không có không gian sáng tạo, hạ tầng sản xuất, nền tảng số và dữ liệu dùng chung thì khó hình thành chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa hiện đại.

Hạ tầng công nghiệp văn hoá là khái niệm mới. Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam cụ thể hóa bởi Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 của Chính phủ về Hạ tầng văn hóa số và Nghị định số 282/2026/NĐ-CP ngày 14/7/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, đã đưa ra nhiều khái niệm liên quan hạ tầng công nghiệp văn hóa như: Tổ hợp, cụm, khu công nghiệp, trung tâm đổi mới sáng tạo văn hóa và hạ tầng văn hóa số.

Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, dự thảo Luật đưa ra khái niệm và cấu trúc tương đối toàn diện về hạ tầng công nghiệp văn hóa, gồm bốn nhóm thành phần: (i) Công trình hạ tầng công nghiệp văn hóa (công trình quốc gia và công trình cấp tỉnh); (ii) Tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; (iii) Không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; (iv) Hạ tầng văn hóa số.

Đối với hạ tầng văn hóa số, hạ tầng dữ liệu được xác định là cấu phần cốt lõi và chuẩn hoá các nền tảng số quan trọng, bao gồm: kho dữ liệu văn hóa số quốc gia; cơ sở dữ liệu về văn hóa; hệ thống nền tảng số, phần mềm, công cụ kỹ thuật phục vụ tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ, phân tích và khai thác dữ liệu văn hóa số, đồng thời hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Dự thảo Luật cũng đẩy mạnh phân cấp, trong đó giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp xã chủ động số hóa, thu thập và cập nhật dữ liệu văn hóa tại địa phương. Đặc biệt, dự thảo Luật thiết lập hệ thống các cơ chế, chính sách mang tính đột phá nhằm giải phóng tối đa nguồn lực và thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư xã hội.

Chính sách 5: Thị trường công nghiệp văn hóa - định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia

Thị trường là yếu tố quyết định sự thành công của công nghiệp văn hóa. Sản phẩm dù có giá trị sáng tạo cao nhưng nếu không tiếp cận được người tiêu dùng, không được định giá và không có khả năng lưu thông thì khó tạo ra giá trị kinh tế bền vững.

Điểm đặc trưng khác biệt của các ngành công nghiệp văn hóa so với các ngành công nghiệp khác là ngành công nghiệp văn hoá có thể huy động được toàn dân tham gia vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là chủ thể tiêu thụ. Và nếu huy động được toàn dân thì các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ có bước phát triển đột phá.

Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường công nghiệp văn hóa đang đối mặt với nhiều rào cản lớn: Thiếu thước đo định lượng để phân bổ nguồn lực; năng lực quản trị, năng lực số và thương hiệu của doanh nghiệp còn hạn chế; thiếu hạ tầng giao dịch và định giá tài sản trí tuệ; chi phí tiếp cận sản phẩm văn hóa của các đối tượng chính sách còn cao; cùng các rào cản trong hoạt động xúc tiến thương mại và vươn ra thị trường quốc tế.

Để khắc phục hạn chế, điểm nghẽn trên và thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hoá Việt Nam phát triển bứt phá, dự thảo Luật đưa ra 05 nhóm giải pháp trọng tâm, cụ thể: (i) Chuẩn hóa và định hình sản phẩm công nghiệp văn hóa mũi nhọn; (ii) Nâng cao năng lực doanh nghiệp và phát triển Thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia; (iii) Khai thông hạ tầng giao dịch tài sản trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa; (iv) Thúc đẩy tiêu dùng văn hóa toàn dân qua công cụ số; (v) Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xuất khẩu văn hóa.

Chính sách 6: Tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư - khơi thông nguồn lực cho công nghiệp văn hóa

Điểm then chốt của chính sách này là tháo gỡ các điểm nghẽn lớn về nguồn lực, bao gồm: Sự phân tán và thiếu hụt các nguồn tài chính chuyên biệt cho văn hóa; rào cản trong việc huy động vốn tư nhân và cơ chế chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với doanh nghiệp; chính sách ưu đãi đầu tư chưa đủ sức hấp dẫn đối với hạ tầng và các sản phẩm trọng điểm; rào cản về thuế, phí, tín dụng đối với các doanh nghiệp nhỏ, hợp tác xã và hộ sáng tạo; cùng sự thiếu vắng các chính sách để cạnh tranh quốc tế để thu hút các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có khả năng đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam vươn ra toàn cầu.

Dự thảo Luật đề xuất 05 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm tạo đột phá về cơ chế tài chính và ưu đãi đầu tư: (i) Đa dạng hóa nguồn tài chính và thiết lập cơ chế đồng đầu tư; (ii) Ưu đãi đặc biệt cho hạ tầng, tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo; (iii) Tạo đòn bẩy hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân sáng tạo; (iv) Ưu đãi vượt trội cho sản phẩm trọng điểm và tài sản trí tuệ cốt lõi; (v) Thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và khuyến khích cơ sở công cộng.

Như vậy, 06 chính sách được đề xuất trong dự thảo Luật có mối liên hệ chặt chẽ, tạo thành một chỉnh thể từ hình thành hệ sinh thái, phát huy giá trị tài sản trí tuệ, phát triển nguồn nhân lực, đầu tư hạ tầng, mở rộng thị trường đến huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính. Đây không chỉ là những chính sách hỗ trợ riêng lẻ mà hướng tới hình thành một môi trường pháp lý đồng bộ cho toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, từ sáng tạo, sản xuất đến phân phối, tiêu dùng và đưa sản phẩm văn hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế.

Dự thảo Luật có sự chuyển biến mạnh từ tư duy quản lý, hỗ trợ từng lĩnh vực sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển công nghiệp văn hóa; đồng thời coi sáng tạo và tài sản trí tuệ là nguồn lực quan trọng, doanh nghiệp và người sáng tạo là chủ thể trung tâm, thị trường là động lực và hạ tầng là nền tảng của sự phát triển. Việc thiết lập các cơ chế về thử nghiệm có kiểm soát, số hóa và định danh tài sản trí tuệ, sử dụng tài sản trí tuệ để huy động vốn, phát triển các tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo, thúc đẩy tiêu dùng văn hóa và thiết lập cơ chế đồng đầu tư... được kỳ vọng sẽ góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển của ngành.

Dự thảo Luật sau khi được thông qua sẽ trở thành nền tảng pháp lý vững chắc để khơi thông nguồn lực, phát huy sức sáng tạo của người Việt Nam và nâng cao năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa. Từ những giá trị văn hóa giàu bản sắc, Việt Nam có thể từng bước hình thành những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, có sức lan tỏa và vươn ra thị trường quốc tế./.


[1] Hiện, Hồ sơ dự án Luật đang được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để lấy ý kiến góp ý của toàn thể người dân, doanh nghiệp.

[2] Dự thảo Tờ trình của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đăng trên trang web https://bvhttdl.gov.vn/y-kien-cho-van-ban-du-thao?dtid=7735, truy cập ngày 12/8/2026.

QV

Tin bài có thể bạn quan tâm

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Hà Nội kiến tạo một "thành phố trải nghiệm về đêm"

Hà Nội kiến tạo một "thành phố trải nghiệm về đêm"

Trong xu thế phát triển đô thị hiện đại, kinh tế đêm là một động lực mới góp phần mở rộng không gian tăng trưởng, gia tăng giá trị dịch vụ và nâng cao sức hấp dẫn của các thành phố lớn. Các hoạt động diễn ra vào ban đêm thúc đẩy mạnh mẽ các lĩnh vực du lịch, văn hóa, ẩm thực, giải trí, công nghiệp sáng tạo và thương mại, qua đó tạo thêm việc làm, tăng thu ngân sách và nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng đô thị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) tập trung khắc phục những vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và tăng cường sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Hà Nội tiên phong xây dựng và triển khai Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa

Hà Nội tiên phong xây dựng và triển khai Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và định hướng phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô, ngày 05/8/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Đề án “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội” (Đề án), trong đó xác định phạm vi áp dụng trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội, triển khai tính toán Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa từ năm 2026, đánh giá hiệu quả, áp dụng ổn định từ năm 2027 và các năm tiếp theo.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được thông qua với tỷ lệ tán thành cao

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được thông qua với tỷ lệ tán thành cao

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất với nhiều điểm mới, trong đó chú trọng xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật thông qua các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mới, hiệu quả, có tính tương tác đa chiều, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo.
TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW

Lịch sử kiến tạo và phát triển của các quốc gia trên thế giới đều minh chứng: những giai đoạn hưng thịnh nhất, sự phát triển vượt bậc về kinh tế và vị thế địa chính trị luôn gắn liền với các giá trị văn hóa. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những biến động chưa từng có, sự cạnh tranh giữa các cường quốc không chỉ đơn thuần ở sức mạnh quân sự hay quy mô thương mại, mà chuyển dịch mạnh mẽ sang cạnh tranh về hệ giá trị, sức ảnh hưởng và sức mạnh của nền công nghiệp văn hóa. Nhận thức rõ thời cơ cũng như thách thức đó, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, một Đại hội mang tính bản lề đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Bộ Chính trị đã ban hành một quyết sách lịch sử: Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Cơ sở quan trọng thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Cơ sở quan trọng thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, với cách tiếp cận ngày càng gắn kết giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành, giữa ban hành văn bản với theo dõi, đánh giá hiệu quả thực thi; đồng thời góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” pháp lý, cải thiện môi trường pháp lý, đổi mới phương thức tiếp nhận phản ánh, phổ biến pháp luật và nâng cao ý thức tuân thủ trong xã hội.
Nghiên cứu các giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Nghiên cứu các giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp cho ý kiến về những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh cùng dự.
Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) không chỉ là dịp tri ân những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc, mà còn là cơ hội khẳng định giá trị bền vững của truyền thống biết ơn trong đời sống dân tộc. Trong tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc phát huy văn hóa tri ân càng có ý nghĩa trong xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.

Theo dõi chúng tôi trên: