Thứ ba 29/09/2026 05:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật chuyển từ tuân thủ mang tính bắt buộc sang tự giác và có tính lan tỏa trong xã hội

"Văn hóa tuân thủ pháp luật" là một hiện tượng xã hội - pháp lý mang tính phức hợp, gồm nhiều thành tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau như: Nhận thức pháp luật; thái độ tôn trọng pháp luật; hành vi tuân thủ pháp luật; sự gắn kết hài hòa giữa pháp luật và đạo đức xã hội; môi trường pháp lý và thể chế xã hội…
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật chuyển từ tuân thủ mang tính bắt buộc sang tự giác và có tính lan tỏa trong xã hội
Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ sự cần thiết xây dựng Đề án trên cả ba phương diện về cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn

Ngày 10/4, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc chủ trì cuộc họp Tổ Soạn thảo Đề án “Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật” (Đề án). Cùng dự có Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp) Cù Thu Anh; Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý (Bộ Tư pháp) Phan Hồng Nguyên cùng các thành viên của Tổ Soạn thảo.

Trình bày một số nội dung của dự thảo Đề cương Đề án, Phó Cục trưởng Phan Hồng Nguyên nhấn mạnh, “văn hóa tuân thủ pháp luật” là thuật ngữ được đề cập lần đầu tiên tại Thông báo số 108-KL/TW ngày 18/11/2024 của Văn phòng Trung ương Đảng về Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp và được nhấn mạnh lại trong Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đây là một hiện tượng xã hội - pháp lý mang tính phức hợp, gồm nhiều thành tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau như: Nhận thức pháp luật; thái độ tôn trọng pháp luật; hành vi tuân thủ pháp luật; sự gắn kết hài hòa giữa pháp luật và đạo đức xã hội; môi trường pháp lý và thể chế xã hội…

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật chuyển từ tuân thủ mang tính bắt buộc sang tự giác và có tính lan tỏa trong xã hội
Phó Cục trưởng Phan Hồng Nguyên nhấn mạnh, “văn hóa tuân thủ pháp luật” là một hiện tượng xã hội – pháp lý mang tính phức hợp, gồm nhiều thành tố có mối quan hệ hữu cơ với nhau

Bên cạnh đó, Phó Cục trưởng cho biết, Đề án được thực hiện theo 02 giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 2027 - 2028; giai đoạn 2 từ năm 2029 - 2030 và tập trung vào 05 nhiệm vụ, cụ thể: (i) Nâng cao nhận thức của cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị và các tổ chức, cá nhân về ý nghĩa, mục đích, tầm quan trọng của pháp luật và việc văn hóa tuân thủ pháp luật trước yêu cầu và bối cảnh mới; (ii) Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy văn hóa tuân thủ pháp luật; (iii) Đổi mới và tăng cường công tác truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm đưa chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống kịp thời, hiệu quả; (iv) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; (v) Tăng cường, lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật, thượng tôn pháp luật trong các hoạt động, phong trào, cuộc thi về văn hóa, thể thao, du lịch; (vi) Tăng cường trao đổi, học tập kinh nghiệm trong nước và nước ngoài; (vii) Tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện Đề án.

Góp ý về nội hàm thuật ngữ “văn hóa tuân thủ pháp luật”, một số đại biểu bày tỏ sự đồng tình với cách diễn đạt do cơ quan chủ trì soạn thảo trình bày. Tuy nhiên, để nội hàm của thuật ngữ thực sự chính xác và có khả năng áp dụng trong thực tiễn, Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn từng thành tố cấu thành. Việc này không chỉ góp phần hoàn thiện về mặt lý luận mà còn tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức triển khai trong thời gian tới.

Đại biểu trao đổi tại cuộc họp

Đồng thời, có đại biểu lưu ý, kỹ thuật diễn đạt trong phần mô tả nội hàm của thuật ngữ “văn hóa tuân thủ pháp luật” còn trùng lặp về từ ngữ, như việc lặp lại cụm từ “tự giác”. Trong quá trình hoàn thiện Đề án, Cục cần rà soát kỹ để bảo đảm tính chuẩn xác, chặt chẽ và tránh trùng lặp không cần thiết, qua đó nâng cao chất lượng và tính chuẩn mực của khái niệm.

Ngoài ra, một số đại biểu cho rằng cần đặc biệt chú trọng, nâng cao nhận thức về văn hóa tuân thủ pháp luật gắn liền với văn hóa công vụ. Đây không chỉ là yêu cầu mang tính định hướng mà còn là nhiệm vụ cốt lõi, then chốt đối với toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy nhà nước. Theo đó, từ cấp lãnh đạo đến các cá nhân đều phải nâng cao ý thức, trách nhiệm trong thực thi công vụ, bảo đảm tuân thủ pháp luật một cách nghiêm túc, qua đó góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, kỷ cương và hiệu quả.

Nhấn mạnh vai trò của các tổ chức nghề nghiệp như hội luật sư và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý, có ý kiến cho rằng, cần phải có cơ chế tăng cường phối hợp chặt chẽ với các tổ chức này trong quá trình triển khai thực hiện Đề án, góp phần nâng cao hiệu quả đạt được các mục tiêu đề ra.

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật chuyển từ tuân thủ mang tính bắt buộc sang tự giác và có tính lan tỏa trong xã hội
Toàn cảnh cuộc họp

Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc thống nhất định hướng bố cục đề cương Đề án. Ngoài ra, cơ quan chủ trì soạn thảo cần làm rõ sự cần thiết xây dựng Đề án trên cả ba phương diện: Cơ sở chính trị, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn; phải đánh giá đầy đủ thực trạng tuân thủ pháp luật hiện nay, chỉ ra những kết quả đạt được cũng như hạn chế, đồng thời phân tích yêu cầu đặt ra trong bối cảnh mới, nhất là trong kỷ nguyên phát triển hiện nay.

Về khái niệm, vai trò, cấu trúc và các yếu tố tác động đến văn hóa tuân thủ pháp luật, Thứ trưởng yêu cầu làm rõ theo hướng vừa bảo đảm tính học thuật, vừa gắn với thực tiễn, cụ thể, cơ quan chủ trì soạn thảo cần xác định đồng thời hai cách tiếp cận về khái niệm gồm: (i) Khái niệm theo nghĩa rộng phục vụ nghiên cứu; (ii) Khái niệm theo nghĩa hẹp, dễ tiếp cận, giúp người dân nhận diện và thực hiện. Nội hàm văn hóa tuân thủ pháp luật cần được cụ thể hóa qua bốn yếu tố cơ bản: Nhận thức, hành vi, ứng xử và lan tỏa, trong đó nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ tuân thủ mang tính bắt buộc sang tự giác và có tính lan tỏa trong xã hội.

Đối với nhóm nhiệm vụ, giải pháp, Thứ trưởng nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ các nhóm nhiệm vụ trọng tâm và cần ưu tiên hoàn thiện thể chế, pháp luật, xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá cụ thể, nâng cao tính gương mẫu của đội ngũ cán bộ, công chức và đổi mới nhận thức trong toàn xã hội.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Bộ Tư pháp công bố 22 thủ tục hành chính trong lĩnh vực giám định tư pháp

Bộ Tư pháp công bố 22 thủ tục hành chính trong lĩnh vực giám định tư pháp

Ngày 03/9/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ra Quyết định số 1998/QĐ-BTP về việc công bố thủ tục hành chính mới ban hành; thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung; thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực giám định tư pháp thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tư pháp. Những thủ tục hành chính được công bố nhằm phù hợp với căn cứ pháp lý mới về giám định tư pháp.
Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Những điểm mới quan trọng của Luật Trợ giúp pháp lý, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14, tập trung mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý, hoàn thiện tổ chức và đội ngũ thực hiện trợ giúp pháp lý, đơn giản hóa cơ chế thụ lý vụ việc, tăng cường phối hợp trong hoạt động tố tụng và đẩy mạnh chuyển đổi số.
03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

03 điểm mới về trợ giúp viên pháp lý

Nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và hiệu quả cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2026 đã hoàn thiện một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm trợ giúp pháp lý, cấp thẻ, cấp lại, miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý. Cụ thể:
Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Hoàn thiện hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất trong việc triển khai thí điểm chế định luật sư công

Ngày 21/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công; trong đó quy định cụ thể các nội dung liên quan đến đào tạo nghề luật sư, gia nhập Đoàn Luật sư, cấp Thẻ cho luật sư công, lập danh sách luật sư công, bồi dưỡng, quản lý, xử lý vi phạm và giải quyết tố cáo đối với luật sư công.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Bộ Tư pháp khẩn trương triển khai thí điểm chế định luật sư công

Bộ Tư pháp khẩn trương triển khai thí điểm chế định luật sư công

Chiều ngày 24/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì cuộc họp với các đơn vị thuộc Bộ nhằm triển khai Nghị quyết số 24/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công và Quyết định số 955/QĐ-TTg ngày 28/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Nghị quyết.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Hoàn thiện cơ chế quản lý thuốc, thiết bị y tế theo hướng chặt chẽ, khả thi

Chiều 21/9, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định bổ sung dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trẻ em, Luật Người khuyết tật, Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược, Luật Người cao tuổi và Luật Bảo hiểm y tế. Tham dự cuộc họp có Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cùng đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp. Tại cuộc họp, Hội đồng tập trung trao đổi, góp ý đối với các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Luật Dược.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Đổi mới Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật trong kỷ nguyên số

Ngày 18/9, ông Nguyễn Duy Thắng, Phó Cục trưởng Cục Kiểm tra văn bản và Tổ chức thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp chủ trì Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 52/2015/NĐ-CP về cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các đơn vị có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: