Thứ sáu 24/04/2026 08:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những điểm mới cơ bản trong dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi)

Dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) được Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch soạn thảo, đã gửi Bộ Tư pháp thẩm định, trong đó có nhiều quy định mới, quan trọng, trực tiếp điều chỉnh đến hoạt động của các cơ quan báo chí và công tác quản lý nhà nước về báo chí.

Bổ sung quy định hoạt động báo chí trên không gian mạng

Theo quy định tại dự thảo Luật, báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống tự nhiên và xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ (đối với báo chí in) và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo chí in, báo chí điện tử, báo chí nói, báo chí hình, kênh nội dung của cơ quan báo chí trên không gian mạng; hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, sản phẩm báo chí, sản phẩm thông tin có tính chất báo chí; cung cấp thông tin và phản hồi thông tin cho báo chí; cải chính thông tin trên báo chí; xuất bản, in, phát hành báo chí in; truyền dẫn báo chí điện tử và truyền dẫn, phát sóng báo chí nói, báo chí hình; xuất bản báo chí trên không gian mạng.

So với Luật Báo chí hiện hành, dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) đã bổ sung khái niệm, quy định về hoạt động báo chí trên không gian gian mạng. Theo đó, kênh nội dung của cơ quan báo chí trên không gian mạng là kênh thông tin do cơ quan báo chí thiết lập trên một mạng xã hội để cung cấp, truyền đưa, thu thập, trao đổi, chia sẻ thông tin, kết nối cộng đồng người sử dụng mạng xã hội, có dấu hiệu nhận biết thống nhất khi thiết lập trên các mạng xã hội khác nhau. Hoạt động trên không gian mạng của cơ quan báo chí phải tuân thủ quy định pháp luật về báo chí, về an ninh mạng, quy định về tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí và phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Dự thảo Luật cũng quy định Nhà nước đầu tư công cụ số để thực hiện giám sát hoạt động báo chí trên không gian mạng phục vụ công tác quản lý báo chí; thúc đẩy hình thành và phát triển các nền tảng số quốc gia cho báo chí; đầu tư và đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ đối với nền tảng số quốc gia cho báo chí. Nền tảng số báo chí ngoài đăng nội dung báo chí còn được tích hợp hoạt động dịch vụ trực tuyến theo quy định của pháp luật.

Trang thông tin điện tử tổng hợp, mạng xã hội sử dụng tin/bài của cơ quan báo chí phải có thỏa thuận với cơ quan báo chí. Việc thiết lập trang thông tin điện tử tổng hợp, cung cấp dịch vụ mạng xã hội của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Chính phủ

Cơ quan báo chí khi hoạt động báo chí trên không gian mạng chịu trách nhiệm về nội dung, bản quyền khi đăng, phát thông tin lên không không gian mạng; đưa thông tin lên kênh nội dung của cơ quan báo chí trên không gian mạng trước hoặc sau khi cập nhật thông tin trên báo chí và lưu giữ nội dung đó trên hệ thống máy chủ của cơ quan báo chí theo quy định của Luật này về lưu chiểu báo chí điện tử; thực hiện đăng ký/thông báo với cơ quan quản lý nhà nước về báo chí khi mở các kênh nội dung trên không gian mạng; phải thực hiện kết nối trực tuyến với hệ thống của cơ quan quản lý nhà nước về báo chí để đo kiểm xu hướng thông tin trên không gian mạng theo quy định của Chính phủ.

Thực tế hoạt động báo chí trên không gian mạng đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua. Quy định hiện hành chỉ điều chỉnh các phương thức hoạt động báo chí truyền thống, thiếu quy định về phương thức hoạt động báo chí mới. Với xu thế phát triển của công nghệ, nền tảng số, mạng xã hội trở thành phương tiện có tiềm năng lớn trong việc truyền tải thông tin trên không gian mạng. Do đó, việc các cơ quan báo chí có kênh nội dung trên không gian mạng là một xu thế tất yếu của quá trình chuyển đổi số báo chí để lan tỏa nội dung báo chí đến người đọc theo những phương thức mới, khai thác nguồn thu quảng cáo số từ phương thức này. Theo quy định của Luật Báo chí 2016, cơ quan quản lý nhà nước không quản lý hoạt động và nội dung báo chí trên không gian mạng. Chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí cũng không áp dụng đối với hoạt động báo chí trên không gian mạng.

Với xu thế phát triển của công nghệ, nền tảng số, mạng xã hội trở thành phương tiện có tiềm năng lớn trong việc truyền tải thông tin trên không gian mạng. Do đó, việc các cơ quan báo chí có kênh nội dung trên không gian mạng là một xu thế tất yếu của quá trình chuyển đổi số báo chí để lan tỏa nội dung báo chí đến người đọc theo những phương thức mới, khai thác nguồn thu quảng cáo số từ phương thức này.

Bổ sung khái niệm tạp chí để phân biệt rõ báo, tạp chí

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chưa có khái niệm cụ thể về tạp chí, từ đó chưa phân biệt rõ ranh giới giữa báo và tạp chí, dẫn tới việc hoạt động chưa được rõ ràng. Do đó, trong lần sửa đổi này, dự thảo Luật đã bổ sung khái niệm tạp chí, theo đó, “Tạp chí là sản phẩm báo chí đăng tải tin, bài có tính chất chuyên biệt, chuyên ngành, trao đổi, hướng dẫn nghiệp vụ theo tôn chỉ, mục đích quy định trong giấy phép; chỉ cập nhật tin tức, sự kiện về hoạt động của cơ quan chủ quản, bao gồm tạp chí in và tạp chí điện tử”.

Bổ sung quy định về Tổ hợp báo chí truyền thông chủ lực đa phương tiện và Tổ hợp báo chí của địa phương

Luật Báo chí năm 2016 chưa có quy định để hình thành, phát triển cơ quan báo chí lớn, có đủ nguồn lực, đóng vai trò dẫn dắt, định hướng thông tin. Hiện nay, ở nước ta, đã có Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) và Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) được tổ chức theo mô hình tổ hợp báo chí, bao gồm một cơ quan báo chí chủ quản (VOV, VTV, TTXVN) có phát hành các sản phẩm báo chí và các cơ quan báo chí trực thuộc (Báo điện tử VOV, Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC, Thời báo VTV, Báo điện tử Vietnam+, Báo Thể thao và văn hóa, Báo Tin tức, Báo Việt Nam News). Ở cấp địa phương đã hình thành mô hình cơ quan báo chí hợp nhất (như: Trung tâm Truyền thông tỉnh Quảng Ninh hoặc Đài Phát thanh - Truyền hình và Báo Bình Phước) hội tụ cả bốn loại hình báo chí. Điều 14 Luật Báo chí 2016 quy định đối tượng được thành lập cơ quan báo chí chưa quy định rõ cơ quan báo chí có được phép trực thuộc một cơ quan báo chí khác, dẫn tới khó khăn trong việc triển khai mô hình Tổ hợp báo chí truyền thông.

Dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) quy định, Tổ hợp báo chí truyền thông chủ lực đa phương tiện là mô hình hoạt động của cơ quan báo chí có nhiều loại hình báo chí, có các cơ quan báo chí trực thuộc, doanh nghiệp trực thuộc hoặc góp vốn tại doanh nghiệp, có vai trò nòng cốt định hướng dư luận xã hội, được có cơ chế đặc thù về tài chính, lao động, tiền lương như doanh nghiệp. Tổ hợp báo chí của địa phương là mô hình hoạt động của cơ quan báo chí địa phương có nhiều loại hình báo chí, có các cơ quan báo chí trực thuộc, có vai trò nòng cốt định hướng dư luận xã hội tại địa phương.

Đối tượng hoạt động theo mô hình Tổ hợp báo chí truyền thông chủ lực đa phương tiện phù hợp với Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở báo chí, phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử, cơ sở xuất bản được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chính phủ quy định chi tiết cơ chế đặc thù tài chính, lao động, tiền lương của Tổ hợp báo chí truyền thông chủ lực đa phương tiện; mô hình hoạt động Tổ hợp báo chí của địa phương.

Người đứng đầu Tổ hợp báo chí truyền thông chủ lực đa phương tiện là Tổng Giám đốc. Người đứng đầu Tổ hợp báo chí của địa phương là Giám đốc.

Cấp phó của người đứng đầu cơ quan báo chí là Phó Tổng biên tập (đối với báo chí in, báo chí điện tử), là Phó Tổng Giám đốc hoặc Phó Giám đốc (đối với báo chí nói, báo chí hình). Cấp phó của người đứng đầu Tổ hợp báo chí truyền thông chủ lực đa phương tiện là Phó Tổng Giám đốc. Cấp phó của người đứng đầu Tổ hợp báo chí của địa phương là Phó Giám đốc.

Cấp phó của người đứng đầu Tổ hợp báo chí truyền thông chủ lực đa phương tiện là Phó Tổng Giám đốc. Cấp phó của người đứng đầu Tổ hợp báo chí của địa phương là Phó Giám đốc.

Người được giao thực hiện nhiệm vụ của người đứng đầu là cấp phó người đứng đầu cơ quan báo chí hoặc cấp phó người đứng đầu cơ quan chủ quản được giao nhiệm vụ phụ trách cơ quan báo chí

Lãnh đạo Tổ hợp báo chí truyền thông chủ lực đa phương tiện, Tổ hợp báo chí của địa phương được kiêm nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo một hoặc các cơ quan báo chí trực thuộc.

Quy định đầy đủ các phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu, phù hợp với thực tiễn

Luật Báo chí năm 2016 chưa quy định đầy đủ phương thức Nhà nước đảm bảo kinh phí cơ quan báo chí thực hiện công tác tuyên truyền (giao nhiệm vụ, đấu thầu). Khoản 3 Điều 5 Luật Báo chí năm 2016 quy định Nhà nước “đặt hàng” báo chí, trong khi đó theo quy định hiện pháp luật hành có cả phương thức giao nhiệm vụ, đấu thầu. Để khắc phục tình trạng này, dự thảo Luật đã bổ sung, quy định đầy đủ các phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu, phù hợp với thực tiễn.

Theo đó, dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) bổ sung chính sách quản lý nhà nước về báo chí: Giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu và hỗ trợ cước vận chuyển báo chí để báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, văn hóa, thông tin tuyên truyền về tình trạng khẩn cấp, thông tin đối ngoại, truyền thông chính sách, phục vụ thiếu niên, nhi đồng, người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo và các nhiệm vụ trọng yếu khác.

Bổ sung nguồn thu của cơ quan báo chí

Luật Báo chí năm 2016 quy định về loại hình hoạt động và nguồn thu của cơ quan báo chí: (i) Nguồn thu do cơ quan chủ quản báo chí cấp; (ii) Thu từ bán báo, bán quyền xem các sản phẩm báo chí, quảng cáo, trao đổi, mua bán bản quyền nội dung; (iii) Thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, các đơn vị trực thuộc cơ quan báo chí; (iv) Nguồn thu từ tài trợ hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước.

Ngoài các nguồn thu trên, dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) đã bổ sung các nguồn thu của cơ quan báo chí, gồm có: (i) Thu từ lợi nhuận phần vốn góp trong các doanh nghiệp; (ii) Thu từ thực hiện các nội dung cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu; (ii) Thu từ người có nhu cầu đăng bài nghiên cứu khoa học để có kinh phí phản biện, hoàn thiện, nâng cao chất lượng bài viết.

Luật Báo chí 2016 chưa có quy định về việc các tạp chí khoa học thu tiền của người có nhu cầu đăng bài nghiên cứu khoa học, dẫn đến có khó khăn về kinh phí để thực hiện phản biện, nâng cao chất lượng bài viết khoa học, tạo nguồn thu cho hoạt động báo chí.

Bổ sung quy định quản lý phóng viên, biên tập viên chưa được cấp thẻ nhà báo

Khi hoạt động nghiệp vụ báo chí, nhà báo xuất trình thẻ nhà báo. Luật Báo chí 2016 chỉ quy định quyền và nghĩa vụ của nhà báo, thiếu quy định về hoạt động nghiệp vụ báo chí của những người chưa được cấp thẻ nhà báo. Để được cấp thẻ nhà báo cần đảm bảo các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định; trên thực tế, có những người làm tại cơ quan báo chí có hoạt động nghiệp vụ nhưng chưa được cấp thẻ nhà báo nhưng Luật chưa quy định quyền, nghĩa vụ cũng như cách thức tác nghiệp báo chí của những người này.

Để khắc phục tình trạng này, tạo điều kiện cho phóng viên, biên tập viên cơ quan báo chí thực hiện nhiệm vụ, chức năng nghề nghiệp, dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) đã bổ sung quy định phóng viên, biên tập viên chưa được cấp thẻ nhà báo có quyền và nghĩa vụ như đối với nhà báo; khi đến cơ quan, tổ chức để hoạt động nghiệp vụ báo chí chỉ cần xuất trình giấy giới thiệu do cơ quan báo chí cấp. Giấy giới thiệu chỉ được cấp cho phóng viên của cơ quan báo chí.

Ảnh: internet

Vinh Nguyễn

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.
Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành Phiên họp.
Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Đề xuất thực hiện thí điểm chế định luật sư công tại 8 bộ và 10 địa phương

Việc thực hiện thí điểm tại 8 bộ và 10 địa phương. Thời gian thí điểm là từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/9/2028, có cơ chế xử lý chuyển tiếp đối với các vụ, việc đang thực hiện.
Quốc hội tiếp tục xem xét Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam

Quốc hội tiếp tục xem xét Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam

Tiếp tục Chương trình làm việc tại Phiên họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 20/4, Quốc hội đã nghe Tờ trình và Báo cáo Thẩm tra dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, nhằm thể chế hóa những định hướng của Đảng trong Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa của đất nước. Phiên họp diễn ra dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Đánh giá, xếp loại chất lượng đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức gắn với chức năng, nhiệm vụ, mục tiêu, kế hoạch công tác và kết quả thực hiện

Chiều ngày 20/4/2026, đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định khung tiêu chí đánh giá, xếp loại chất lượng đối với đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức (dự thảo Nghị định). Tham dự cuộc họp có sự tham gia của đại diện Bộ Nội vụ; Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Tài chính; Bộ Ngoại giao; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nôi;… và đại diện một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Xử lý kỷ luật viên chức bảo đảm khách quan, công bằng, công khai, nghiêm minh

Thực hiện Quyết định số 304/QĐ-TTg ngày 13/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Viên chức, Bộ Nội vụ đang chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử lý kỷ luật viên chức (dự thảo Nghị định) theo trình tự, thủ tục rút gọn quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 để thay thế các quy định về xử lý kỷ luật viên chức tại Nghị định số 112/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 71/2023/NĐ-CP.

Theo dõi chúng tôi trên: