Luật Dân số năm 2025 gồm 08 chương với 30 điều tập trung vào 04 nhóm chính trọng tâm, gồm: (i) Chính sách 1 - Duy trì mức sinh thay thế; (ii) Chính sách 2 - Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh; (iii) Chính sách 3 - Thích ứng với già hóa dân số; (iv) Chính sách 4 - Nâng cao chất lượng dân số. So với Pháp lệnh dân số trước đây, Luật Dân số năm 2025 quy định cụ thể và toàn diện hơn về các chính sách nâng cao chất lượng dân số, chăm sóc sức khỏe sinh sản, thích ứng già hóa dân số và công tác truyền thông, giáo dục dân số, cụ thể:
Bổ sung nhiều quy định nhằm duy trì mức sinh thay thế; khuyến khích, hỗ trợ gia đình có con nhỏ
Để duy trì mức sinh thay thế, Luật Dân số năm 2025 quy định: tăng thời gian nghỉ thai sản (trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 07 tháng; lao động nam là 10 ngày làm việc khi vợ sinh con). Bên cạnh đó, Luật quy định nhiều chính sách hỗ trợ tài chính và ưu tiên trong các trường hợp: (i) hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; (ii) hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế; (iii) hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với phụ nữ sinh đủ 02 con trước 35 tuổi; (iv) ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định pháp luật về nhà ở đối với người có từ 02 con đẻ trở lên; (v) các biện pháp khác do Chính phủ quyết định. Ngoài ra, căn cứ khả năng cân đối ngân sách nhà nước, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chính quyền địa phương cấp tỉnh quy định mức hỗ trợ cao hơn mức hỗ trợ do Chính phủ quy định.
Những quy định này cho thấy, Nhà nước đã nhìn nhận vấn đề sinh con không chỉ là lựa chọn cá nhân mà còn chịu tác động mạnh mẽ từ các điều kiện kinh tế - xã hội, thị trường lao động và chính sách an sinh
Giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh và đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên
Để giảm thiểu việc mất cân bằng giới tính khi sinh, Luật Dân số năm 2025 đưa ra quy định: (i) cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; (ii) cấm thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định để phục vụ chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan đến giới tính; (iii) đình chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đối với người có hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phá thai và việc đình chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh này thực hiện theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
Ngoài ra, để phát huy vai trò của hương ước, quy định trong giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, Luật quy định việc khuyến khích đưa nội dung “không trọng nam hơn nữ, không lựa chọn giới tính khi sinh” vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư.
Chủ động thích ứng với già hóa dân số
Luật Dân số năm 2025 dành một chương riêng (Chương IV) điều chỉnh về vấn đề thích ứng với già hóa dân số. Theo đó, Luật không chỉ tiếp cận già hóa dân số như một vấn đề an sinh mà mở rộng sang cách tiếp cận chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ, bao gồm chuẩn bị về sức khỏe, tài chính, tâm lý, kỹ năng xã hội và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Đồng thời, Luật nhấn mạnh phát triển đa dạng các mô hình chăm sóc người cao tuổi tại gia đình, cộng đồng và cơ sở chuyên biệt, cũng như phát triển nguồn nhân lực lão khoa - một lĩnh vực còn thiếu hụt nghiêm trọng ở Việt Nam hiện nay. Đáng chú ý, Luật cũng đề cập đến khái niệm năng lực xã hội của người cao tuổi, nhấn mạnh vai trò tham gia, đóng góp và thích ứng xã hội của người cao tuổi thay vì chỉ coi họ là nhóm phụ thuộc. Đây là một cách tiếp cận tiến bộ, phù hợp với xu hướng “già hóa tích cực” đang được khuyến nghị ở nhiều quốc gia[1].
Đặc biệt, Luật Dân số năm 2025 còn khuyến khích tổ chức, cá nhân cấp học bổng hoặc hỗ trợ học phí, sinh hoạt phí cho người học để phát triển chuyên ngành lão khoa
Quy định các giải pháp nâng cao chất lượng dân số tạo nền tảng cho tương lai
Theo đó, Luật Dân số năm 2025 có các quy định khuyến khích nam, nữ chủ động tiếp cận dịch vụ tư vấn và khám sức khoẻ trước khi kết hôn; khuyến khích khám sàng lọc bệnh bẩm sinh trước sinh và sơ sinh cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh theo danh mục bệnh cần sàng lọc. Kinh phí sàng lọc được hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước, bảo hiểm y tế theo lộ trình mức đóng bảo hiểm y tế và các nguồn kinh phí hợp pháp khác.
Bên cạnh đó, Luật còn quy định: cá nhân, cặp vợ chồng được quyền tiếp cận đầy đủ, bình đẳng và không bị phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản; tự đưa ra quyết định liên quan đến sức khỏe sinh sản trên cơ sở hiểu biết, tự nguyện và tôn trọng quyền, lợi ích của cá nhân. Dự phòng vô sinh thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng bệnh, pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; điều trị vô sinh thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng bệnh, pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và pháp luật về bảo hiểm y tế.
Tăng cường truyền thông, vận động, giáo dục về dân số
Luật Dân số năm 2025 dành một chương riêng (Chương II) để quy định về công tác truyền thông, vận động, giáo dục về dân số. Theo đó, ưu tiên truyền thông, vận động, giáo dục nội dung phù hợp về dân số cho các đối tượng là người chưa thành niên, người trong độ tuổi sinh sản, người cao tuổi, người di cư, người khuyết tật, người có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm, người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người dân tộc thiểu số rất ít người, người sử dụng lao động.
Về hình thức truyền thông, Luật quy định đa dạng các hình thức như: trực tiếp; gián tiếp thông qua phương tiện truyền thông hoặc tổ chức các chiến dịch, sự kiện, triển lãm, cuộc thi về dân số và hình thức khác.
Về nội dung truyền thông bao gồm: (i) đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân số; (ii) vai trò của cá nhân, cặp vợ chồng trong việc sinh con để bảo đảm phát triển bền vững đất nước và hạnh phúc của người dân; (iii) quyền và nghĩa vụ của cá nhân, gia đình, người sử dụng lao động; lợi ích của cộng đồng, xã hội, quốc gia trong thực hiện công tác dân số. Bên cạnh đó, Luật quy định về việc ưu tiên truyền thông, vận động giáo dục về những nội dung, như: khuyến khích kết hôn, sinh con để duy trì mức sinh thay thế; giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết; giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính khi sinh; thích ứng với già hóa dân số, chuẩn bị cho tuổi già ngay từ khi còn trẻ; khuyến khích người dân chăm sóc sức khỏe…; thúc đẩy xóa bỏ định kiến giới, nâng cao vai trò của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình và cộng đồng.
Các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Dân số năm 2025
Điều 6 Luật Dân số 2025 quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, như: tuyên truyền, phổ biến hoặc đưa thông tin có nội dung sai sự thật, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân số; cản trở việc tuyên truyền, giáo dục, vận động phổ biến thông tin, tư vấn về dân số, kế hoạch hóa gia đình, tiếp cận dịch vụ dân số; lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định để phục vụ chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan đến giới tính; cưỡng bức, ép buộc việc sinh con hoặc không sinh con; kỳ thị, phân biệt đối xử trong tiếp cận dịch vụ dân số; nhân bản vô tính người.
Luật Dân số năm 2025 được xây dựng với nhiều điểm mới nổi bật, nhằm tạo ra một khung pháp lý đồng bộ, khắc phục những tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong hệ thống pháp luật về dân số trước đây; tập trung vào việc quản lý dân số một cách toàn diện, hướng tới sự phát triển bền vững và phù hợp với thực tiễn đất nước trong giai đoạn mới./.
[1] Lê Thị Đan Dung, Luật Dân số 2025: Những điểm mới và hàm ý chính sách trong bối cảnh già hóa dân số ở Việt Nam, https://ihfgs.vass.gov.vn/tin-tuc-su-kien/luat-dan-so-2025-nhung-diem-moi-va-ham-y-chinh-sach-trong-boi-canh-gia-hoa-dan-so-o-viet-nam-562956, truy cập ngày 05/6/2026.