Thứ tư 08/07/2026 00:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.

Chế định luật sư công được thí điểm tại 08 bộ quản lý nhiều lĩnh vực phức tạp, thường phát sinh khiếu nại, tranh chấp quốc tế hoặc phải tham gia ý kiến pháp lý cho cơ quan nhà nước, gồm: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đồng thời, việc thí điểm cũng được triển khai tại 10 tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế phát triển, phát sinh nhiều khiếu nại, khiếu kiện hành chính, tranh chấp đầu tư và đã có chủ trương, chính sách thu hút luật sư tham gia hoạt động pháp lý trong khu vực công, gồm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai và Bắc Ninh.

Người muốn trở thành luật sư công phải đáp ứng 04 tiêu chuẩn

Thứ nhất, là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước.

Luật sư công không phải là một ngạch hay chức danh mà cơ bản được lựa chọn từ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân và người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn theo quy định. Những người này tiếp tục giữ nguyên vị trí công tác, đồng thời được giao thực hiện nhiệm vụ của luật sư công theo quyết định của người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc doanh nghiệp nhà nước. Do đó, việc triển khai chế định luật sư công chỉ là bổ sung chức năng, nhiệm vụ đối với nguồn nhân lực hiện có, không làm tăng biên chế.

Thứ hai, có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính.

Luật sư công thực hiện nhiệm vụ gắn với việc bảo vệ lợi ích công, lợi ích quốc gia và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Do đó, ngoài năng lực chuyên môn, luật sư công cần có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính, qua đó xây dựng đội ngũ luật sư công có phẩm chất nghề nghiệp tốt, đủ khả năng xử lý khách quan các vụ việc pháp lý phức tạp.

Trong quá trình hành nghề, luật sư công thường tiếp cận với các thông tin mật, tài liệu nội bộ hoặc các vấn đề liên quan đến lợi ích kinh tế của Nhà nước. Vì vậy, yêu cầu về tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp không chỉ giúp phòng ngừa tiêu cực và hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn mà còn góp phần củng cố niềm tin của các cơ quan, tổ chức đối với hoạt động của chế định luật sư công.

Thứ ba, có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật Luật sư.

Mặc dù hoạt động trong khu vực công nhưng luật sư công vẫn thực hiện các hoạt động nghề nghiệp đặc thù của luật sư như tư vấn pháp luật, đại diện, tham gia tố tụng và các công việc có tính chất pháp lý khác tương tự luật sư tư. Do đó, việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của luật sư là điều kiện cần thiết để bảo đảm năng lực hành nghề, kỹ năng chuyên môn và khả năng áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Mặt khác, quy định này cũng góp phần tạo sự tương đồng về trình độ chuyên môn giữa luật sư công và luật sư hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, tránh hình thành hai hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp khác nhau. Khi cùng đáp ứng các tiêu chuẩn chung theo Luật Luật sư, luật sư công sẽ đủ năng lực tham gia giải quyết các vụ việc pháp lý với chất lượng tương đương luật sư tư, đồng thời tạo nền tảng thuận lợi cho việc xây dựng cơ chế quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá chất lượng đội ngũ luật sư công trong tương lai.

Thứ tư, có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ, việc pháp lý phức tạp theo quy định của Chính phủ.

Tính chất các vụ việc mà luật sư công tham gia chủ yếu liên quan đến hoạt động pháp lý nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị và doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, kinh nghiệm thực tiễn là yếu tố quyết định khả năng phân tích, đánh giá rủi ro pháp lý và đề xuất phương án xử lý phù hợp.

Bên cạnh đó, quy định về thời gian công tác tối thiểu cũng góp phần bảo đảm tính chọn lọc đối với đội ngũ luật sư công. Sau ít nhất 05 năm làm việc trong lĩnh vực pháp luật, người được lựa chọn thường đã tích lũy được kiến thức chuyên sâu, kỹ năng xử lý tình huống và kinh nghiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan. Đây là cơ sở để họ có thể nhanh chóng đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước ngay khi được cấp Chứng chỉ hành nghề, hạn chế thời gian đào tạo lại và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chế định luật sư công trong giai đoạn thí điểm.

Luật sư công thực hiện các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước thuộc các cơ quan thực hiện thí điểm

Luật sư công được thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện cho các cơ quan nhà nước, tham gia tố tụng, giải quyết các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế về đầu tư, thương mại, công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, hành chính, dân sự. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi luật sư công phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng tranh tụng chuyên nghiệp nhằm bảo vệ hiệu quả lợi ích hợp pháp của Nhà nước trong bối cảnh các tranh chấp ngày càng đa dạng và phức tạp. Ngoài ra, luật sư công còn được tham gia vào quá trình thi hành án dân sự, hành chính theo quy định của pháp luật, tư vấn pháp lý trong quá trình xây dựng, triển khai các dự án kinh tế - xã hội; tư vấn và tham gia giải quyết các vụ, việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài; các công việc có tính chất pháp lý khác.

Phạm vi công việc của luật sư công không bao gồm hoạt động trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và không trùng lặp với hoạt động của pháp chế của cơ quan, tổ chức.

Đáng chú ý, ngoài nhiệm vụ nêu trên, luật sư công được thực hiện các nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.

Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước là luật sư công có trách nhiệm bố trí, phân công công việc bảo đảm để luật sư công hoàn thành công việc của luật sư công và nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước.

Luật sư công phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước

Xuất phát từ tính chất công việc và vị trí của luật sư công, Nghị quyết quy định một số trách nhiệm của luật sư công, cụ thể:

(i) Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của Nhà nước.

Theo đó, luật sư công có nghĩa vụ chủ động nghiên cứu vụ việc, thu thập và đánh giá chứng cứ, lựa chọn phương án pháp lý tối ưu, vận dụng đầy đủ các quy định của pháp luật cũng như các kỹ năng nghề nghiệp để bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước. Đáng chú ý, quy định này nhấn mạnh yêu cầu “sử dụng các biện pháp hợp pháp”, nghĩa là, mọi hoạt động của luật sư công phải được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, không được sử dụng các thủ đoạn trái pháp luật hoặc làm sai lệch sự thật khách quan. Việc gắn yêu cầu “tốt nhất” với điều kiện “hợp pháp” vừa đề cao trách nhiệm, tính chủ động, tận tâm của luật sư công, vừa bảo đảm sự cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ lợi ích công và nguyên tắc thượng tôn pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước.

(ii) Có trách nhiệm tuân thủ việc cử tham gia các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực công của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Luật sư công không được quyền tự do lựa chọn vụ việc hoặc khách hàng như luật sư hành nghề tư, mà có trách nhiệm chấp hành quyết định phân công, điều động của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để tham gia giải quyết các công việc pháp lý phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc khu vực công. Những công việc này có thể gồm: Tham gia tố tụng, tư vấn pháp lý, giải quyết các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế hoặc các công việc có tính chất pháp lý khác do người đứng đầu cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước phân công. Quy định này nhằm bảo đảm các vụ việc pháp lý quan trọng của khu vực công đều được bố trí đội ngũ luật sư công có đủ năng lực chuyên môn tham gia kịp thời, đồng thời tạo cơ chế phân bổ nguồn lực pháp lý linh hoạt giữa các cơ quan và lĩnh vực khi phát sinh những vụ việc phức tạp hoặc có tính cấp bách.

(iii) Trong thời gian không thực hiện nhiệm vụ thuộc phạm vi công việc, luật sư công thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân và người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.

Luật sư công không phải là một chức danh nghề nghiệp hoạt động độc lập, chuyên trách, mà là một nhiệm vụ được giao cho những người đang giữ các chức vụ, chức danh trong khu vực công đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Theo đó, khi không được phân công tham gia các hoạt động tố tụng, tư vấn pháp lý hoặc các nhiệm vụ thuộc phạm vi hành nghề luật sư công, họ tiếp tục thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của vị trí công tác hiện có theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, quân đội, công an hoặc doanh nghiệp nhà nước. Quy định này bảo đảm sự thống nhất giữa chức năng chuyên môn của luật sư công với trách nhiệm công vụ của người được bổ nhiệm, tránh phát sinh tình trạng tách biệt hoặc chồng chéo về vị trí việc làm, đồng thời sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao trong khu vực công. Thay vì hình thành một đội ngũ luật sư công chuyên trách với bộ máy riêng, Nhà nước có thể huy động đội ngũ cán bộ pháp lý hiện có tham gia xử lý các vụ việc pháp lý khi cần thiết, qua đó vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ lợi ích của Nhà nước, vừa tiết kiệm nguồn lực và chi phí tổ chức bộ máy.

(iv) Luật sư công có hành vi vi phạm pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp thì tùy theo tính chất, mức độ có thể bị kỷ luật, bị xử phạt vi phạm hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bồi thường thiệt hại nếu có lỗi gây thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Mọi hoạt động của luật sư công đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Với vai trò là người được giao thực hiện các nhiệm vụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, luật sư công không chỉ phải tuân thủ các quy định của pháp luật mà còn phải chấp hành các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Do đó, khi có hành vi vi phạm, luật sư công phải chịu các chế tài tương ứng, từ trách nhiệm kỷ luật trong quan hệ công vụ, xử phạt vi phạm hành chính, đến truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời, luật sư công còn phải thực hiện trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Quy định này nhằm bảo đảm mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý, không để xảy ra khoảng trống pháp lý trong hoạt động của luật sư công.

Xây dựng cơ chế linh hoạt trong việc giải quyết công việc có tính chất pháp lý tại khu vực công

Quy trình giải quyết công việc có tính chất pháp lý tại khu vực công được quy định theo hướng: Khi có vụ, việc phát sinh, cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng luật sư công để thực hiện các công việc được cử luật sư công làm việc tại cơ quan, tổ chức mình thực hiện; trong trường hợp có nhu cầu sử dụng luật sư công của cơ quan, tổ chức khác, cần có văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức khác có luật sư công cử hoặc đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về luật sư công giới thiệu.

Trong trường hợp vụ, việc có tính chất phức tạp, đội ngũ luật sư công chưa đáp ứng được hoặc trong trường hợp cần thiết, cơ quan, tổ chức có vụ, việc có quyền lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư. Việc lựa chọn tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện theo quy định về lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư khi tham gia vào các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực công được nhận thù lao theo thoả thuận.

Quy định này tạo cơ sở pháp lý để tháo gỡ vướng mắc trên thực tế khi các cơ quan, tổ chức tại khu vực công chưa thể ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư, vì chưa có cơ chế về tài chính để chi trả cho luật sư tư và quy trình lựa chọn luật sư theo thủ tục đấu thầu còn mất nhiều thời gian, không đáp ứng yêu cầu luật sư cần tham gia từ sớm trong giải quyết các vụ, việc.

Ảnh: internet

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Hoàn thiện cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Hoàn thiện cơ chế quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.

Theo dõi chúng tôi trên: