Thứ năm 27/08/2026 03:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.

Chế định luật sư công được thí điểm tại 08 bộ quản lý nhiều lĩnh vực phức tạp, thường phát sinh khiếu nại, tranh chấp quốc tế hoặc phải tham gia ý kiến pháp lý cho cơ quan nhà nước, gồm: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường; đồng thời, việc thí điểm cũng được triển khai tại 10 tỉnh, thành phố có điều kiện kinh tế phát triển, phát sinh nhiều khiếu nại, khiếu kiện hành chính, tranh chấp đầu tư và đã có chủ trương, chính sách thu hút luật sư tham gia hoạt động pháp lý trong khu vực công, gồm: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Đồng Nai và Bắc Ninh.

Người muốn trở thành luật sư công phải đáp ứng 04 tiêu chuẩn

Thứ nhất, là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước.

Luật sư công không phải là một ngạch hay chức danh mà cơ bản được lựa chọn từ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân và người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn theo quy định. Những người này tiếp tục giữ nguyên vị trí công tác, đồng thời được giao thực hiện nhiệm vụ của luật sư công theo quyết định của người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc doanh nghiệp nhà nước. Do đó, việc triển khai chế định luật sư công chỉ là bổ sung chức năng, nhiệm vụ đối với nguồn nhân lực hiện có, không làm tăng biên chế.

Thứ hai, có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính.

Luật sư công thực hiện nhiệm vụ gắn với việc bảo vệ lợi ích công, lợi ích quốc gia và hoạt động của các cơ quan nhà nước. Do đó, ngoài năng lực chuyên môn, luật sư công cần có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính, qua đó xây dựng đội ngũ luật sư công có phẩm chất nghề nghiệp tốt, đủ khả năng xử lý khách quan các vụ việc pháp lý phức tạp.

Trong quá trình hành nghề, luật sư công thường tiếp cận với các thông tin mật, tài liệu nội bộ hoặc các vấn đề liên quan đến lợi ích kinh tế của Nhà nước. Vì vậy, yêu cầu về tư tưởng chính trị, đạo đức nghề nghiệp không chỉ giúp phòng ngừa tiêu cực và hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn mà còn góp phần củng cố niềm tin của các cơ quan, tổ chức đối với hoạt động của chế định luật sư công.

Thứ ba, có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật Luật sư.

Mặc dù hoạt động trong khu vực công nhưng luật sư công vẫn thực hiện các hoạt động nghề nghiệp đặc thù của luật sư như tư vấn pháp luật, đại diện, tham gia tố tụng và các công việc có tính chất pháp lý khác tương tự luật sư tư. Do đó, việc đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn của luật sư là điều kiện cần thiết để bảo đảm năng lực hành nghề, kỹ năng chuyên môn và khả năng áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Mặt khác, quy định này cũng góp phần tạo sự tương đồng về trình độ chuyên môn giữa luật sư công và luật sư hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, tránh hình thành hai hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp khác nhau. Khi cùng đáp ứng các tiêu chuẩn chung theo Luật Luật sư, luật sư công sẽ đủ năng lực tham gia giải quyết các vụ việc pháp lý với chất lượng tương đương luật sư tư, đồng thời tạo nền tảng thuận lợi cho việc xây dựng cơ chế quản lý, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá chất lượng đội ngũ luật sư công trong tương lai.

Thứ tư, có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ, việc pháp lý phức tạp theo quy định của Chính phủ.

Tính chất các vụ việc mà luật sư công tham gia chủ yếu liên quan đến hoạt động pháp lý nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị và doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, kinh nghiệm thực tiễn là yếu tố quyết định khả năng phân tích, đánh giá rủi ro pháp lý và đề xuất phương án xử lý phù hợp.

Bên cạnh đó, quy định về thời gian công tác tối thiểu cũng góp phần bảo đảm tính chọn lọc đối với đội ngũ luật sư công. Sau ít nhất 05 năm làm việc trong lĩnh vực pháp luật, người được lựa chọn thường đã tích lũy được kiến thức chuyên sâu, kỹ năng xử lý tình huống và kinh nghiệm phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan. Đây là cơ sở để họ có thể nhanh chóng đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước ngay khi được cấp Chứng chỉ hành nghề, hạn chế thời gian đào tạo lại và góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chế định luật sư công trong giai đoạn thí điểm.

Luật sư công thực hiện các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước thuộc các cơ quan thực hiện thí điểm

Luật sư công được thực hiện tư vấn pháp luật, đại diện cho các cơ quan nhà nước, tham gia tố tụng, giải quyết các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế về đầu tư, thương mại, công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, hành chính, dân sự. Đây là những lĩnh vực đòi hỏi luật sư công phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và khả năng tranh tụng chuyên nghiệp nhằm bảo vệ hiệu quả lợi ích hợp pháp của Nhà nước trong bối cảnh các tranh chấp ngày càng đa dạng và phức tạp. Ngoài ra, luật sư công còn được tham gia vào quá trình thi hành án dân sự, hành chính theo quy định của pháp luật, tư vấn pháp lý trong quá trình xây dựng, triển khai các dự án kinh tế - xã hội; tư vấn và tham gia giải quyết các vụ, việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài; các công việc có tính chất pháp lý khác.

Phạm vi công việc của luật sư công không bao gồm hoạt động trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và không trùng lặp với hoạt động của pháp chế của cơ quan, tổ chức.

Đáng chú ý, ngoài nhiệm vụ nêu trên, luật sư công được thực hiện các nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.

Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước là luật sư công có trách nhiệm bố trí, phân công công việc bảo đảm để luật sư công hoàn thành công việc của luật sư công và nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước.

Luật sư công phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước

Xuất phát từ tính chất công việc và vị trí của luật sư công, Nghị quyết quy định một số trách nhiệm của luật sư công, cụ thể:

(i) Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích của Nhà nước.

Theo đó, luật sư công có nghĩa vụ chủ động nghiên cứu vụ việc, thu thập và đánh giá chứng cứ, lựa chọn phương án pháp lý tối ưu, vận dụng đầy đủ các quy định của pháp luật cũng như các kỹ năng nghề nghiệp để bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước. Đáng chú ý, quy định này nhấn mạnh yêu cầu “sử dụng các biện pháp hợp pháp”, nghĩa là, mọi hoạt động của luật sư công phải được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, không được sử dụng các thủ đoạn trái pháp luật hoặc làm sai lệch sự thật khách quan. Việc gắn yêu cầu “tốt nhất” với điều kiện “hợp pháp” vừa đề cao trách nhiệm, tính chủ động, tận tâm của luật sư công, vừa bảo đảm sự cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ lợi ích công và nguyên tắc thượng tôn pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước.

(ii) Có trách nhiệm tuân thủ việc cử tham gia các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực công của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Luật sư công không được quyền tự do lựa chọn vụ việc hoặc khách hàng như luật sư hành nghề tư, mà có trách nhiệm chấp hành quyết định phân công, điều động của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để tham gia giải quyết các công việc pháp lý phát sinh trong hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc khu vực công. Những công việc này có thể gồm: Tham gia tố tụng, tư vấn pháp lý, giải quyết các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế hoặc các công việc có tính chất pháp lý khác do người đứng đầu cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước phân công. Quy định này nhằm bảo đảm các vụ việc pháp lý quan trọng của khu vực công đều được bố trí đội ngũ luật sư công có đủ năng lực chuyên môn tham gia kịp thời, đồng thời tạo cơ chế phân bổ nguồn lực pháp lý linh hoạt giữa các cơ quan và lĩnh vực khi phát sinh những vụ việc phức tạp hoặc có tính cấp bách.

(iii) Trong thời gian không thực hiện nhiệm vụ thuộc phạm vi công việc, luật sư công thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân và người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.

Luật sư công không phải là một chức danh nghề nghiệp hoạt động độc lập, chuyên trách, mà là một nhiệm vụ được giao cho những người đang giữ các chức vụ, chức danh trong khu vực công đáp ứng đủ điều kiện theo quy định. Theo đó, khi không được phân công tham gia các hoạt động tố tụng, tư vấn pháp lý hoặc các nhiệm vụ thuộc phạm vi hành nghề luật sư công, họ tiếp tục thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của vị trí công tác hiện có theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, quân đội, công an hoặc doanh nghiệp nhà nước. Quy định này bảo đảm sự thống nhất giữa chức năng chuyên môn của luật sư công với trách nhiệm công vụ của người được bổ nhiệm, tránh phát sinh tình trạng tách biệt hoặc chồng chéo về vị trí việc làm, đồng thời sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao trong khu vực công. Thay vì hình thành một đội ngũ luật sư công chuyên trách với bộ máy riêng, Nhà nước có thể huy động đội ngũ cán bộ pháp lý hiện có tham gia xử lý các vụ việc pháp lý khi cần thiết, qua đó vừa đáp ứng yêu cầu bảo vệ lợi ích của Nhà nước, vừa tiết kiệm nguồn lực và chi phí tổ chức bộ máy.

(iv) Luật sư công có hành vi vi phạm pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp thì tùy theo tính chất, mức độ có thể bị kỷ luật, bị xử phạt vi phạm hành chính, bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bồi thường thiệt hại nếu có lỗi gây thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Mọi hoạt động của luật sư công đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Với vai trò là người được giao thực hiện các nhiệm vụ pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước, luật sư công không chỉ phải tuân thủ các quy định của pháp luật mà còn phải chấp hành các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Do đó, khi có hành vi vi phạm, luật sư công phải chịu các chế tài tương ứng, từ trách nhiệm kỷ luật trong quan hệ công vụ, xử phạt vi phạm hành chính, đến truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời, luật sư công còn phải thực hiện trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật nếu hành vi vi phạm gây thiệt hại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Quy định này nhằm bảo đảm mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý, không để xảy ra khoảng trống pháp lý trong hoạt động của luật sư công.

Xây dựng cơ chế linh hoạt trong việc giải quyết công việc có tính chất pháp lý tại khu vực công

Quy trình giải quyết công việc có tính chất pháp lý tại khu vực công được quy định theo hướng: Khi có vụ, việc phát sinh, cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng luật sư công để thực hiện các công việc được cử luật sư công làm việc tại cơ quan, tổ chức mình thực hiện; trong trường hợp có nhu cầu sử dụng luật sư công của cơ quan, tổ chức khác, cần có văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức khác có luật sư công cử hoặc đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về luật sư công giới thiệu.

Trong trường hợp vụ, việc có tính chất phức tạp, đội ngũ luật sư công chưa đáp ứng được hoặc trong trường hợp cần thiết, cơ quan, tổ chức có vụ, việc có quyền lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư. Việc lựa chọn tổ chức hành nghề luật sư được thực hiện theo quy định về lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật về đấu thầu. Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư khi tham gia vào các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực công được nhận thù lao theo thoả thuận.

Quy định này tạo cơ sở pháp lý để tháo gỡ vướng mắc trên thực tế khi các cơ quan, tổ chức tại khu vực công chưa thể ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với luật sư, vì chưa có cơ chế về tài chính để chi trả cho luật sư tư và quy trình lựa chọn luật sư theo thủ tục đấu thầu còn mất nhiều thời gian, không đáp ứng yêu cầu luật sư cần tham gia từ sớm trong giải quyết các vụ, việc.

Ảnh: internet

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: