Thứ năm 23/04/2026 10:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Từ khóa: quyền tiếp cận thông tin; công khai thông tin; cung cấp thông tin; biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.

Đặt vấn đề

Ở Việt Nam, quyền tiếp cận thông tin được hiến định trong nhóm quyền cơ bản của con người, công dân tại Điều 25, Hiến pháp 2013 “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo nghĩa hẹp nhất, quyền tiếp cận thông tin là quyền của mỗi cá nhân đối với việc xem xét hoặc sao chụp các tài liệu do các cơ quan nhà nước nắm giữ Quyền tiếp cận thông tin theo nghĩa rộng nhất, bao quát cả quyền tự do thể hiện ý kiến và thông tin qua việc tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá thông tin[1]. Luật Tiếp cận thông tin được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 06/4/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2018. Là đạo luật riêng đầu tiên thể chế hóa quyền tiếp cận thông tin tại Hiến pháp năm 2013, Luật quy định cụ thể việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tạo cơ sở pháp lý cụ thể, quan trọng trong bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.

Việc triển khai thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 nhận được chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự vào cuộc toàn diện của các cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Đồng thời, các cơ quan nhà nước cũng quan tâm thực hiện các biện pháp, điều kiện cần thiết để thực hiện cung cấp thông tin. Theo đó, việc công khai thông tin được các cơ quan thực hiện thường xuyên, kịp thời, đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân, tổ chức, doanh nghiệp; công tác cung cấp thông tin theo yêu cầu cơ bản đi vào nền nếp. Những kết quả này góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, đồng thời, tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổng kết Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cho thấy, sau khi được ban hành và có hiệu lực thi hành, Luật đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế trong quy định của Luật cũng như trong quá trình tổ chức thi hành Luật, cần được đánh giá kỹ lưỡng để có giải pháp phù hợp bảo đảm khả thi, phù hợp với bối cảnh, tình hình mới.

1. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016

1.1. Hạn chế, bất cập trong quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016

Thứ nhất, về phạm vi thông tin. Trước khi Luật tiếp cận thông tin năm 2016 được ban hành, hệ thống pháp luật của Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm chung nhất về “thông tin”[2]. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định về các khái niệm như: “Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra” (khoản 1 Điều 2); “Thông tin do cơ quan nhà nước tạo ra là tin, dữ liệu được tạo ra trong quá trình cơ quan nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, được người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước đó ký, đóng dấu hoặc xác nhận bằng văn bản” (khoản 2 Điều 2). Các khái niệm này cần được rà soát, nghiên cứu tính phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số hiện nay[3] và tính thống nhất, đồng bộ với các khái niệm được quy định trong pháp luật liên quan, ví dụ, khái niệm “dữ liệu” tại Luật Dữ liệu năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.

Một số quy định của Luật còn mang tính khái quát, chưa rõ ràng, chung chung, gây khó khăn trong quá trình áp dụng[4]. Việc phân định phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện còn khó khăn do có cách hiểu và vận dụng chưa thống nhất giữa các cơ quan, đơn vị[5]. Ví dụ, việc xác định thông tin không được tiếp cận quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 khó thực hiện do không có tiêu chí cụ thể, còn định tính, việc xác định dựa vào ý chí chủ quan của người cung cấp thông tin[6]. Quy định về “trường hợp cần thiết vì lợi ích cộng đồng, sức khỏe cộng đồng theo quy định của pháp luật có liên quan” (khoản 3 Điều 7) và “thông tin được yêu cầu vượt quá khả năng đáp ứng hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan” (khoản 1 Điều 28) chưa có hướng dẫn cụ thể nên các cơ quan còn lúng túng trong áp dụng pháp luật[7].

Thứ hai, về trách nhiệm cung cấp thông tin. Quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước chưa đồng bộ với bối cảnh sắp xếp, tinh, gọn tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, trong đó, một số quy định đến nay không còn phù hợp như: (i) điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, tuy nhiên, thời gian qua thực hiện sáp nhập Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Văn phòng Hội đồng nhân dân; điểm g khoản 1 Điều 9 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, tuy nhiên, từ ngày 01/7/2025 đã thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, bỏ cấp huyện; (ii) khoản 3 Điều 35 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 quy định Bộ Thông tin và Truyền thông giúp Chính phủ thực hiện nhiệm vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, trong khi Bộ Thông tin và Truyền thông hiện không còn tồn tại.

Ngoài ra, hiện chưa có quy định hoặc hướng dẫn về cơ quan có trách nhiệm thực hiện cung cấp thông tin do các cơ quan nhà nước ở cấp huyện tạo ra[8]. Bên cạnh đó, một số cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước chưa được quy định rõ về trách nhiệm cung cấp thông tin[9], cần tiếp tục nghiên cứu để bổ sung quy định trong Luật. Mặt khác, quy định về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin của Ủy ban nhân dân cấp xã (gồm cả cung cấp thông tin do mình nhận được) quá rộng[10], cần cân nhắc tính khả thi trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, khối lượng công việc và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã tăng lên.

Thứ ba, về công khai thông tin. Xuất phát từ đặc điểm và trình độ phát triển của mình, các nước có cách quy định khác nhau về phạm vi tiếp cận thông tin. Phạm vi các vấn đề, lĩnh vực cần được công khai theo luật của mỗi nước phản ánh đặc điểm lịch sử cụ thể, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự đa dạng về văn hoá cũng như mối quan tâm khác nhau của công chúng đối với hoạt động của cơ quan nhà nước[11]. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm cập nhật Danh mục thông tin phải được công khai. Tuy nhiên, thông tin phải được công khai theo quy định tại Điều 17 rất rộng, gồm nhiều lĩnh vực, dẫn đến gây áp lực lớn cho các cơ quan trong việc lập và cập nhật Danh mục này[12]. Trên thực tế, việc cập nhật các Danh mục này còn thủ công và mất nhiều thời gian, khó bảo đảm cập nhật thường xuyên, đầy đủ.

Thứ tư, về trình tự, thủ tục. Quy định của Luật Tiếp cận thông tin được xây dựng trên cơ sở bảo đảm cho công dân, tổ chức được cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu của họ với điều kiện không gây cản trở hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, bảo vệ các thông tin cần được bảo mật, bảo vệ lợi ích công cộng và phù hợp với điều kiện của nước ta[13]. Tuy nhiên, trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu của công dân còn phức tạp, chưa đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ số; chưa linh hoạt để phù hợp với điều kiện thực tế của cấp cơ sở[14]. Có trường hợp người dân đến cơ quan nhà nước yêu cầu cung cấp thông tin nhưng trình tự, thủ tục như quy định hiện nay (điền Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, thời hạn giải quyết dài…) chưa thật sự thuận lợi[15]. Đối với các thông tin thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, việc phải thực hiện các thủ tục về Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin, Phiếu tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin… còn rườm rà và không cần thiết[16].

Một số quy định của Luật cần nghiên cứu, rà soát, đánh giá tính đồng bộ, thống nhất với những đạo luật mới ban hành như Luật Lưu trữ năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, Luật Giao dịch điện tử năm 2023…, bởi thực tiễn triển khai một số cơ quan phản ánh có vướng mắc, khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật[17].

1.2. Khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016

- Việc tuyên truyền, phổ biến Luật vàNghị định số 13/2018/NĐ-CP ngày 23/01/2018 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin mặc dù được các cơ quan, địa phương chú trọng, nhưng chưa thực sự đi vào chiều sâu, chưa tận dụng hiệu quả các nền tảng số và mạng xã hội[18].

- Một số cơ quan chưa ban hành Quy chế cung cấp thông tin[19]; chưa có chuyên mục riêng về “tiếp cận thông tin” trên cổng/trang thông tin điện tử[20]; chưa thực hiện đầy đủ, kịp thời việc công khai thông tin theo quy định[21]. Một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực hiện hoặc còn lúng túng trong việc lập, cập nhật Danh mục thông tin phải được công khai, Danh mục thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện[22].

- Cán bộ được giao làm đầu mối cung cấp thông tin chưa được tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về hoạt động cung cấp thông tin[23], đặc biệt, trong phân loại thông tin, đối chiếu với các quy định về bí mật nhà nước và thông tin công dân được tiếp cận có điều kiện[24], kỹ năng phân loại, rà soát, bảo mật thông tin của một số cán bộ còn hạn chế[25]. Nguồn nhân lực trực tiếp thực hiện công tác cung cấp thông tin tại một số cơ quan, địa phương còn mỏng, chủ yếu là kiêm nhiệm, khối lượng công việc nhiều hoặc do biến động về công tác cán bộ[26] nên ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động cung cấp thông tin. Sự phối hợp giữa đơn vị đầu mối cung cấp thông tin và các đơn vị tạo ra thông tin theo Quy chế nội bộ về tổ chức cung cấp thông tin của cơ quan chưa được thường xuyên, bài bản, ảnh hưởng đến quá trình công khai và cung cấp thông tin cho người dân. Thực tế có trường hợp lúng túng do khó xác định đầu mối cung cấp chính thức đối với các thông tin liên ngành, liên cơ quan[27].

- Việc công khai thông tin ở cơ sở chủ yếu vẫn bằng hình thức truyền thống (niêm yết tại trụ sở, thông báo qua loa truyền thanh), chưa đa dạng, chưa tận dụng hiệu quả các ứng dụng công nghệ số, chưa phát huy hiệu quả của môi trường mạng và các phương tiện thông tin đại chúng[28]. Quá trình cung cấp thông tin theo yêu cầu cho công dân, có cơ quan, đơn vị chưa thực hiện đầy đủ việc lập Sổ theo dõi cung cấp thông tin theo yêu cầu[29]. Một số loại thông tin liên quan đến nhiều lĩnh vực (như quy hoạch…) nên một số đơn vị cơ sở còn lúng túng trong xác định trách nhiệm cung cấp thông tin, phạm vi thông tin phải công khai, đồng thời, việc số hóa dữ liệu chưa đồng bộ nên cần thời gian phối hợp[30].

- Các biện pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin như bố trí cán bộ đầu mối, cơ sở vật chất, số hóa tài liệu… còn gặp khó khăn trong tổ chức thực hiện, nhất là tại cơ sở[31]; chưa có quy định hoặc hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn, điều kiện của cán bộ đầu mối thực hiện nhiệm vụ cung cấp thông tin; trang bị máy móc, thiết bị để cung cấp thông tin cho các đối tượng đặc thù (người khuyết tật…)[32]. Công tác số hóa tài liệu chưa đồng bộ, nhiều hồ sơ cũ vẫn ở dạng giấy và chưa có phần mềm quản lý[33]. Việc xây dựng phần mềm quản lý công tác lưu trữ điện tử còn chậm[34]; hệ thống số hóa dữ liệu chưa hoàn thiện, nguồn tài liệu điện tử chưa đầy đủ nên việc trích xuất và cung cấp thông tin qua môi trường điện tử còn hạn chế[35]. Việc phân loại, lưu trữ và cập nhật thông tin chưa thực sự khoa học, dẫn đến việc tra cứu, cung cấp thông tin đôi khi còn chậm36.

- Việc đầu tư cơ sở vật chất cho công tác tiếp cận thông tin tuy đã được quan tâm nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn (ví dụ như trụ sở tiếp công dân…)[37], nhất là cơ sở vật chất để cung cấp thông tin cho người khuyết tật[38]. Tại nơi tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính, nơi cung cấp thông tin đã được trang bị các trang thiết bị cần thiết như máy tính, máy in, điện thoại…, tuy nhiên, cơ sở vật chất ở nhiều xã còn hạn chế, máy móc trang thiết bị thiếu thốn. Một số xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, do điều kiện giao thông đi lại khó khăn, hạ tầng Internet chưa được phủ sóng, tỷ lệ người dân sử dụng điện thoại thông minh còn thấp, nên việc tiếp cận thông tin của người dân còn nhiều hạn chế[39]. Hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, cơ sở dữ liệu chưa thống nhất, gây khó khăn cho việc tra cứu và cung cấp thông tin[40]; trang thông tin điện tử chậm được cập nhật, dẫn đến hạn chế trong việc cung cấp thông tin qua môi trường mạng[41]; có nơi chưa có trang thông tin điện tử[42].

1.3. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc

- Một số cơ quan, đơn vị chưa nhận thức đầy đủ và quan tâm đúng mức đến việc triển khai và bảo đảm các điều kiện cần thiết thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật.

- Nguồn lực (kinh phí, nhân lực, trang thiết bị) dành cho công tác tiếp cận thông tin còn hạn chế[43]. Các biện pháp như số hóa tài liệu, công khai dữ liệu điện tử đòi hỏi nguồn lực lớn về hạ tầng kỹ thuật, nhân sự, kinh phí, trong khi điều kiện ở cơ sở còn chưa đáp ứng[44]; cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin tại cấp cơ sở còn khó khăn, đặc biệt, trong công tác tổng hợp số liệu, dữ liệu, thông tin từ các cơ quan, đơn vị cũ được sáp nhập[45].

- Một số người dân chưa nhận thức đầy đủ về quyền tiếp cận thông tin của bản thân, chưa biết hoặc chưa nắm rõ thủ tục, phạm vi, cách thức thực hiện quyền này, hoặc còn có tâm lý e ngại khi yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin[46]. Bên cạnh đó, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của một bộ phận người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin[47].

2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tiếp cận thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Thời gian qua, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối phát huy dân chủ, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân, tăng cường tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, đơn vị, đẩy mạnh ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong cung cấp thông tin cho người dân[48]. Bên cạnh đó, các chủ trương, đường lối của Đảng về sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy trong thời gian qua[49] có tác động trực tiếp đến mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng có nhiều văn bản chỉ đạo về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Ngoài ra, một số Luật đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới có liên quan đến tiếp cận thông tin, cung cấp thông tin/dữ liệu của các cơ quan, đơn vị[50].

Để thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các luật, nghị quyết có liên quan và phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy, kỹ thuật lập pháp hiện nay, cũng như bảo đảm phù hợp với bối cảnh, tình hình mới của đất nước, phù hợp với mô hình đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền 03 cấp, đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung xây dựng, ban hành Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Việc ban hành Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) thay thế Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 hiện hành nhằm: (i) giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc có nguyên nhân từ quy định của Luật đã được các cơ quan, Bộ, ngành, địa phương phản ánh trong quá trình sơ kết, tổng kết việc thi hành Luật; (ii) sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định của Luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện nay và yêu cầu thực tiễn trong tình hình mới, trong đó có việc mở rộng các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin, mở rộng phạm vi thông tin công dân được tiếp cận, đa dạng các hình thức cung cấp thông tin, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động cung cấp thông tin, tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin nhanh chóng, thuận lợi, tiết kiệm thời gian, chi phí.

2.1. Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin

Từ những bất cập, hạn chế của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin như sau:

Thứ nhất, về giải thích từ ngữ. Sửa đổi nội dung giải thích cụm từ “thông tin”, bảo đảm đầy đủ, bao quát; bổ sung giải thích cụm từ “thông tin do cơ quan, nhà nước nắm giữ” là tin, dữ liệu do cơ quan, đơn vị nhận được trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật hoặc được tạo lập trên cơ sở dữ liệu, hệ thống phần mềm do cơ quan, đơn vị quản lý.

Thứ hai, về cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin. Nghiên cứu sửa đổi các quy định liên quan đến các cơ quan nhà nước để phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy nhà nước sau sắp xếp; quy định rõ hơn phạm vi thông tin mà cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp. Bên cạnh đó, nghiên cứu mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin theo quy định của Luật này (không chỉ dừng ở trách nhiệm của cơ quan nhà nước, mà có thể nghiên cứu bổ sung một số cơ quan, tổ chức, đơn vị khác). Theo đó, sửa đổi, bổ sung quy định về các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin để phù hợp với tên gọi và mô hình tổ chức sau sắp xếp (bỏ quy định về các cơ quan ở cấp huyện; cập nhật tên và trách nhiệm của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh). Đồng thời, bổ sung quy định những đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu có trách nhiệm cung cấp thông tin, bởi đây là chủ thể tạo ra thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh hoạt của người dân. Việc quy định các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu có trách nhiệm cung cấp thông tin cũng phù hợp với quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 19-NQ/TW[51] xác định: “Nhà nước chăm lo, bảo đảm cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, nâng cao khả năng tiếp cận và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công cho mọi tầng lớp nhân dân…”. Đối với các thông tin do các đơn vị sự nghiệp công lập khác tạo ra, người dân có thể tiếp cận và yêu cầu cung cấp thông tin theo pháp luật chuyên ngành.

Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi để công dân xác định được những đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu, cần nghiên cứu, bổ sung quy định các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm lập và công khai danh mục đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu thuộc phạm vi quản lý.

Thứ ba, về phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin. Để tăng cường trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan, đơn vị, đề nghị bổ sung quy định: (i) cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình nắm giữ trong trường hợp việc cung cấp thông tin là cần thiết để bảo vệ lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng; (ii) đối với hồ sơ, tài liệu có chứa cả thông tin công dân không được tiếp cận, thông tin công dân được tiếp cận và các phần thông tin có thể được phân tách hợp lý, các cơ quan, đơn vị có thể xem xét, quyết định cung cấp một phần hồ sơ, tài liệu nếu việc cung cấp bảo đảm phù hợp với quy định của Luật.

Bên cạnh đó, trên cơ sở chính sách đã được Chính phủ thông qua, điều chỉnh phạm vi thông tin mà Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp theo hướng Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ cung cấp thông tin do mình tạo ra; không cung cấp thông tin do mình nhận được. Việc điều chỉnh phạm vi thông tin mà Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp nhằm bảo đảm phù hợp với nguyên tắc phân cấp, phân quyền, tăng cường trách nhiệm của cơ quan tạo ra thông tin. Thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, nhiều nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện đã được chuyển cho chính quyền cấp xã, dẫn đến khối lượng công việc của Ủy ban nhân dân cấp xã rất lớn. Việc quy định Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình nhận được tạo áp lực lớn đối với Ủy ban nhân dân cấp xã. Số lượng thông tin do cơ quan nhà nước cấp trên tạo ra rất nhiều, thường xuyên được sửa đổi, bổ sung. Do đó, nếu tiếp tục giao Ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin do mình nhận được thì khó bảo đảm tính kịp thời, chính xác của thông tin, đồng thời tạo áp lực lớn đối với Ủy ban nhân dân cấp xã.

Thứ tư, phân định phạm vi thông tin được tiếp cận, không được tiếp cận và được tiếp cận có điều kiện theo hướng quy định rõ ràng, khoa học, bảo đảm tính khả thi trong áp dụng; hướng dẫn rõ ranh giới giữa thông tin được phép cung cấp và thông tin hạn chế tiếp cận, bảo đảm thống nhất, đồng bộ với các luật có liên quan, như Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2025, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025; nghiên cứu mở rộng thông tin được tiếp cận; công khai thông tin bằng các hình thức đa dạng hơn. Bên cạnh đó, nghiên cứu sửa đổi các quy định về trường hợp cung cấp thông tin theo yêu cầu tại khoản 1 Điều 23 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 để phù hợp với thực tiễn và tăng cường trách nhiệm của các cơ quan trong việc công khai thông tin.

Thứ năm, về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin. Nghiên cứu rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thủ tục và biểu mẫu cung cấp thông tin, bảo đảm thuận lợi cho công dân; tăng cường tiếp nhận và trả kết quả qua môi trường điện tử; bổ sung trình tự, thủ tục cung cấp thông tin qua những hình thức mới phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin hiện nay. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu bổ sung quy định để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động cung cấp thông tin; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, liên thông, hỗ trợ cung cấp thông tin nhanh chóng, thuận tiện; đa dạng hóa hình thức cung cấp thông tin, có thể nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo như: bổ sung hình thức đăng tải công khai thông tin trên cổng dữ liệu, cổng dữ liệu mở, công khai thông tin qua các kênh truyền thông xã hội chính thức; bổ sung các hình thức cung cấp thông tin theo yêu cầu như qua cổng dữ liệu, Cổng dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc các nền tảng số khác do cơ quan có thẩm quyền công bố.

Thứ sáu, về trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) cần quy định trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin, gồm trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin; tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin; rà soát, phân loại, kiểm tra, bảo đảm tính bí mật của thông tin trước khi cung cấp; duy trì, lưu giữ, cập nhật cơ sở dữ liệu thông tin; công bố thủ tục hành chính về cung cấp thông tin theo quy định... Bên cạnh đó, bổ sung quy định về trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị tạo điều kiện và khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc xây dựng hệ thống thông tin công cộng; nâng cấp, đầu tư các trang thiết bị chuyên dùng phục vụ hoạt động cung cấp thông tin của cơ quan, đơn vị ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định pháp luật liên quan.

Thứ bảy, về thông tin phải được công khai. Sửa đổi, bổ sung các thông tin phải được công khai rộng rãi để bảo đảm đồng bộ với các luật chuyên ngành trong các lĩnh vực (như y tế, giáo dục, văn hóa, an toàn thực phẩm, môi trường, tài chính, đất đai, xây dựng, đấu thầu, lao động…); bổ sung thông tin về dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu do đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp, nhằm tạo thuận lợi để người dân được tiếp cận rộng rãi hơn với các thông tin liên quan mật thiết đến đời sống, sản xuất, kinh doanh, lợi ích công cộng, sức khỏe của cộng đồng; đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng tăng của người dân; rà soát mở rộng phạm vi các thông tin cần được công khai theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 trong khi pháp luật chuyên ngành chưa có quy định cụ thể.

Thứ tám, rà soát quy định của các luật có liên quan như Luật Lưu trữ năm 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Dữ liệu năm 2024… để đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đồng thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn về chuyển đổi số, xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số và quản trị dữ liệu quốc gia.

2.2. Kiến nghị giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016

Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin, cần tiến hành các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật như sau:

Thứ nhất, xây dựng các tài liệu hướng dẫn cơ quan, tổ chức, bảo đảm việc thực hiện Luật hiệu quả, trong đó có thể hướng dẫn cụ thể cách xác định một số thuật ngữ có tính định tính để người cung cấp thông tin đánh giá trong quá trình thực hiện nhiệm vụ (ví dụ: “thông tin gây nguy hại” có thể đánh giá sự gây nguy hại trên nguyên tắc: dự báo - cụ thể - định tính (do khó định lượng) trên cơ sở khả năng nhận diện lợi ích, dự báo hậu quả và cân bằng lợi ích).

Thứ hai, các cơ quan, bộ, ngành, địa phương tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và các văn bản quy định chi tiết Luật đến cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân; nâng cao năng lực, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; bố trí cán bộ đầu mối cung cấp thông tin đủ năng lực, trình độ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực, kỹ năng cung cấp thông tin cho cán bộ đầu mối cung cấp thông tin phù hợp với đặc thù và yêu cầu của từng ngành, lĩnh vực.

Thứ ba, các cơ quan, bộ, ngành, địa phương đa dạng hóa các hình thức cung cấp thông tin, kết hợp cả truyền thống và hiện đại; đẩy mạnh công tác số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung, kết nối liên thông với các hệ thống thông tin để việc tra cứu, cung cấp thông tin được nhanh chóng, chính xác; chú trọng xây dựng, liên kết cơ sở dữ liệu thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, giảm thời gian, chi phí cho người dân; tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kết cấu hạ tầng thiết yếu về công nghệ thông tin để phục vụ công tác tiếp cận thông tin; có các biện pháp hỗ trợ tạo điều kiện để đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin.

Thứ tư, cơ chế theo dõi, kiểm tra và giám sát việc thực thi luật tiếp cận thông tin được quy định rất khác nhau ở các quốc gia trên thế giới[52]. Có quốc gia quy định việc theo dõi, giám sát được thực hiện bằng cơ chế giám sát hành chính, có quốc gia thực hiện giám sát qua con đường tòa án, ở một số quốc gia khác thì việc kiểm tra, giám sát quyền tiếp cận thông tin được thực hiện bởi một cơ quan độc lập. Bên cạnh các thiết chế giám sát có tính chất nhà nước, ở nhiều quốc gia, việc giám sát bằng các thiết chế khác của tổ chức xã hội cũng hiệu quả. Đối với Việt Nam, các cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước theo quy định. Việc tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 chỉ thực sự hiệu quả khi được đặt trong cơ chế giám sát chặt chẽ, có kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, đồng thời, nâng cao nhận thức và năng lực thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Qua đó, góp phần xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình của Nhà nước.

Kết luận

Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là cơ sở pháp lý quan trọng bảo đảm quyền hiến định của công dân, góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Tuy nhiên, sau gần 08 năm thi hành, Luật đã bộc lộ nhiều hạn chế về phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp và quy trình thực hiện, chưa tương thích với yêu cầu chuyển đổi số và các thay đổi về tổ chức bộ máy hiện nay.Việc sớm ban hành Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) là yêu cầu cấp thiết để thể chế hóa chủ trương của Đảng, khắc phục các rào cản thực tiễn và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại vào quản trị dữ liệu. Đồng thời, cần triển khai đồng bộ các giải pháp về nguồn lực, hạ tầng kỹ thuật và công tác tuyên truyền để nâng cao hiệu quả thi hành luật trên thực tế. Đây là yếu tố then chốt để bảo đảm thực chất quyền tiếp cận thông tin của công dân, hướng tới xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch và kiến tạo phát triển trong bối cảnh mới./.

Hoàng Việt Anh

Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[*] Sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025

[1]. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2011), Đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin”, Hà Nội.

[2]. Bộ Tư pháp (2017), Tài liệu tập huấn chuyên sâu về nội dung của Luật Tiếp cận thông tin, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

[3]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của một số địa phương như: Hà Nội, Lào Cai.

[4]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của một số cơ quan, địa phương như: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Lạng Sơn, Tuyên Quang.

[5]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của các tỉnh/ thành phố: Lào Cai, Hải Phòng, Lâm Đồng, Cà Mau.

[6]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Bộ Công an; các tỉnh/thành phố Hải Phòng, Quảng Trị, Lâm Đồng, Đồng Tháp, Cà Mau, Khánh Hòa, Đắk Lắk…

[7]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Bộ Công an; các tỉnh Quảng Trị, Lâm Đồng, Đồng Tháp, Cà Mau, Khánh Hòa...

[8]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Bộ Tài chính.

[9]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Lào Cai.

[10]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Quảng Trị.

[11]. Chu Thị Thái Hà (2009), Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17 (154).

[12]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Cao Bằng.

[13]. Bộ Tư pháp (2017), Sổ tay hướng dẫn việc cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước, Nxb.Tư pháp, Hà Nội.

[14]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Cà Mau.

[15]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Quảng Trị.

[16]. Ý kiến tại tọa đàm Đánh giá thực trạng thi hành Luật Tiếp cận thông tin tại Nghệ An (ngày 12/9/2025).

[17]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Tòa án nhân dân tối cao; các tỉnh Lào Cai, Lâm Đồng, Đồng Tháp…

[18]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

[19]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của các tỉnh Gia Lai, Cao Bằng, Tây Ninh…

[20]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của các tỉnh Cao Bằng, Đồng Tháp, Ninh Bình…

[21]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Bộ Y tế; các tỉnh/thành phố: Đà Nẵng, Lào Cai, Hải Phòng, Gia Lai, Lâm Đồng, Đồng Tháp, Lạng Sơn,…

[22]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của các tỉnh Quảng Trị, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Lạng Sơn, Cao Bằng…

[23]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Y tế, Bộ Dân tộc và Tôn giáo; tỉnh Đắk Lắk, Ninh Bình…

[24]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Lào Cai.

[25]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Tòa án nhân dân tối cao.

[26]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công Thương, Bộ Dân tộc và Tôn giáo; các tỉnh/thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Trị…

[27]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Khánh Hòa.

[28]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Lào Cai, Cao Bằng…

[29]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

[30]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của thành phố Hà Nội,…

[31]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của các tỉnh Lào Cai, Khánh Hòa, Cà Mau…

[32]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của thành phố Hải Phòng.

[33]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của các tỉnh/thành phố: Hà Nội, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Cao Bằng,…

[34]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Văn phòng Quốc hội.

[35]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Quảng Trị.

[36]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Lào Cai.

[37]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an…

[38]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Văn phòng Quốc hội; tỉnh Tuyên Quang, Ninh Bình…

[39]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Bộ Quốc phòng, Bộ Dân tộc và Tôn giáo; tỉnh Quảng Trị…

[40]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Tòa án nhân dân tối cao, tỉnh Lạng Sơn…

[41]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Lào Cai.

[42]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Đắk Lắk.

[43]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Bộ Quốc phòng; các tỉnh/thành phố: Hà Nội, Đồng Tháp, Ninh Bình…

[44]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của tỉnh Lâm Đồng.

[45]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của thành phố Hà Nội.

[46]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ Công an; các tỉnh/thành phố Đà Nẵng, Hà Nội, Đắk Lắk, Tây Ninh…

[47]. Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tiếp cận thông tin của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng.

[48]. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2025-2030 là: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì Nhân dân phục vụ và vì sự phát triển của đất nước. Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; kiểm soát quyền lực gắn với siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động của Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức”. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật: “... phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được...”. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân yêu cầu: “công khai, minh bạch và chủ động cung cấp thông tin tới doanh nghiệp”, “hoàn thiện hệ thống pháp luật, xoá bỏ các rào cản tiếp cận thị trường đảm bảo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, rõ ràng, nhất quán, ổn định lâu dài, dễ tuân thủ, chi phí thấp”. Ngày 26/10/2025, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 53-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ, trong đó yêu cầu “Hoàn thiện pháp luật về tư pháp, khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, đất đai, quy hoạch, môi trường, đầu tư, xây dựng, quản lý, sử dụng tài sản công, tài chính công, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin…; trách nhiệm giải trình của các cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động công vụ”.

[49]. Như Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW; Kết luận số 130-KL/TW ngày 14/3/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp…

[50]. Ví dụ như: Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 quy định trừ các thông tin thuộc bí mật nhà nước hoặc thông tin chưa được công khai theo quy định của pháp luật, chính quyền địa phương cấp xã phải công khai các nội dung tại Điều 11 của Luật này. Luật Lưu trữ năm 2024 quy định về tiếp cận thông tin trong tài liệu lưu trữ; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin trong tài liệu lưu trữ (Điều 25, Điều 26). Luật Dữ liệu năm 2024 quy định dữ liệu được công khai, công khai có điều kiện, không được công khai phải căn cứ vào thông tin được dữ liệu phản ánh theo quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin (khoản 2 Điều 21), đồng thời có các quy định về dữ liệu mở, dữ liệu dùng chung... Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 đặt ra những yêu cầu chặt chẽ về bảo vệ dữ liệu cá nhân (chỉ được thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân đúng phạm vi, mục đích cụ thể, rõ ràng, bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật); quy định những trường hợp công khai dữ liệu cá nhân; cung cấp dữ liệu cá nhân; sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân; các trường hợp xử lý dữ liệu cá nhân không cần sự đồng ý của chủ thể dữ liệu cá nhân…

[51]. Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

[52]. Nguyễn Thị Thu Vân, Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17(154)/2009.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2011), Đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin”, Hà Nội.

2. Bộ Tư pháp (2017), Tài liệu tập huấn chuyên sâu về nội dung của Luật Tiếp cận thông tin, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

3. Chu Thị Thái Hà (2009), Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17 (154).

4. Bộ Tư pháp (2017), Sổ tay hướng dẫn việc cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.

5. Nguyễn Thị Thu Vân (2009), Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17 (154).

(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới” xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Nhiều chuyển biến tích cực trong công tác thi hành án dân sự 6 tháng đầu năm 2026

Nhiều chuyển biến tích cực trong công tác thi hành án dân sự 6 tháng đầu năm 2026

Chiều ngày 09/4, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Mai Lương Khôi chủ trì Hội nghị sơ kết công tác thi hành án dân sự 6 tháng đầu năm 2026. Cục trưởng Cục Quản lý thi hành án dân sự Nguyễn Thắng Lợi đồng chủ trì Hội nghị.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: