![]() |
| Lớp Bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý theo vị trí việc làm, kỹ năng quản trị nội bộ, truyền thông và xử lý tình huống cấp thiết trong công tác THADS cho Phó Chi cục trưởng và tương đương do Học viện Tư pháp tổ chức (Lớp thứ năm, khai giảng ngày 21/10/2024) |
1. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức thi hành án dân sự trong thời gian qua
1.1. Kết quả đạt được
1.1.1. Trong công tác đào tạo
Công tác đào tạo nghiệp vụ THADS có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình thành nguồn nhân lực chuyên môn cho Hệ thống THADS. Từ khi được triển khai tại Học viện Tư pháp, hoạt động đào tạo nghiệp vụ THADS đã từng bước được định hình, phát triển và hoàn thiện cả về chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo và đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy.
Đào tạo nghiệp vụ THADS được triển khai từ năm 2001 - 2002; tính đến ngày 30/12/2025, Học viện Tư pháp đã tổ chức đào tạo 25 khóa nghiệp vụ THADS với 5.852 học viên[1]. Đây là kết quả có ý nghĩa quan trọng, phản ánh vai trò của Học viện Tư pháp trong đào tạo nguồn công chức có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để tham gia vào Hệ thống THADS. Đặc biệt, trong bối cảnh THADS là lĩnh vực vừa mang tính hành chính, vừa gắn trực tiếp với hoạt động tư pháp, việc đào tạo nghiệp vụ tập trung, có chương trình và phương pháp riêng là điều kiện cần thiết để hình thành tư duy nghề nghiệp, đạo đức công vụ và năng lực xử lý tình huống cho đội ngũ công chức.
Hoạt động đào tạo chú trọng rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp như thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế, tổ chức thi hành án đối với một số vụ việc cụ thể... Chương trình và phương pháp đào tạo nghiệp vụ thi hành án tại Học viện Tư pháp thời gian qua được điều chỉnh, cập nhật thường xuyên để phù hợp với sự thay đổi của pháp luật, yêu cầu nâng cao chất lượng và thực tiễn hoạt động nghề nghiệp; sau khóa học, học viên được hệ thống lại kiến thức, cập nhật kiến thức mới, được trang bị kỹ năng hành nghề khoa học hơn, tự tin hơn và giải quyết công việc hiệu quả hơn.
1.1.2. Trong công tác bồi dưỡng
Nếu đào tạo có vai trò tạo nền tảng nghề nghiệp ban đầu thì bồi dưỡng giữ vai trò cập nhật, củng cố, nâng cao và chuẩn hóa năng lực công vụ của đội ngũ công chức THADS. Thời gian qua, công tác bồi dưỡng đối với đội ngũ công chức THADS được triển khai dưới nhiều hình thức, như bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh nghề nghiệp; bồi dưỡng theo vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên sâu; bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng lý luận chính trị và các chương trình cập nhật kiến thức pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ ngắn hạn.
Thứ nhất, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch, chức danh. Học viện Tư pháp đã phối hợp với Tổng cục THADS (nay là Cục Quản lý THADS) xây dựng chương trình, tài liệu và tổ chức các khóa bồi dưỡng nhằm hoàn thiện tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho đội ngũ công chức làm công tác THADS. Từ năm 2011 đến năm 2025, đối với các ngạch công chức THADS, Học viện Tư pháp đã bồi dưỡng, tạo nguồn cho tổng số 12.315 lượt công chức, gồm 4.703 Thư ký, 1.180 Thẩm tra viên, 4.296 Chấp hành viên trung cấp, 1.306 Thẩm tra viên chính, 714 Chấp hành viên cao cấp và 116 Thẩm tra viên cao cấp THADS[2]. Đây là số lượng bồi dưỡng lớn, trực tiếp góp phần đáp ứng yêu cầu chuẩn hóa và nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức theo các ngạch chuyên ngành THADS.
Thứ hai, bồi dưỡng trình độ trung cấp lý luận chính trị. Đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong hoàn thiện tiêu chuẩn đối với đội ngũ công chức được quy hoạch, bổ nhiệm vào các chức vụ lãnh đạo, quản lý, nhất là lãnh đạo cấp phòng và tương đương. Yêu cầu về lý luận chính trị không chỉ nhằm đáp ứng điều kiện tiêu chuẩn chức danh mà còn góp phần củng cố bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm, khả năng nhận diện và xử lý các vấn đề phát sinh trong thực tiễn quản lý nhà nước, quản lý công vụ và tổ chức thi hành án.
Thứ ba, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng theo vị trí việc làm. Nếu trước đây bồi dưỡng chủ yếu gắn với tiêu chuẩn ngạch công chức thì hiện nay yêu cầu quản trị công vụ hiện đại đòi hỏi bồi dưỡng phải gắn với vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực cụ thể. Thực hiện nhiệm vụ được giao, Học viện Tư pháp đã sớm triển khai xây dựng và đưa vào thực hiện các chương trình bồi dưỡng theo vị trí việc làm của Chi cục trưởng Chi cục THADS[3]; đồng thời, xây dựng chương trình bồi dưỡng theo vị trí việc làm cho công chức ngạch Thư ký, Thẩm tra viên, Chấp hành viên trung cấp, Thẩm tra viên chính và Thẩm tra viên cao cấp THADS. Đến nay, cơ bản, các ngạch công chức trong Hệ thống THADS đã có chương trình, tài liệu bồi dưỡng đáp ứng quy định, bảo đảm công chức được bổ nhiệm vào ngạch có đủ điều kiện, tiêu chuẩn và từng bước nâng cao năng lực, kỹ năng, nghiệp vụ.
Thứ tư, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, quản lý. Đây là nội dung có vai trò quan trọng trong bối cảnh Hệ thống THADS phải thực hiện khối lượng công việc lớn, chịu áp lực chỉ tiêu, yêu cầu phối hợp liên ngành và trách nhiệm giải trình ngày càng cao. Vì thế, bên cạnh các chương trình hoàn thiện tiêu chuẩn ngạch, công chức giữ vị trí lãnh đạo, quản lý trong Hệ thống THADS còn được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo quản lý như chương trình bồi dưỡng lãnh đạo, quản lý cấp phòng, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng và Cục trưởng Cục THADS[4]. Đến nay, Học viện Tư pháp đã tổ chức bồi dưỡng theo tiêu chuẩn lãnh đạo, quản lý và bồi dưỡng theo vị trí việc làm cho công chức giữ vị trí lãnh đạo quản lý các cơ quan THADS với gần 3.000 lượt người, gồm Chi cục trưởng, Trưởng phòng, Phó Cục trưởng và Cục trưởng các Cục THADS. Đồng thời, từ ngày 01/7/202[5], Học viện Tư pháp đã tổ chức bồi dưỡng kỹ năng quản trị nội bộ, truyền thông, xử lý tình huống khẩn cấp và lãnh đạo quản lý theo vị trí việc làm trong công tác THADS (dành cho cấp Phó trưởng phòng THADS và tương đương) với 429 lượt người và lớp bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý theo Quy định 145 (dành cho công chức cơ quan THADS) với 787 lượt người5.
Có thể thấy, thời gian qua, công tác bồi dưỡng đã góp phần quan trọng vào việc chuẩn hóa đội ngũ công chức THADS, nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ, năng lực lãnh đạo, quản lý và khả năng thích ứng với yêu cầu mới. Vì vậy, hoạt động bồi dưỡng đã trở thành công cụ quản trị chất lượng nguồn nhân lực trong Hệ thống THADS.
1.2. Những hạn chế, khó khăn
Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo, bồi dưỡng cho công chức THADS còn một số hạn chế, khó khăn cần được nhìn nhận khách quan.
Thứ nhất, về chương trình, giáo trình, tài liệu và hồ sơ tình huống. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, thường xuyên cập nhật, chỉnh sửa, song, tính linh hoạt chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn. Đặc thù của THADS là chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, trong khi các văn bản pháp luật về dân sự, đất đai, nhà ở, doanh nghiệp, đầu tư, ngân hàng, đấu giá tài sản, tố tụng và thi hành án thường xuyên được sửa đổi, bổ sung. Giáo trình, tài liệu, hồ sơ tình huống nếu được biên soạn tại một thời điểm nhưng sử dụng trong thời gian dài dễ bị lạc hậu một phần so với pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động nghề nghiệp. Trên thực tế, việc cập nhật tài liệu bản giấy thường mất nhiều thời gian, tốn kém chi phí và phụ thuộc vào quy trình thẩm định, phê duyệt, in ấn, phát hành. Do đó, có trường hợp nội dung giảng dạy phải được giảng viên cập nhật bổ sung trong quá trình giảng dạy thay vì được phản ánh đầy đủ, đồng bộ trong giáo trình, tài liệu chính thức. Ngoài ra, một số nội dung chương trình còn nặng về lý thuyết, chưa dành đủ thời lượng cho thực hành, xử lý tình huống, phân tích hồ sơ thực tế đã được mã hóa hoặc mô phỏng các tình huống nghiệp vụ phức tạp dẫn đến hệ quả chưa tạo đủ điều kiện để học viên rèn luyện kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải thích, thuyết phục và kỹ năng quản trị rủi ro.
Thứ hai, về đội ngũ giảng viên. Mặc dù, Học viện Tư pháp đã hình thành đội ngũ giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng có kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp THADS, song, tồn tại những khó khăn nhất định. Đối với giảng viên cơ hữu, có ưu thế về phương pháp sư phạm, có kinh nghiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, khả năng hệ thống hóa kiến thức và xây dựng bài giảng. Tuy nhiên, một số giảng viên cơ hữu chưa có nhiều điều kiện cọ xát thường xuyên với thực tiễn tổ chức thi hành án, nhất là các vụ việc phức tạp về tín dụng, ngân hàng, tài sản bảo đảm, cổ phần, cổ phiếu, quyền tài sản, cưỡng chế có đông người tham gia hoặc các hồ sơ có khiếu nại, tố cáo kéo dài. Điều này dẫn đến bài giảng chưa phản ánh đầy đủ các tình huống mới và áp lực thực tế mà công chức THADS đang gặp phải.
Đối với giảng viên thỉnh giảng là lãnh đạo, quản lý, Chấp hành viên, Thẩm tra viên hoặc chuyên gia trong lĩnh vực THADS có ưu thế là am hiểu thực tiễn, kinh nghiệm nghề nghiệp, có nhiều tình huống nghề nghiệp, có kinh nghiệm xử lý hồ sơ. Tuy nhiên, nhóm giảng viên này thường bận công tác chuyên môn, chịu áp lực công việc tại cơ quan, đơn vị nên thời gian dành cho việc chuẩn bị bài giảng, cập nhật học liệu, tham gia xây dựng tình huống còn hạn chế. Đồng thời, việc sử dụng các phương pháp sư phạm của đội ngũ giảng viên thỉnh giảng chưa phong phú và linh hoạt nếu có ảnh hưởng nhất định đến chất lượng giảng dạy.
Thứ ba, về phương pháp giảng dạy. Thời gian qua, các phương pháp hiện đại như giảng dạy theo tình huống, mô phỏng, đóng vai, thảo luận nhóm, giải quyết hồ sơ, học qua công việc đã được quan tâm áp dụng, nhưng hiệu quả chưa đạt mức tối đa. Một nguyên nhân quan trọng là số lượng học viên trong một số lớp còn đông, trong khi các phương pháp thực hành nghề nghiệp đòi hỏi lớp học phải có quy mô phù hợp, giảng viên có đủ thời gian quan sát, hướng dẫn, phản hồi và đánh giá từng nhóm, từng học viên. Khi số lượng học viên lớn, hoạt động thảo luận, đóng vai, mô phỏng cưỡng chế, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại hoặc xử lý tình huống chống đối dễ trở thành hoạt động mang tính minh họa, chưa tạo được trải nghiệm học tập sâu cho tất cả học viên.
Bên cạnh đó, việc áp dụng phương pháp học qua công việc trong lĩnh vực THADS cũng gặp khó khăn do yêu cầu bảo mật hồ sơ, tính nhạy cảm của vụ việc, trách nhiệm pháp lý của người đang tổ chức thi hành án và điều kiện phối hợp giữa cơ sở đào tạo với cơ quan THADS địa phương. Từ đó, hoạt động thực tập, thực tế nghề nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn tới mục tiêu rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho người học.
Thứ tư, về cơ sở vật chất và ứng dụng công nghệ thông tin. Mặc dù đã có định hướng tăng cường đầu tư, phát triển học liệu số và triển khai các hình thức đào tạo trực tuyến, đào tạo kết hợp, nhưng thực tế vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Hạ tầng mạng, hệ thống quản lý học tập trực tuyến, kho học liệu số, ngân hàng tình huống, ngân hàng câu hỏi, hệ thống mô phỏng nghiệp vụ và công cụ đánh giá trực tuyến chưa được đầu tư đồng bộ. Ngoài ra, một số cơ sở vật chất đã được sử dụng trong thời gian dài, đang trong quá trình sửa chữa, nâng cấp cũng ảnh hưởng nhất định đến điều kiện tổ chức lớp học, nhất là các lớp học cần không gian thảo luận nhóm, mô phỏng buổi làm việc, tiếp công dân hoặc xử lý tình huống nghiệp vụ.
1.3. Nguyên nhân
1.3.1. Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, áp lực rất lớn của hoạt động THADS. Khối lượng việc và tiền phải thi hành ngày càng tăng, tính chất vụ việc ngày càng phức tạp, nhiều hồ sơ liên quan đến tài sản phải thi hành án có giá trị lớn, tài sản bảo đảm, tín dụng ngân hàng, án kinh tế, tham nhũng, tranh chấp đất đai, nhà ở, doanh nghiệp và đầu tư. Áp lực này làm cho công chức THADS khó bố trí thời gian tham gia đầy đủ các khóa đào tạo, bồi dưỡng dài ngày; đồng thời, các chuyên gia thực tiễn, lãnh đạo, Chấp hành viên, Thẩm tra viên có kinh nghiệm cũng khó dành nhiều thời gian cho công tác giảng dạy, biên soạn tài liệu, xây dựng hồ sơ tình huống.
Thứ hai, hệ thống pháp luật liên quan đến THADS thay đổi nhanh. Một chương trình, giáo trình hoặc hồ sơ tình huống dù được xây dựng công phu nhưng phải cập nhật sau một thời gian ngắn do sự thay đổi của pháp luật đất đai, nhà ở, doanh nghiệp, đầu tư, ngân hàng, đấu giá tài sản hoặc THADS. Điều này tạo áp lực rất lớn đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong việc duy trì tính chính xác, kịp thời và đồng bộ của tài liệu.
Thứ ba, kinh phí dành cho đào tạo, bồi dưỡng còn hạn chế so với yêu cầu đổi mới toàn diện. Việc xây dựng chương trình mới, chỉnh sửa giáo trình, mời chuyên gia thực tiễn, tổ chức lớp quy mô nhỏ để tăng cường thực hành, số hóa học liệu, xây dựng hệ thống học trực tuyến, ngân hàng tình huống và nâng cấp cơ sở vật chất đều đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn. Trong khi đó, ngân sách đào tạo, bồi dưỡng phải phân bổ cho nhiều nhóm đối tượng, nhiều nhiệm vụ khác nhau, nên khó đáp ứng đồng thời tất cả nhu cầu.
Thứ tư, việc nâng cấp cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin là nhiệm vụ cần thời gian dài. Vì thế, trong thời gian ngắn không thể thực hiện đồng bộ hóa phòng học thông minh, hệ thống học liệu số, nền tảng đào tạo trực tuyến, kho dữ liệu tình huống, hệ thống đánh giá và quản trị chất lượng đào tạo. Quá trình này cần lộ trình, nguồn lực, nhân sự kỹ thuật và cơ chế phối hợp giữa các đơn vị có liên quan.
1.3.2. Nguyên nhân chủ quan
Thứ nhất, công tác rà soát, cập nhật chương trình, tài liệu ở một số thời điểm chưa theo kịp tốc độ thay đổi của pháp luật và thực tiễn. Việc cập nhật có lúc còn phụ thuộc nhiều vào từng giảng viên, từng chuyên đề, chưa hình thành đầy đủ cơ chế cập nhật học liệu theo chu kỳ ngắn, linh hoạt và có trách nhiệm rõ ràng. Đối với các tài liệu đã xuất bản bằng bản giấy, việc sửa đổi, thay thế thường phức tạp hơn so với học liệu số, dẫn đến độ trễ nhất định trong cập nhật nội dung.
Thứ hai, việc gắn kết giữa cơ sở đào tạo, bồi dưỡng với cơ quan THADS địa phương tuy đã được quan tâm nhưng cần tiếp tục tăng cường. Đào tạo, bồi dưỡng nghề THADS chỉ đạt hiệu quả cao khi có tính thực tiễn thông qua việc cung cấp hồ sơ thực tế đã được mã hóa, có sự kết nối chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo với các cơ quan THADS địa phương trong quá trình đi thực tập...
Thứ ba, chuyển đổi số trong đào tạo, bồi dưỡng tuy đã được xác định là định hướng quan trọng nhưng việc triển khai cần thêm thời gian để đồng bộ về nhận thức, kỹ năng và công cụ. Một số giảng viên chưa thực sự thành thạo trong thiết kế học liệu số, tổ chức lớp học trực tuyến tương tác cao, sử dụng công cụ đánh giá trực tuyến hoặc khai thác dữ liệu học tập để cải tiến chương trình. Một số học viên chưa có thói quen tự học trên nền tảng số, chưa chủ động khai thác học liệu trước và sau khóa học. Điều này làm cho hiệu quả của mô hình học tập trực tuyến, học tập kết hợp chưa phát huy đầy đủ như kỳ vọng.
2. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng các chức danh thi hành án dân sự
Thứ nhất, về thể chế. Một trong những yêu cầu quan trọng nhất hiện nay là hoàn thiện khung năng lực vị trí việc làm đối với từng chức danh trong Hệ thống THADS như Thư ký thi hành án, Thẩm tra viên, Chấp hành viên và các chức danh lãnh đạo, quản lý. Đây là cơ sở để xác định chuẩn đầu ra của đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng chương trình theo hướng tiếp cận năng lực.
Khung năng lực cần xác định rõ các nhóm năng lực cốt lõi đối với từng chức danh, như: nhóm năng lực chung, nhóm năng lực chuyên môn, nhóm năng lực quản lý. Trên cơ sở đó, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng sẽ được thiết kế theo từng nhóm năng lực cụ thể thay vì dàn trải, chung chung hoặc thiên về lý thuyết.
Đối với Thư ký thi hành án, cần nhấn mạnh năng lực quản lý hồ sơ, hỗ trợ nghiệp vụ, tổng hợp dữ liệu và kỹ năng tham mưu. Đối với Thẩm tra viên, trọng tâm là năng lực kiểm tra, phát hiện sai sót nghiệp vụ, tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đối với Chấp hành viên, cần tập trung vào năng lực tổ chức thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, xử lý tài sản, cưỡng chế, phối hợp liên ngành, giải quyết tình huống phát sinh trong quá trình thi hành án và chịu trách nhiệm về quyết định nghiệp vụ.
Thứ hai, về đổi mới chương trình và tài liệu. Trong giai đoạn mới, đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng phải được xem là khâu đột phá. Chương trình cần được thiết kế theo hướng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, lấy thực tiễn nghề nghiệp làm trung tâm và tăng thời lượng thực hành, giải quyết tình huống.
Tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành cần được điều chỉnh theo hướng khoảng 30% lý thuyết và 70% thực hành, mô phỏng, xử lý tình huống và giải quyết hồ sơ vụ việc. Nội dung lý thuyết cần được tinh giản theo hướng tập trung vào những vấn đề cốt lõi, những điểm mới của pháp luật và những nội dung có ý nghĩa định hướng nghiệp vụ. Phần lớn thời lượng cần dành cho nghiên cứu hồ sơ thực tế đã được mã hóa, mô phỏng các quy trình nghiệp vụ, giải quyết tình huống phát sinh trong thực tiễn.
Đặc biệt, cần xây dựng hệ thống “ngân hàng tình huống THADS” có tính hệ thống, thường xuyên cập nhật và phân loại theo nhóm chuyên đề. Đây là yêu cầu rất cần thiết trong bối cảnh thực tiễn THADS ngày càng đa dạng và phức tạp. Ngân hàng tình huống cần có các tình huống về xác minh điều kiện thi hành án; xử lý tài sản bảo đảm; kê biên, định giá, đấu giá tài sản; án tín dụng ngân hàng; án kinh tế, tham nhũng; thi hành án có yếu tố nước ngoài; cưỡng chế giao tài sản; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý tình huống chống đối; phối hợp liên ngành và xử lý khủng hoảng truyền thông.
Đồng thời, cần xây dựng cẩm nang xử lý các vụ việc khó, các loại án điển hình hoặc các dạng sai sót nghiệp vụ thường gặp. Đây là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho cả giảng viên, học viên, góp phần thống nhất nhận thức và cách áp dụng pháp luật trong toàn Hệ thống THADS.
Một yêu cầu khác là tăng tốc chuyển đổi học liệu sang môi trường số. Giáo trình, hồ sơ tình huống, bài giảng điện tử, video mô phỏng, kho dữ liệu nghiệp vụ và ngân hàng câu hỏi cần được số hóa để thuận lợi cho việc cập nhật, khai thác và tổ chức đào tạo trực tuyến. Việc số hóa học liệu cũng giúp thuận lợi hơn trong cập nhật pháp luật mới, giảm chi phí in ấn và tạo điều kiện để công chức tự học, học liên tục trong quá trình công tác.
Thứ ba, về phát triển đội ngũ giảng viên. Đội ngũ giảng viên là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế phát triển đội ngũ giảng viên theo hướng kết hợp giữa giảng viên cơ hữu và mạng lưới chuyên gia thực tiễn.
Trước hết, cần tiếp tục phát triển mạng lưới giảng viên thỉnh giảng là các chuyên gia, lãnh đạo cơ quan THADS, Chấp hành viên, Thẩm tra viên có nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Đây là lực lượng có khả năng đưa kiến thức thực tiễn vào bài giảng, giúp học viên tiếp cận các hồ sơ khó, các tình huống mới và kinh nghiệm xử lý tình huống thực tế mà giáo trình thông thường khó phản ánh đầy đủ.
Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả của đội ngũ giảng viên thỉnh giảng, cần có cơ chế phù hợp về chế độ đãi ngộ, thời gian tham gia giảng dạy, hỗ trợ xây dựng bài giảng và chia sẻ học liệu. Đồng thời, cần hình thành cơ chế kết nối thường xuyên giữa cơ sở đào tạo với các cơ quan THADS địa phương để tạo nguồn chuyên gia thực tiễn tham gia giảng dạy ổn định, lâu dài.
Đối với giảng viên cơ hữu, cần tăng cường hoạt động thực tế nghề nghiệp tại các cơ quan THADS, tham gia nghiên cứu hồ sơ, dự các cuộc cưỡng chế, tiếp công dân hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo để cập nhật thực tiễn, hiểu sâu áp lực, khó khăn và yêu cầu thực tế của hoạt động THADS.
Ngoài ra, cần chú trọng bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và kỹ năng giảng dạy hiện đại cho đội ngũ giảng viên. Trong bối cảnh đào tạo theo năng lực và chuyển đổi số, giảng viên cần có khả năng thiết kế bài giảng tương tác, xây dựng tình huống, tổ chức mô phỏng, điều hành thảo luận nhóm, giảng dạy trực tuyến và sử dụng công cụ đánh giá hiện đại. Đây là yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng học tập và tăng tính chủ động của học viên.
Thứ tư, về đa dạng hóa phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin. Một trong những định hướng quan trọng trong giai đoạn mới là đa dạng hóa phương thức đào tạo, bồi dưỡng theo hướng linh hoạt, hiện đại và phù hợp với điều kiện công tác của đội ngũ công chức THADS.
Trước hết, cần đẩy mạnh mô hình học tập kết hợp (kết hợp giữa đào tạo trực tiếp và đào tạo trực tuyến). Với mô hình này, các nội dung lý thuyết, cập nhật pháp luật, bài giảng nền tảng có thể được học trực tuyến trước; thời gian học trực tiếp sẽ tập trung cho thảo luận, mô phỏng và xử lý, giải quyết hồ sơ tình huống, thực hành. Điều này giúp tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại, giảm áp lực tập trung dài ngày và tạo điều kiện để công chức chủ động học tập.
Bên cạnh đó, cần phát triển hệ thống học tập trực tuyến chuyên biệt cho lĩnh vực THADS, gồm bài giảng điện tử, video mô phỏng, kho học liệu số, ngân hàng câu hỏi, ngân hàng tình huống và hệ thống đánh giá trực tuyến. Hệ thống này cần bảo đảm tính cập nhật, khả năng tương tác và khả năng theo dõi tiến độ học tập của từng học viên.
Thứ năm, về tăng cường hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng, tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng công chức THADS là yêu cầu cần thiết. Cụ thể, cần đẩy mạnh trao đổi kinh nghiệm với cơ quan THADS, cơ quan tư pháp và cơ sở đào tạo pháp luật của các quốc gia có Hệ thống THADS phát triển. Thông qua các chương trình hợp tác, hội thảo quốc tế, khóa đào tạo ngắn hạn hoặc nghiên cứu trao đổi, đội ngũ giảng viên và công chức THADS có điều kiện tiếp cận kinh nghiệm quốc tế về quản trị thi hành án, chuyển đổi số, xử lý tài sản phức tạp, thi hành án có yếu tố nước ngoài và đào tạo theo năng lực.
TS. Bùi Thị Hà
Phó Giám đốc Học viện Tư pháp
TS. Bùi Nguyễn Phương Lê
Trưởng khoa Khoa Đào tạo các chức danh thi hành án dân sự, Học viện Tư pháp
[1]. Tài liệu Hội thảo về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức THADS năm 2025.
[2]. Tài liệu Hội thảo về nâng cao chất lượng đội ngũ công chức THADS năm 2025.
[3]. Học viện Tư pháp triển khai chương trình bồi dưỡng này từ năm 2014. Từ ngày 01/7/2025, chức danh này được chuyển thành Trưởng THADS khu vực.
[4]. Do Học viện Tư pháp phối hợp với Học viện Hành chính Quốc gia bắt đầu triển khai từ năm 2015.
[5]. Số liệu do Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ, Học viện Tư pháp tự thống kê.
(Nguồn: Ấn phẩm “80 năm Thi hành án dân sự Việt Nam - Vẻ vang truyền thống, vững bước tương lai”, xuất bản năm 2026)