1. Khái quát vai trò của công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan thi hành án dân sự trong bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án
1.1. Mối quan hệ biện chứng giữa xét xử và thi hành án
Bản án, quyết định của Tòa án là kết quả của hoạt động xét xử, biểu hiện tập trung nhất của quyền tư pháp do Tòa án nhân dân thực hiện được quy định tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013). Tuy nhiên, giá trị thực chất của phán quyết tư pháp không dừng lại ở thời điểm tuyên án mà được khẳng định đầy đủ khi được thi hành trên thực tế. Đây chính là điểm tất yếu giữa hai thiết chế: Tòa án nhân dân - cơ quan ra phán quyết và cơ quan THADS - cơ quan tổ chức đưa phán quyết vào cuộc sống.
Mối quan hệ này mang tính biện chứng: hoạt động xét xử tạo “đầu vào” cho thi hành án, trong khi kết quả thi hành án là thước đo thực tiễn về chất lượng xét xử và hiệu lực của phán quyết tư pháp. Một bản án được tuyên đúng pháp luật, nội dung rõ ràng, cụ thể sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho thi hành án. Ngược lại, bản án tuyên không rõ, thiếu căn cứ thực tiễn sẽ là gánh nặng cho cơ quan THADS và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên đương sự.
1.2. Các hoạt động phối hợp giữa Tòa án với cơ quan thi hành án dân sự
1.2.1. Phối hợp cấp, chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án, hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án
Đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, các Tòa án nhân dân tiến hành chuyển giao cho cơ quan THADS có thẩm quyền ngay sau khi ra quyết định. Đối với trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các tài liệu khác có liên quan đến thi hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan THADS, Tòa án gửi kèm theo bản sao biên bản kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên quan. Đối với bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm thì Tòa án chuyển giao bản án, quyết định trên cho cơ quan THADS trong vòng 30 ngày kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Đối với các bản án, quyết định về hình sự có phần tiền, tài sản phải thi hành án, khi ra quyết định thi hành án hình sự đối với bị cáo, Tòa án gửi quyết định thi hành án kèm theo bản án, quyết định để cơ quan THADS biết và tổ chức thực hiện việc thi hành án được nhanh chóng, thuận lợi.
Các Tòa án cũng thực hiện hướng dẫn cho đương sự quyền yêu cầu THADS và ghi rõ, cụ thể trong bản án, quyết định. Đối với đương sự nhận trực tiếp được nghe giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án; đối với đương sự vắng mặt, Tòa án làm thủ tục niêm yết bản án, quyết định tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật để bảo đảm đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Bên cạnh đó, Tòa án luôn khuyến khích, tạo điều kiện cho các đương sự hòa giải, đối thoại để đạt được thỏa thuận chung, tự nguyện thi hành án, hạn chế khiếu nại của đương sự và việc phải cưỡng chế thi hành án.
Mặc dù, còn một số trường hợp Tòa án chậm chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan THADS, nhưng về cơ bản, công tác phối hợp cấp, chuyển giao bản án, quyết định của Tòa án cho cơ quan THADS, hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án được các Tòa án thực hiện tốt theo đúng quy định pháp luật THADS, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THADS.
1.2.2. Phối hợp giải thích, đính chính những bản án, quyết định chưa rõ, trả lời các kiến nghị của cơ quan thi hành án
Các Tòa án luôn quán triệt, chú trọng nâng cao chất lượng giải quyết án, hạn chế tối đa việc phải giải thích, đính chính bản án, quyết định chưa rõ; tổ chức tập huấn viết bản án cho các đối tượng là Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án. Các Tòa án nhân dân cũng chủ động, thường xuyên rà soát các bản án chưa thi hành, phát hiện, xử lý kịp thời các vấn đề thuộc trách nhiệm của Tòa án.
Đối với những bản án, quyết định tuyên không rõ ràng, khó thi hành, các Tòa án nhân dân đã quan tâm, phối hợp trong giải thích, làm rõ theo quy định của pháp luật THADS; thực hiện sửa chữa, bổ sung bản án để việc tổ chức thi hành án được đúng đắn, hiệu quả. Các nội dung sửa chữa, bổ sung bản án hầu hết là lỗi chính tả (như sai số nhà, thiếu thông tin địa chỉ, năm sinh của đương sự), sai số hoặc ngày của biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, sai số liệu, số tiền án phí…
Các Tòa án cũng quan tâm trả lời kịp thời các kiến nghị, giải quyết các yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm của cơ quan THADS.
Quá trình phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan THADS, công tác giải quyết những bản án tuyên không rõ ràng đã có những chuyển biến tích cực. Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, từ năm 2016 đến năm 2020, qua công tác kiểm tra của Tòa án nhân dân tối cao và kiến nghị của cơ quan THADS, năm 2016, các Tòa án đã giải thích, đính chính hoặc kháng nghị đối với 527 bản án, quyết định dân sự và hành chính; năm 2017 đối với 490 bản án, quyết định; năm 2018 đối với 439 bản án, quyết định; năm 2019 đối với 290 bản án, quyết định; năm 2020 đối với 127 bản án, quyết định[1]
1.2.3. Phối hợp xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
Công tác xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước theo đề nghị của cơ quan THADS được các Tòa án quan tâm, chú trọng và thực hiện đúng theo quy định của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 01/9/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS; Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-VKSNDTC-TANDTC ngày 15/9/2015 của Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hướng dẫn miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp ngân sách nhà nước.
Việc thực hiện tốt công tác xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước cho người phải thi hành án thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với các trường hợp người phải thi hành án không có điều kiện thi hành, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người phải thi hành án, đồng thời, góp phần tháo gỡ khó khăn, giải quyết tình trạng án tồn đọng chưa có điều kiện thi hành ngày càng tăng trong thời gian qua.
2. Thực trạng công tác phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan thi hành án dân sự trong thời gian qua
2.1. Kết quả đạt được và các mô hình phối hợp hiệu quả
Thời gian qua, công tác phối hợp giữa Tòa án và các cơ quan THADS đã đạt được những kết quả nổi bật, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác THADS.
Năm 2024 đánh dấu kết quả THADS cao nhất từ trước đến nay, với trên 621.568 việc được thi hành xong, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2023, đạt tỷ lệ 83,86% so với số việc có điều kiện thi hành. Kết quả này phản ánh sự phối hợp ngày càng chặt chẽ và hiệu quả hơn giữa các cơ quan trong hệ thống tư pháp, trong đó, có sự đóng góp quan trọng của cơ chế phối hợp giữa Tòa án và cơ quan THADS.
Về xây dựng mô hình phối hợp, nổi bật nhất là mô hình Ban Chỉ đạo THADS hai cấp (tỉnh và huyện trước sắp xếp bộ máy hành chính), với sự tham gia chủ trì hoặc phối hợp của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an và cơ quan THADS. Mô hình này phát huy hiệu quả trong chỉ đạo xử lý các vụ việc phức tạp, đặc biệt, các vụ liên quan đến thu hồi tài sản trong án kinh tế, tham nhũng, các vụ việc có ảnh hưởng đến an ninh, trật tự.
Về ứng dụng công nghệ, Tòa án nhân dân tối cao và Tổng cục THADS (nay là Cục Quản lý THADS) đã phối hợp triển khai cơ sở dữ liệu điện tử, kết nối hệ thống thông tin về bản án, quyết định; triển khai dịch vụ công trực tuyến trong thu nộp án phí, giảm thiểu thủ tục giấy tờ và thời gian xử lý hồ sơ. Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục mở rộng phối hợp số trong giai đoạn tới.
Về phối hợp trong giải quyết bản án tuyên không rõ, nhiều địa phương đã xây dựng cơ chế phối hợp định kỳ (06 tháng/lần hoặc hàng quý) giữa Tòa án và cơ quan THADS để rà soát, xử lý các vụ việc khó thi hành, phức tạp. Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ đạo Tòa án các cấp coi việc phối hợp với cơ quan THADS để xác định, xử lý bản án tuyên không rõ, khó thi hành là một trong những nhiệm vụ trọng tâm.
2.2. Những khó khăn, vướng mắc
Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, công tác phối hợp còn bộc lộ một số hạn chế, cụ thể:
Một là, chất lượng bản án, quyết định chưa đồng đều. Thực tiễn cho thấy, một số bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ đối tượng thi hành, phương thức thực hiện hoặc tuyên nhưng trên thực tế không có căn cứ để thi hành (tài sản bảo đảm không tồn tại trên thực tế, người phải thi hành án không đúng pháp luật, không rõ ý...). Tình trạng này gây khó khăn cho cơ quan THADS và là nguyên nhân chính dẫn đến án tồn đọng kéo dài.
Hai là, việc chuyển giao hồ sơ còn chậm trễ. Mặc dù, pháp luật quy định rõ thời hạn Tòa án phải gửi bản sao bản án, quyết định cho cơ quan THADS, nhưng trên thực tế, việc chuyển giao hồ sơ ở một số nơi chưa đúng hạn, thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến tiến độ tổ chức thi hành án.
Ba là, việc giải thích bản án chưa đáp ứng yêu cầu. Khi cơ quan THADS kiến nghị Tòa án giải thích hoặc sửa chữa bản án, quyết định, một số trường hợp Tòa án trả lời chậm hoặc nội dung giải thích chưa đủ rõ để giải quyết vướng mắc trong thi hành án. Điều này dẫn đến tình trạng vụ việc bị kéo dài, phát sinh khiếu nại, tố cáo của đương sự.
Bốn là, cơ chế phối hợp trong xử lý tài sản phức tạp còn hạn chế. Đối với các vụ án kinh tế lớn, có tài sản là bất động sản giá trị cao, pháp lý phức tạp hoặc tài sản ở nhiều địa phương, việc phối hợp giữa Tòa án (trong giai đoạn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời) và cơ quan THADS (trong giai đoạn cưỡng chế) đôi khi chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng tài sản bị biến động trong giai đoạn chờ thi hành án.
Năm là, trong công tác phối hợp xét miễn, giảm các khoản thu nộp ngân sách nhà nước, một số hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm khi chuyển sang Tòa án còn thiếu tài liệu, chứng cứ để xác định điều kiện được xét miễn, giảm.
Sáu là, việc phối hợp giải quyết các vụ việc liên quan đến tài sản thi hành án có tranh chấp hay phân chia tài sản chung gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong thụ lý, xét xử và tổ chức thi hành án, kết quả giải quyết còn chậm do các bên đương sự tìm cách trốn tránh, trì hoãn, gây khó khăn trong thu thập chứng cứ để kéo dài quá trình giải quyết.
Bảy là, khi Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, công tác phối hợp của các cơ quan trong tổ chức thực hiện còn chậm, có tâm lý sợ phát sinh trách nhiệm dẫn đến việc trì hoãn thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.
Tám là, có trường hợp Tòa án ban hành thông báo tạm ứng án phí có sai sót về đối tượng hoặc số tiền,… nhưng cơ quan THADS không phát hiện ra ngay từ đầu để yêu cầu Tòa án điều chỉnh, đến khi vụ việc đã giải quyết xong thì mới phát hiện sai sót gây khó khăn trong việc điều chỉnh biên lai tạm ứng án phí, cách tính án phí, đối tượng chịu án phí, đính chính, giải thích bản án. Có trường hợp khi vụ việc đã giải quyết xong, hồ sơ đã lưu kho nhưng cơ quan THADS đề nghị Tòa án cung cấp bản photo chứng minh nhân dân để hoàn án phí cho đương sự. Có trường hợp cơ quan THADS ghi không rõ ngày, tháng, năm trong biên lai thu tạm ứng án phí nên Tòa án không ghi cụ thể ngày nộp án phí được hoặc biên lai bị mờ nên Tòa án ghi không chính xác số tiền thu tạm ứng án phí.
Chín là, một số vụ việc, Tòa án, cơ quan THADS còn có ý kiến khác nhau, chưa đồng thuận về phương án giải quyết vướng mắc, phương án bảo vệ cưỡng chế hoặc giao, nhận vật chứng, thu các khoản tiền, tài sản mà người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù hoặc thân nhân của họ nộp để thi hành án... dẫn đến việc phải giải thích, kiến nghị làm ảnh hưởng đến tiến độ tổ chức thi hành án.
Mười là, chưa có hướng dẫn thống nhất cấp Tòa án giải thích bản án trong trường hợp bản án phúc thẩm y án sơ thẩm. Hiện, các trường hợp này Tòa án cấp phúc thẩm thường giao về Tòa án cấp sơ thẩm giải thích nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không có hồ sơ vụ án để nghiên cứu giải thích.
Mười một là, các quy định của pháp luật về THADS và các văn bản pháp luật liên quan chưa đồng bộ dẫn đến khó khăn cho cơ quan thi hành án trong áp dụng, phối hợp tổ chức thi hành án.
Mười hai là, hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ. Quá trình kết nối dữ liệu, trao đổi thông tin điện tử giữa Tòa án và cơ quan THADS phụ thuộc vào khả năng công nghệ của từng địa phương, dẫn đến sự không đồng bộ trong triển khai thi hành.
2.3. Nguyên nhân của khó khăn, vướng mắc
Thứ nhất, nguyên nhân khách quan.
(i) Tòa án được phân bổ kinh phí tống đạt văn bản tố tụng qua thừa phát lại/thừa hành viên không đủ so với số lượng văn bản tố tụng phải tống đạt nên các Thẩm phán phải tự thực hiện việc niêm yết, tống đạt làm ảnh hưởng đến thời gian nghiên cứu giải quyết án, cũng như ảnh hưởng đến thời điểm xác định bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án. Số lượng vụ án mà Tòa án phải thụ lý giải quyết ngày càng tăng cả về vụ việc và tính chất phức tạp, trong khi biên chế hiện tại của hệ thống Tòa án thiếu, dẫn đến việc quá tải; thiếu Thư ký giúp việc cho Thẩm phán, một Thư ký phải giúp việc cho nhiều Thẩm phán không tránh khỏi việc nhầm lẫn số liệu, lỗi đánh máy... cần sửa chữa, bổ sung.
(ii) Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình sơ thẩm có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, nếu đương sự ở nước ngoài mà vắng mặt tại phiên tòa thì Tòa án phải tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp theo quy định tại Thông tư liên tịch số 15/2011/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 15/9/2011 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự của Luật Tương trợ tư pháp, khi đó, phải chờ kết quả trả lời ủy thác thì bản án, quyết định mới được xác định là có hiệu lực pháp luật. Do vậy, Tòa án không thể chuyển bản án, quyết định cho cơ quan THADS theo quy định.
(iii) Chưa có hướng dẫn việc thụ lý, giải quyết yêu cầu phân chia tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung của hộ gia đình, tài sản thuộc sở hữu chung.
(iv) Có trường hợp bản án, quyết định được ban hành đã lâu, sau đó, cơ quan THADS mới phát hiện và yêu cầu đính chính, giải thích, lúc này, Thẩm phán ban hành bản án đó đã nghỉ hưu hoặc chuyển công tác khác gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc đính chính, giải thích bản án. Tòa án phải mất nhiều thời gian truy lục hồ sơ để giải quyết.
Thứ hai, nguyên nhân chủ quan.
(i) Về cơ bản, nhận thức việc thực hiện phối hợp liên ngành trong thi hành án được nâng cao, tuy nhiên, có nơi, có lúc còn chưa đầy đủ, chưa thường xuyên; trong từng vụ việc cụ thể, cán bộ có trách nhiệm giải quyết vụ án, tổ chức thi hành án còn chủ quan, chưa nắm bắt đầy đủ các quy định pháp luật về THADS nên xảy ra thiếu sót trong chuyển giao bản án, quyết định, chậm yêu cầu giải thích bản án.
(ii) Công tác kiểm tra, đôn đốc các Thẩm phán, Thư ký trong giao bản án, quyết định, đính chính, giải thích bản án chưa thường xuyên, bởi người làm công tác này thường phải kiêm nhiệm nhiều công việc nghiệp vụ khác nên chưa thực sự sâu sát trong tham mưu thực hiện Quy chế phối hợp.
(iii) Một số Thẩm phán chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, còn hạn chế về trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ, việc nhận thức và áp dụng pháp luật chưa thống nhất dẫn đến bản án, quyết định được ban hành phải đính chính, giải thích, sửa chữa, bổ sung. Một số bản án, quyết định tuyên không chính xác, không đúng với thực tế nên gây khó khăn trong tổ chức thi hành án.
(iv) Một số cơ quan THADS là đơn vị chủ trì trong công tác phối hợp chưa kịp thời, chưa chủ động đề xuất phối hợp tổ chức liên ngành để giải quyết vướng mắc trong quá trình thi hành án.
3. Yêu cầu đặt ra đối với công tác phối hợp trong giai đoạn mới
3.1. Yêu cầu từ chủ trương, đường lối của Đảng
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới xác định rõ: “Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan trong thi hành án hình sự, dân sự và hành chính; thực hiện xã hội hóa một số hoạt động thi hành án dân sự với cơ chế bảo đảm và lộ trình phù hợp” và “Hoàn thiện cơ chế nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành án dân sự, hành chính theo hướng rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí”. Đây là định hướng chính trị cao nhất, đặt ra yêu cầu phải đổi mới căn bản cơ chế phối hợp giữa Tòa án và cơ quan THADS.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tiếp tục đặt ra yêu cầu ứng dụng công nghệ số toàn diện trong hoạt động tư pháp, tạo áp lực đổi mới cơ chế phối hợp theo hướng số hóa, tự động hóa.
3.2. Yêu cầu từ bối cảnh kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự gia tăng của các giao dịch thương mại, đầu tư có yếu tố nước ngoài đặt ra yêu cầu ngày càng cao về hiệu quả và tốc độ thi hành án. Môi trường đầu tư, kinh doanh phụ thuộc rất lớn vào khả năng thực thi hợp đồng và thu hồi nợ qua “con đường” tư pháp - các chỉ số này được đánh giá trong nhiều bảng xếp hạng quốc tế như môi trường kinh doanh (Doing Business) của Ngân hàng Thế giới. Một hệ thống thi hành án hiệu quả, dựa trên cơ chế phối hợp tốt với Tòa án, là điều kiện để Việt Nam cải thiện thứ hạng và thu hút đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu chống hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế; ưu tiên biện pháp dân sự, hành chính trước hình sự; bảo đảm việc kê biên, phong tỏa tài sản đúng thẩm quyền, trình tự, không xâm phạm quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp và người dân. Điều này đòi hỏi cơ chế phối hợp giữa Tòa án và cơ quan THADS phải được vận hành chính xác, tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt.
3.3. Yêu cầu từ Luật Thi hành án dân sự năm 2025
Luật THADS năm 2025 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, mở ra giai đoạn mới với nhiều yêu cầu cao hơn về phối hợp. Cụ thể, hệ thống Tòa án nhân dân các cấp phải phối hợp với Bộ Tư pháp trong tạo lập, kết nối, chia sẻ, khai thác cơ sở dữ liệu về THADS; hướng dẫn Tòa án các cấp trong tiếp nhận, chuyển giao văn bản, hồ sơ, tài liệu, thông tin trên môi trường số. Đây không còn là yêu cầu mang tính khuyến khích mà đã được luật hóa, đặt ra trách nhiệm pháp lý cụ thể cho Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân các cấp.
4. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan Thi hành án dân sự
4.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế phối hợp
Một là, xây dựng và ban hành quy chế phối hợp liên ngành toàn diện giữa Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp (Cục Quản lý THADS) sau khi Luật THADS năm 2025 có hiệu lực, thay thế các quy chế cũ và cập nhật đầy đủ các cơ chế phối hợp trong môi trường số, phối hợp xử lý bản án tuyên không rõ, phối hợp trong thi hành các vụ án kinh tế có giá trị lớn. Quy chế cần xác định rõ thời hạn, hình thức, trách nhiệm cá nhân trong từng nội dung phối hợp, kèm theo cơ chế giám sát và chế tài xử lý vi phạm.
Hai là, nghiên cứu xây dựng cơ chế trách nhiệm rõ ràng hơn của Tòa án trong bảo đảm chất lượng bản án, quyết định có tính khả thi trong thi hành. Cần xem xét đưa tiêu chí về tỷ lệ bản án “khó thi hành” do nguyên nhân chủ quan từ chất lượng xét xử vào hệ thống đánh giá thi đua của ngành Tòa án, tạo động lực thực chất để nâng cao chất lượng xét xử.
Ba là, rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 về biện pháp khẩn cấp tạm thời theo hướng tăng cường hiệu quả bảo toàn tài sản phục vụ thi hành án, đặc biệt, trong các vụ án kinh tế, thương mại có giá trị lớn.
4.2. Tăng cường phối hợp trong ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số
Một là, khẩn trương xây dựng và kết nối Hệ thống thông tin THADS với Hệ thống thông tin quản lý vụ án của Tòa án, bảo đảm cập nhật tự động, đồng bộ về tình trạng bản án, quyết định (đã có hiệu lực, đang kháng nghị, đã chuyển thi hành...), hồ sơ vụ án và thông tin đương sự, tài sản. Mục tiêu là đến năm 2027, toàn bộ việc chuyển giao hồ sơ thi hành án giữa Tòa án và cơ quan THADS được thực hiện trên môi trường số, không dùng hồ sơ giấy.
Hai là, xây dựng Cổng thông tin dùng chung phục vụ tra cứu, xác minh thông tin về đương sự, tài sản (kết nối với cơ sở dữ liệu đất đai, đăng ký xe, tài khoản ngân hàng, VNeID) phục vụ công tác xét xử và thi hành án. Việc chia sẻ, khai thác thông tin cần được thực hiện theo đúng quy định pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Ba là, thí điểm và nhân rộng mô hình Tòa án điện tử kết nối trực tuyến với cơ quan THADS, cho phép truyền tải bản án, quyết định của Tòa án, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay tại phiên tòa, rút ngắn thời gian từ khi tuyên án đến khi ra quyết định thi hành án.
4.3. Nâng cao chất lượng xét xử gắn với yêu cầu thi hành án
Một là, tổ chức các hội nghị, hội thảo liên ngành định kỳ hằng năm giữa Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp (Cục Quản lý THADS), Viện kiểm sát nhân dân tối cao để tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm về những bản án, quyết định có chất lượng chưa tốt, thiếu tính khả thi và ban hành hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời.
Hai là, đưa nội dung về kỹ năng tuyên án, đánh giá tính khả thi trong thi hành bản án, quyết định vào chương trình nghiên cứu, đào tạo bồi dưỡng Thẩm phán, Thư ký Tòa án. Kinh nghiệm thực tiễn từ cơ quan THADS cần được đưa vào giảng dạy như một phần quan trọng trong đào tạo nghề tư pháp.
Ba là, hoàn thiện và tăng cường thực hiện cơ chế Tòa án giải thích bản án, quyết định kịp thời khi cơ quan THADS hoặc đương sự có yêu cầu hợp lệ. Cần đặt thời hạn cụ thể và cơ chế theo dõi kết quả thực hiện giải thích.
4.4. Tăng cường phối hợp trong xử lý án kinh tế, tham nhũng và thu hồi tài sản nhà nước
Một là, xây dựng cơ chế đặc thù trong phối hợp giữa Tòa án và cơ quan THADS đối với các vụ án kinh tế, tham nhũng lớn, trong đó, Tòa án cần thông báo sớm cho cơ quan THADS về tiến độ xét xử, nội dung dự kiến của bản án liên quan đến xử lý tài sản để cơ quan THADS chuẩn bị sẵn các điều kiện thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Hai là, tăng cường vai trò của Ban Chỉ đạo THADS các cấp trong theo dõi, đôn đốc việc thi hành các bản án, quyết định có giá trị lớn liên quan đến tài sản nhà nước, yêu cầu phối hợp giữa nhiều cơ quan, địa phương.
4.5. Kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ
Ngành Tòa án và Hệ thống THADS cần tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt, về kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, kỹ năng phối hợp liên ngành và nhận thức về trách nhiệm phối hợp. Luật THADS năm 2025 bổ sung chức danh Chấp hành viên trưởng đã bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong công tác phối hợp với các cơ quan tố tụng. Đồng thời, cần có cơ chế luân chuyển, trao đổi kinh nghiệm giữa cán bộ Tòa án và cơ quan THADS, tạo sự hiểu biết lẫn nhau và tinh thần trách nhiệm cao trong phối hợp công tác.
Trải qua 80 năm xây dựng và phát triển, Hệ thống THADS Việt Nam đã khẳng định vị trí không thể thiếu trong cơ cấu tư pháp quốc gia. Trong suốt hành trình đó, mối quan hệ phối hợp giữa Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS luôn là yếu tố trọng tâm, quyết định tính thực chất của quyền tư pháp và giá trị bảo vệ công lý mà hệ thống tư pháp mang lại cho Nhân dân. Kỷ niệm 80 năm Ngày Truyền thống THADS là thời điểm để nhìn lại, tổng kết và định hướng tương lai. Tin tưởng rằng, với sự quyết tâm chính trị cao, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và tinh thần phối hợp chủ động, trách nhiệm, Tòa án nhân dân và các cơ quan THADS Việt Nam sẽ tiếp tục viết thêm những trang vàng trong chặng đường xây dựng nền tư pháp công minh, hiệu quả - nền tảng vững chắc cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Tòa án nhân dân tối cao
(Ảnh: Inernet)
[1]. Báo cáo số 47/BC-TA ngày 20/10/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của Tòa án trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV.
(Nguồn: Ấn phẩm “80 năm Thi hành án dân sự Việt Nam - Vẻ vang truyền thống, vững bước tương lai”, xuất bản năm 2026)