![]() |
| Cục Quản lý Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp Việt Nam ký Chương trình hợp tác 2026 - 2027 với Cơ quan Thi hành án Liên bang Nga |
1. Những thành tựu đạt được của công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Từ khi thực hiện công cuộc Đổi Mới năm 1986 đến nay, Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế sâu, rộng vàtoàn diện. Vì thế, các vấn đề có yếu tốnước ngoài vàhợp tác quốc tế trong lĩnh vực THADS ngày càng xuất hiện thường xuyên vàđược quan tâm toàn diện hơn. Pháp lệnh THADS năm 1989 chỉ đề cập đến thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận trong phạm vi các bản án, quyết định được thi hành (điểm đ khoản 1 Điều 3). Pháp lệnh THADS năm 2004 bổ sung quyết định của trọng tài nước ngoài trong phạm vi các bản án, quyết định được thi hành (khoản 2 Điều 1). Đến Luật THADS năm 2008, chỉ có một điều khoản riêng về tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án (Điều 181), sau đó được hướng dẫn cụ thể hơn trong các văn bản dưới luật. Giai đoạn xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật THADS năm 2014, Luật THADS năm 2025, các vấn đề có yếu tốnước ngoài đã được đề cập nhiều hơn. Việt Nam cũng đã từng bước tham gia vào các công ước quốc tế có liên quan đến THADS, như Công ước New York năm 1958 về công nhận vàthi hành các quyết định trọng tài nước ngoài; Công ước LaHay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp vàngoài tư pháp; về bãi bỏ yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự… Các quy định này cũng đã từng bước được thể chế hóa vào pháp luật THADS của Việt Nam.
Để hoạt động THADS thích ứng được với yêu cầu hội nhập quốc tế, hài hoàvới các nguyên tắc cơ bản của thế giới về THADS, kịp thời nắm bắt được những thành tựu, kinh nghiêm của các nước trong lĩnh vực thi hành án, trong thời gian quan, công tác hợp tác quốc tế ngày càng được chú trọng. Các hoạt động hợp tác quốc tế về pháp luật trong THADS song phương vàđa phương được thúc đẩy mạnh mẽ. Cụ thể:
Thứ nhất, hoạt động hợp tác quốc tế được quan tâm, không ngừng mở rộng, phát triển đa dạng và toàn diện. Công tác hợp tác quốc tếđược Đảng ủy, Lãnh đạo BộTư pháp quan tâm lãnh đạo, chỉđạo, định hướng toàn diện thông qua Nghịquyết lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2018 - 2021 và 2022 – 2026[1]. Cục Quản lý THADS đã chủ động tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế, như thực hiện các chương trình, dự án do Bộ Tư pháp là cơ quan chủ quản; tổ chức/ tham gia các hội nghị, hội thảo quốc tế về THADS; thực hiện các đoàn ra, đoàn vào có nội dung liên quan đến công tác THADS. Đặc biệt, Cục đã chủ động điều chỉnh cách thức thực hiện để phù hợp với tình hình dịch bệnh vàđáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác được phân công[2].
Chính vì vậy, công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực THADS được đẩy mạnh, tranh thủtối đa các nguồn lực và kinh nghiệm phục vụnghiên cứu, hoàn thiện thểchếvềTHADS, thi hành án hành chính (THAHC) cũng như đầu tư xây dựng, nâng cấp trang thiết bị, phương tiện làm việc, phát triển hạ tầng công nghệ, ứng dụng công nghệ thông tin trong Hệ thống THADS. Cục Quản lý THADS đã mởrộng quan hệhợp tác với các tổ chức quốc tếvà các quốc gia; tham gia tích cực các định chế, các hội nghịdiễn đàn THADS quốc tế và khu vực như hội nghị của Hiệp hội quốc tếcác chức danh tư pháp (UIHJ), hội nghịthường niên vềTHADS; đồng thời, đẩy mạnh việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác quốc tếvềTHADS và tăng cường hơn nữa sựphối hợp chung trong hoạt động thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, trọng tài nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ hai, hợp tác song phương ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ vàhiệu quả. Quan hệ hợp tác quốc tế về THADS với các nước láng giềng ngày càng đi vào chiều sâu, hiệu quả và thực chất hơn. Cục Quản lýTHADS vàcác cơ quan THADS địa phương tham gia tích cực vàphối hợp hiệu quả với cơ quan THADS các nước trong khuôn khổ Hội nghị Tư pháp các tỉnh có chung đường biên giới với Lào, Campuchia. Cục tham mưu Bộ Tư pháp tăng cường hợp tác với Tòa án nhân dân tối cao Trung Quốc trong lĩnh vực THADS, nhất là sau Hội nghị Tư pháp các tỉnh có chung đường biên giới Việt - Trung năm 2025.
Đồng thời, quan hệ hợp tác giữa Bộ, ngành Tư pháp với các đối tác truyền thống, chiến lược, toàn diện được tăng cường, mở rộng với nhiều hoạt động hợp tác hiệu quả trong lĩnh vực THADS, như hoạt động của Tổ công tác hỗn hợp Việt Nam - Nga, tham dự Diễn đàn pháp luật quốc tế Saint-Peterburg thường niên. Đặc biệt, trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc của đoàn công tác của Cục trưởng Nguyễn Thắng Lợi tại Liên bang Nga, Cục Quản lýTHADS, Bộ Tư pháp Việt Nam vàCơ quan Thi hành án Liên bang Nga đã ký Bản ghi nhớ hợp tác song phương tạo khuôn khổ hợp tác bền vững vàlâu dài. Bên cạnh đó, Cục Quản lýTHADS cũng tăng cường hợp tác với Cộng hòa Liên bang Đức, triển khai hoạt động hợp tác quốc tế về THADS trong khuôn khổ Chương trình hợp tác Đối thoại nhà nước pháp quyền với Bộ Tư pháp và bảo vệ người tiêu dùng; duy trì quan hệ hợp tác thường xuyên, lâu dài với Hội đồng Thừa phát lại của Pháp... Ngoài ra, Cục Quản lýTHADS không ngừng mở rộng thiết lập và tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác khác như Thái Lan, Thụy Điển, Uzbekistan, Vương quốc Anh, Hàn Quốc, Canada, Ý, Slovenia... Việc hợp tác với các cơ quan Thi hành án có uy tín trên thế giới là cơ hội quan trọng để Việt Nam nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế nhằm hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa quy trình THADS.
Thứ ba, hợp tác đa phương khu vực vàtoàn cầu được quan tâm đẩy mạnh theo phương châm chủ động, trách nhiệm, bài bản vàhiệu quả. Trong hợp tác với các thiết chế đa phương toàn cầu về pháp luật vàtư pháp, Cục Quản lýTHADS đã chủ động tham gia vào các hoạt động của Hiệp hội quốc tế về các chức danh tư pháp (UIHJ) như Diễn đàn, hội thảo quốc tế, đối thoại trực tiếp, trực tuyến với Ban Lãnh đạo UIHJ vànghiên cứu về việc gia nhập UIHJ để nâng cao hiệu quả hợp tác. Các hoạt động hợp tác đa phương của hệ thống THADS đã giới thiệu, quảng bá hiệu quả hoạt động THADS, giúp thế giới hiểu rõ hơn về công tác THADS ở Việt Nam, qua đó, thu hút những chuyên gia, nhà khoa học trên thế giới đóng góp, đề xuất, kiến nghị những biện pháp, giải pháp, kinh nghiệm tốt để tăng cường hiệu quả công tác THADS, góp phần thực thi quyền của người được vàngười phải thi hành án, bảo vệ tốt hơn quyền vàlợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình THADS.
Thứ tư, nhiệm vụ hợp tác quốc tế được thể hiện rõ nét trong việc tổ chức thi hành án, thông qua các thủ tục ủy thác tư pháp để thông báo thi hành án, giải quyết các vụ việc có yếu tốnước ngoài; phối hợp thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế, điển hình như việc thu hồi tài sản từ Singapore của Giang Kim Đạt; giải quyết các vụ việc tranh chấp đầu tư quốc tế.
2. Một số hạn chế, khó khăn, thách thức
Bên cạnh những kết quả đạt được, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực THADS còn gặp phải một số khó khăn, thách thức.
Trước hết, việc nghiên cứu, học tập mô hình, kinh nghiệm các nước phải đảm bảo có chiều rộng đủ lớn để đánh giá tổng quát, toàn diện về các xu hướng chính trên thế giới. Tuy nhiên, để nghiên cứu, áp dụng được vào thực tiễn Việt Nam thì phải xây dựng và duy trì các hoạt động hợp tác có chiều sâu, bài bản, với các lĩnh vực, chủ đề cụ thể. Tuy nhiên, nguồn nhân lực vàvật lực phục vụ cho công tác này trong lĩnh vực THADS còn hạn hẹp.
Đối với công tác tổ chức vànghiệp vụ THADS, sự khác biệt về hệ thống pháp luật, mô hình tổ chức thi hành án, thẩm quyền của cơ quan thi hành án vàthủ tục công nhận, cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có thể làm phát sinh độ trễtrong phối hợp xử lýcác vụ việc có yếu tốnước ngoài. Trong nhiều trường hợp, việc xác minh điều kiện thi hành án, truy tìm tài sản, phong tỏa tài khoản hoặc xử lýtài sản ở nước ngoài phụ thuộc rất lớn vào cơ chế tương trợ tư pháp, điều ước quốc tế vàmức độ hợp tác của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Cùng với đó, sự phát triển nhanh của kinh tế số, giao dịch xuyên biên giới, tài sản số, dòng tiền điện tử vàcác mô hình kinh doanh mới đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực nhận diện, xác minh, xử lýtài sản trong THADS. Đội ngũ công chức thi hành án không chỉ cần vững về nghiệp vụ trong nước màcòn cần được tăng cường kiến thức về pháp luật quốc tế, pháp luật so sánh, ngoại ngữ pháp lývàkỹ năng phối hợp liên ngành, liên quốc gia. Đây lànhững vấn đề cần được nhận diện đầy đủ để công tác hợp tác quốc tế thực sự đi vào chiều sâu, phục vụ trực tiếp cho yêu cầu nâng cao hiệu quả THADS trong giai đoạn mới.
3. Yêu cầu đặt ra đối với công tác hợp tác quốc tế trong thi hành án dân sự bước vào kỷ nguyên mới
Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực THADS không chỉ mở rộng quan hệ đối ngoại, màcòn góp phần trực tiếp hoàn thiện thể chế, chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ vànâng cao năng lực đội ngũ công chức thi hành án. Thông qua các hoạt động trao đổi đoàn nghiên cứu, hội nghị, hội thảo quốc tế, chương trình hỗ trợ kỹ thuật vàhợp tác chuyên môn, Hệ thống THADS Việt Nam có điều kiện tiếp cận kinh nghiệm quốc tế về mô hình tổ chức thi hành án, cơ chế xác minh tài sản, áp dụng biện pháp cưỡng chế, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi sốvàbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình thi hành án. Đây làcơ sở quan trọng để từng bước hiện đại hóa hoạt động THADS, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh vàhội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Đồng thời, toàn cầu hóa vàhội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển nhanh chóng của cuộc Cách mạng công ngiệp lần thứ tư đã vàđang đặt ra những thách thức lớn đối với Việt Nam, nhất làviệc thi hành các vụ việc có yếu tổ nước ngoài.
Trong bối cảnh, tình hình như trên, đòi hỏi công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực THADS cần đáp ứng các yêu cầu sau:
Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng ủy, Lãnh đạo Bộ Tư pháp đối với các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực THADS.
Yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng, thi hành pháp luật, cải cách tư pháp, xây dựng vàhoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo đúng định hướng Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đặc biệt, yêu cầu tăng trưởng kinh tế hai con sốđòi hỏi các cơ quan pháp luật và tư pháp, trong đó có các cơ quan THADS phải tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy về THADS, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới về các mô hình, biện pháp, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của công tác THAHC, THADS.
Thứ hai, công tác hợp tác quốc tế phải phục vụ và phát huy hiệu quả cho các hoạt động của Hệ thống THADS, văn phòng THADS vàchuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ công chức THADS, Thừa hành viên. Cần tiếp thu có chọn lọc những tri thức và kinh nghiệm tốt của các nước phù hợp với truyền thống và thực tiễn của Việt Nam, bảo đảm giữ vững nguyên tắc độc lập, chủ quyền quốc gia, cảnh giác với mọi âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực phản động, thù địch[3].
Trên tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, hợp tác quốc tế trong THADS cần hướng mạnh hơn vào việc phục vụ hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và tạo môi trường pháp lýminh bạch, ổn định, thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư.
4. Định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong thi hành án dân sự
Để đáp ứng được các yêu cầu, đòi hỏi của đất nước trước bối cảnh mới, công tác hợp tác quốc tế trong THADS cần thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó, tập trung vào các vấn đề chính sau:
Thứ nhất, tăng cường giao lưu, trao đổi, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm từ các quốc gia trên thế giới phù hợp với điều kiện của Việt Nam với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ song phương. Mở rộng mối quan hệ hợp tác với các đối tác trong khu vực và trên thế giới về THADS, bảo đảm thực chất, đi vào chiều sâu, phục vụ tiến trình cải cách tư pháp vàđào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Hệ thống THADS.
Đồng thời, cần chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin đối ngoại giúp thế giới hiểu rõ hơn về công tác THADS ở Việt Nam, qua đó, thu hút những chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực này trên thế giới đóng góp, đề xuất, kiến nghị những biện pháp, giải pháp, kinh nghiệm tốt để tăng cường hiệu quả công tác THADS, góp phần bảo đảm quyền của người được và người phải thi hành án, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình THADS.
Thứ hai, tăng cường hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện thủ tục THADS giữa các cơ quan THADS của Việt Nam vàcác nước thông qua nghiên cứu tiến tới hài hòa hóa pháp luật về THADS với các quốc gia trên thế giới, đẩy nhanh quy trình THADS, góp phần tích cực để giải quyết các tranh chấp vàyêu cầu khác phát sinh trong quan hệ giữa công dân, pháp nhân của Việt Nam vàcác nước, nâng cao năng lực tổ chức thi hành các vụ việc có yếu tố nước ngoài để phục vụ hiệu quả tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế, đồng thời, bảo đảm lợi ích của các đương sự trong các vụ việc có yếu tố nước ngoài. Tăng cường ký kết, tham gia các điều ước quốc tế về thu hồi tài sản tham nhũng nhằm nâng cao hiệu quả trong thu hồi tài sản trong các vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế.
Thứ ba, chủ động và tích cực tham gia các thể chế đa phương, phát huy vai trò tại các tổ chức, diễn đàn, cơ chế hợp tác về THADS, xây dựng và triển khai kế hoạch gia nhập các tổ chức, diễn đàn khác, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; từng bước phát huy vai trò thành viên chủ động, tích cực, quan trọng vàcó trách nhiệm tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là các cơ chế có tầm quan trọng chiến lược.
Thứ tư, tăng cường năng lực đội ngũ làm công tác hợp tác quốc tế và xử lý việc THADS có yếu tố nước ngoài. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về pháp luật quốc tế, pháp luật so sánh, ngoại ngữ pháp lý, kỹ năng đàm phán, kỹ năng xây dựng vàtriển khai thỏa thuận hợp tác quốc tế, kỹ năng khai thác điều ước quốc tế và kỹ năng xử lý hồ sơ ủy thác tư pháp.
Thứ năm, gắn hợp tác quốc tế với chuyển đổi số và hiện đại hóa quản trị THADS. Cần tăng cường trao đổi kinh nghiệm về xây dựng cơ sở dữ liệu thi hành án, quản lý hồ sơ điện tử, kết nối thông tin với cơ quan đăng ký tài sản, tổ chức tín dụng, cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm xã hội vàcác thiết chế liên quan; đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về sử dụng công nghệ trong xác minh điều kiện thi hành án, theo dõi dòng tiền, quản lý tài sản, công khai, minh bạch thông tin và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Thứ sáu, nâng cao chất lượng, hiệu quả thông tin đối ngoại về THADS Việt Nam. Chủ động giới thiệu mô hình tổ chức, kết quả, thành tựu, kinh nghiệm cải cách vàchuyển đổi số của THADS Việt Nam tại các diễn đàn khu vực và quốc tế. Xây dựng các ấn phẩm, video, tài liệu giới thiệu bằng tiếng nước ngoài về Hệ thống THADS Việt Nam để lan tỏa hình ảnh nền tư pháp Việt Nam ngày càng chuyên nghiệp, hiện đại, nhân văn vàcó trách nhiệm trong hội nhập quốc tế.
Có thể khẳng định, trong hành trình 80 năm xây dựng và phát triển, hợp tác quốc tế đã trở thành dấu ấn quan trọng, phản ánh sự trưởng thành, chủ động và trách nhiệm của Hệ thống THADS Việt Nam trong tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Từ chỗ chủ yếu tiếp cận vấn đề thi hành bản án, quyết định có yếu tố nước ngoài, công tác hợp tác quốc tế trong THADS đã từng bước mở rộng sang trao đổi kinh nghiệm lập pháp, hoàn thiện thể chế, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển đổi số, xử lý tài sản và nâng cao vị thế của Việt Nam tại các diễn đàn pháp luật, tư pháp khu vực và quốc tế.
Bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không chỉ mở rộng quan hệ hợp tác, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng, chiều sâu và hiệu quả thực chất của hợp tác quốc tế, bảo đảm mọi hoạt động hợp tác đều phục vụ trực tiếp cho mục tiêu xây dựng Hệ thống THADS chuyên nghiệp, hiện đại, liêm chính, hiệu quả; góp phần bảo vệcông lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời, nâng cao uy tín của nền tư pháp Việt Nam trên trường quốc tế.
Văn phòng Cục Quản lý Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp
[1]. Nghị quyết số 31-NQ/BCSĐ ngày 05/4/2018 và Nghị quyết số 23-NQ/BCSĐ ngày 29/3/2022 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp.
[2]. Báo cáo của Bộ Tư pháp tổng kết thực hiện Nghị quyết số 31-NQ/BCSĐ ngày 05/4/2018 của Ban Cán sự Đảng Bộ Tư pháp về lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm THADS, THAHC giai đoạn 2018 - 2021.
[3]. Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị nhằm thực hiện Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của quốc gia (Nghị quyết số 22-NQ/TW).
(Nguồn: Ấn phẩm “80 năm Thi hành án dân sự Việt Nam - Vẻ vang truyền thống, vững bước tương lai”, xuất bản năm 2026)