Thứ hai 20/07/2026 00:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.

Cơ sở của chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ và những tác động bước đầu

Thuế thu nhập cá nhân không chỉ thực hiện chức năng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ điều tiết thu nhập và định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh phục hồi sản xuất và gia tăng nhu cầu lao động sau giai đoạn nhiều biến động của kinh tế thế giới, việc bổ sung chính sách miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ cho thấy sự chuyển dịch từ tư duy điều tiết thuần túy sang sử dụng chính sách thuế như một công cụ hỗ trợ phát triển thị trường lao động.

Về cơ sở pháp lý, chính sách được xây dựng trên nền tảng thống nhất giữa pháp luật thuế và pháp luật lao động. Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định việc làm thêm giờ chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của NLĐ và phải tuân thủ giới hạn về thời giờ làm thêm theo ngày, tháng và năm; đồng thời, chỉ một số ngành, nghề đặc thù mới được tổ chức làm thêm đến 300 giờ mỗi năm. Điều 98 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định NLĐ làm thêm giờ phải được trả lương cao hơn so với thời giờ làm việc bình thường. Đây là cơ sở để xác định khoản thu nhập phát sinh từ làm thêm giờ mang tính chất đặc thù và cần có cơ chế điều tiết phù hợp.

Trên cơ sở đó,Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân (Nghị định số 253/2026/NĐ-CP) quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ theo đúng quy định của pháp luật lao động. Điểm đáng chú ý là chính sách chỉ miễn thuế đối với khoản thu nhập phát sinh từ thời gian làm thêm hợp pháp, không miễn thuế đối với toàn bộ tiền lương của NLĐ. Cách tiếp cận này vừa hỗ trợ tăng thu nhập thực tế, vừa hạn chế nguy cơ lợi dụng chính sách để chuyển đổi tiền lương thông thường thành tiền lương làm thêm nhằm giảm nghĩa vụ thuế.

So với trước, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP đã làm rõ căn cứ xác định khoản thu nhập được miễn thuế, trách nhiệm của tổ chức trả thu nhập trong việc khấu trừ thuế và yêu cầu lưu giữ bảng chấm công, bảng lương cùng các chứng từ liên quan. Đây là cơ sở quan trọng để bảo đảm tính minh bạch, tạo thuận lợi cho cơ quan thuế trong công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm.

Xét về mục tiêu chính sách, quy định miễn thuế hướng tới ba giá trị cốt lõi:

Thứ nhất, tăng thu nhập thực nhận của NLĐ. Đối với nhiều công nhân trong các khu công nghiệp, tiền tăng ca chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu nhập hằng tháng. Việc miễn thuế đối với khoản thu nhập này giúp người lao động giữ lại nhiều hơn thành quả lao động của mình, cải thiện khả năng chi tiêu, tích lũy và ổn định đời sống, đặc biệt đối với lao động di cư và lao động có mức thu nhập trung bình.

Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì năng lực cạnh tranh. Thay vì hỗ trợ thông qua ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước lựa chọn cơ chế hỗ trợ gián tiếp thông qua thuế thu nhập cá nhân. Nhờ đó, NLĐ tăng thu nhập sau thuế trong khi doanh nghiệp có thêm điều kiện huy động lao động làm thêm hợp pháp để đáp ứng tiến độ sản xuất mà không làm gia tăng tương ứng chi phí nhân công. Cơ chế này đặc biệt có ý nghĩa đối với các ngành có biên lợi nhuận thấp nhưng phụ thuộc lớn vào đơn hàng xuất khẩu.

Thứ ba, bảo đảm sự hài hòa giữa chính sách thuế và pháp luật lao động. Khoản thu nhập từ làm thêm giờ được hình thành từ việc NLĐ phải đánh đổi thời gian nghỉ ngơi, sức khỏe và đời sống gia đình. Việc miễn thuế đối với phần thu nhập này thể hiện quan điểm của Nhà nước ưu tiên bảo vệ giá trị lao động tăng thêm thay vì tiếp tục điều tiết bằng thuế.

Tác động của chính sách tập trung ở các ngành sử dụng nhiều lao động hoặc phải duy trì sản xuất liên tục. Theo khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019 và Điều 61 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, các ngành như dệt may, da giày, điện tử, chế biến thủy sản, logistics, sản xuất và cung cấp điện, y tế, viễn thông, cấp thoát nước... được phép tổ chức làm thêm đến 300 giờ mỗi năm trong những trường hợp luật định. Đây cũng là nhóm ngành được dự báo hưởng lợi rõ nét nhất từ chính sách.

Trong ngành dệt may, da giày và điện tử, tiền tăng ca từ lâu đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng của NLĐ, nhất là vào mùa cao điểm đơn hàng. Chính sách miễn thuế góp phần tăng thu nhập thực nhận, hỗ trợ doanh nghiệp “giữ chân” lao động và giảm tình trạng biến động nhân sự. Đối với ngành logistics, nơi nhu cầu làm việc ngoài giờ ngày càng phổ biến cùng sự phát triển của thương mại điện tử, chính sách giúp cải thiện thu nhập của lực lượng lái xe, kho vận và điều phối hàng hóa. Trong lĩnh vực điện lực và y tế, đây còn là sự ghi nhận đối với những ngành nghề phải duy trì hoạt động liên tục, thường xuyên trực ca, trực đêm hoặc xử lý tình huống khẩn cấp.

Có thể khẳng định, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP không chỉ là chính sách miễn giảm nghĩa vụ thuế mà còn là công cụ hỗ trợ thị trường lao động, góp phần hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ. Tuy nhiên, cũng chính vì tác động trực tiếp đến cơ cấu tiền lương và nghĩa vụ thuế nên việc thực thi chính sách cũng đặt ra những vấn đề pháp lý cần tiếp tục được nhận diện và hoàn thiện.

Vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách

Bên cạnh những tác động tích cực, chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ cũng đặt ra không ít thách thức trong tổ chức thực hiện. Do đó, vấn đề đặt ra không chỉ là mở rộng phạm vi ưu đãi mà còn phải xây dựng cơ chế kiểm soát phù hợp để bảo đảm đúng mục tiêu lập pháp.

Trước hết là nguy cơ doanh nghiệp tái cấu trúc cơ cấu tiền lương nhằm gia tăng tỷ trọng thu nhập từ làm thêm giờ để được miễn thuế. Nếu việc điều chỉnh phản ánh đúng nhu cầu sản xuất, có sự đồng thuận của NLĐ và tuân thủ quy định của Bộ luật Lao động thì đây là quyền tự chủ trong tổ chức sản xuất. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp hợp thức hóa bảng chấm công, ghi nhận thời giờ làm thêm không đúng thực tế hoặc chuyển một phần tiền lương thông thường thành tiền lương làm thêm nhằm giảm nghĩa vụ thuế thì bản chất của giao dịch đã bị thay đổi và không còn đáp ứng điều kiện được miễn thuế theo Nghị định số 253/2026/NĐ-CP.

Trong trường hợp này, doanh nghiệp không chỉ bị truy thu số thuế đã được miễn không đúng quy định mà còn có thể bị xử lý vi phạm theo pháp luật về quản lý thuế. Vì vậy, ranh giới giữa việc tối ưu hóa nghĩa vụ thuế hợp pháp với hành vi gian lận thuế cần được nhận diện rõ thông qua các tiêu chí về thời giờ làm việc thực tế, hồ sơ lao động và phương thức trả lương.

Một vấn đề khác cần được lưu ý là mối quan hệ giữa chính sách miễn thuế với chính sách bảo hiểm xã hội. Theo quy định hiện hành, tiền lương làm thêm giờ không thuộc căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Do đó, việc miễn thuế không làm thay đổi trực tiếp nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội của NLĐ và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp duy trì mức lương cơ bản thấp nhưng gia tăng tỷ trọng thu nhập từ làm thêm giờ thì có thể xuất hiện nghịch lý: Thu nhập thực nhận tăng nhưng mức tiền lương làm căn cứ hưởng các chế độ hưu trí, ốm đau, thai sản hoặc tai nạn lao động không tăng tương ứng. Đây không phải là hệ quả của chính sách miễn thuế, song là rủi ro cần được kiểm soát trong quá trình tổ chức thực hiện để bảo đảm nguyên tắc “đóng - hưởng” của hệ thống bảo hiểm xã hội.

Cùng với đó, chính sách mới cũng đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý thuế. Khác với nhiều khoản thu nhập khác, thu nhập từ làm thêm giờ chỉ được miễn thuế khi gắn với thời gian lao động thực tế và đáp ứng đầy đủ điều kiện của pháp luật lao động. Vì vậy, trọng tâm quản lý không nằm ở việc xác định đối tượng được miễn thuế mà ở khả năng kiểm chứng tính xác thực của khoản thu nhập được miễn. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cơ quan thuế cần tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và quản lý rủi ro để đối chiếu dữ liệu khai thuế với bảng chấm công điện tử, dữ liệu lao động và dữ liệu bảo hiểm xã hội, qua đó kịp thời phát hiện những trường hợp có dấu hiệu bất thường như số giờ làm thêm vượt giới hạn pháp luật hoặc tỷ lệ thu nhập từ làm thêm tăng đột biến.

Ở góc độ quan hệ lao động, chính sách miễn thuế cần được nhìn nhận đúng bản chất là cơ chế hỗ trợ thu nhập chứ không phải sự khuyến khích mở rộng làm thêm giờ. Bộ luật Lao động năm 2019 đặt ra giới hạn về thời giờ làm thêm nhằm bảo vệ sức khỏe, quyền nghỉ ngơi và sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực. Nếu doanh nghiệp quá phụ thuộc vào làm thêm giờ thay vì cải thiện năng suất và nâng cao tiền lương cơ bản, nguy cơ mất cân bằng giữa thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi sẽ gia tăng, ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ cũng như chất lượng nguồn nhân lực trong dài hạn. Vì vậy, việc thực hiện chính sách cần luôn gắn với nguyên tắc làm thêm trên cơ sở tự nguyện, đúng giới hạn pháp luật và không làm phương hại đến các quyền lao động cơ bản.

Nhìn về giai đoạn 2026 - 2030, chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ được dự báo sẽ phát huy hiệu quả rõ nét ở các ngành xuất khẩu chủ lực như điện tử, dệt may, da giày, chế biến thủy sản và logistics, nơi nhu cầu huy động lao động theo mùa vụ và theo đơn hàng vẫn ở mức cao. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các mô hình trả lương linh hoạt và kinh tế số, yêu cầu quản lý cũng sẽ phức tạp hơn. Hiệu quả của Nghị định số 253/2026/NĐ-CP vì vậy không chỉ được đánh giá thông qua mức tăng thu nhập của NLĐ hay số thuế được miễn, mà còn ở khả năng bảo đảm tính minh bạch, công bằng và kỷ cương của pháp luật thuế.

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi

Để chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ phát huy hiệu quả bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện cả quy định pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện.

Trước hết, Bộ Tài chính cần sớm ban hành hướng dẫn thống nhất về phương pháp xác định khoản thu nhập được miễn thuế, đặc biệt đối với doanh nghiệp áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, lương khoán hoặc lương theo doanh số. Đồng thời, cần quy định rõ hồ sơ chứng minh thời gian làm thêm, nguyên tắc phân bổ tiền lương và cách xử lý đối với các khoản phụ cấp, tiền thưởng phát sinh trong thời gian làm thêm nhằm hạn chế cách hiểu khác nhau giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế.

Bên cạnh đó, ngành Thuế cần tiếp tục đổi mới phương thức quản lý theo hướng dựa trên dữ liệu và quản lý rủi ro. Việc kết nối cơ sở dữ liệu giữa cơ quan thuế, cơ quan quản lý lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ tạo điều kiện đối chiếu thông tin về thời giờ làm việc, tiền lương và nghĩa vụ thuế, qua đó nâng cao hiệu quả phòng ngừa gian lận nhưng vẫn giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, cần tăng cường thanh tra việc chấp hành quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và làm thêm giờ, bảo đảm doanh nghiệp không lợi dụng chính sách thuế để kéo dài thời gian làm việc vượt giới hạn pháp luật. Việc kiểm tra cần được thực hiện theo hướng phối hợp liên ngành, tránh chồng chéo nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.

Tổ chức Công đoàn cũng cần phát huy vai trò đại diện và giám sát thông qua đối thoại tại nơi làm việc, đàm phán, thương lượng tập thể và tư vấn pháp luật. Công đoàn cần tham gia kiểm tra, giám sát việc xây dựng thang lương, bảng lương, quy chế trả lương và phương án tổ chức làm thêm giờ, đồng thời tuyên truyền để NLĐ hiểu đúng quyền lợi của mình, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến thu nhập trước mắt mà bỏ qua quyền lợi lâu dài gắn với tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Về lâu dài, cơ quan có thẩm quyền cần tổ chức đánh giá định kỳ tác động của Nghị định số 253/2026/NĐ-CP trên các phương diện: Mức tăng thu nhập thực tế của NLĐ; tác động đối với chi phí lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; mức độ tuân thủ pháp luật thuế; ảnh hưởng đến chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và nguồn thu ngân sách nhà nước. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân theo hướng hiện đại, minh bạch và phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động.

Chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ theo Nghị định số 253/2026/NĐ-CP không chỉ góp phần cải thiện thu nhập thực nhận của NLĐ mà còn tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp duy trì sản xuất, nhất là trong các ngành sử dụng nhiều lao động. Để chính sách phát huy đầy đủ hiệu quả, cần bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật thuế, pháp luật lao động và pháp luật bảo hiểm xã hội; đồng thời tăng cường quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệ số và phát huy vai trò phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức Công đoàn. Chỉ khi được thực thi trên cơ sở minh bạch, đúng pháp luật và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ mới thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng việc làm và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ.

(Ảnh: Internet)

Hà An

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Xây dựng Luật An ninh dữ liệu, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong môi trường số

Xây dựng Luật An ninh dữ liệu, bảo đảm trật tự an toàn xã hội trong môi trường số

Ngày 17/7, thừa ủy quyền của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính Nguyễn Thị Hạnh chủ trì Hội đồng thẩm định Hồ sơ dự thảo chính sách Luật An ninh dữ liệu (chính sách Luật). Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Xây dựng Cổng Pháp luật quốc gia trở thành nền tảng số dùng chung quốc gia về pháp luật

Xây dựng Cổng Pháp luật quốc gia trở thành nền tảng số dùng chung quốc gia về pháp luật

Ngày 13/7/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu ký thay Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 35/2026/QĐ-TTg ban hành "Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Pháp luật quốc gia" và Quyết định số 1264/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Phát triển Cổng Pháp luật quốc gia giai đoạn 2026 - 2030".
Đổi mới tư duy pháp luật trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và y tế

Đổi mới tư duy pháp luật trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và y tế

Sáng ngày 14/7, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý (Bộ tư pháp) Nguyễn Văn Cương chủ trì Hội thảo khoa học “Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”. Tham dự Hội thảo có đại diện một số cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn.
Rà soát, hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung 9 luật về quân sự, quốc phòng

Rà soát, hoàn thiện dự án Luật sửa đổi, bổ sung 9 luật về quân sự, quốc phòng

Ngày 13/7, Bộ Tư pháp tổ chức Hội đồng thẩm định dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 09 luật về quân sự, quốc phòng. Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp thẩm định.
Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển đô thị đặc biệt và khu kinh tế đặc biệt

Sáng ngày 13/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm chủ trì Hội nghị tham vấn, lấy ý kiến dự án Luật Phát triển đô thị.
Đẩy mạnh phân quyền, trao quyền cho đô thị đặc biệt và các thành phố

Đẩy mạnh phân quyền, trao quyền cho đô thị đặc biệt và các thành phố

Chiều ngày 13/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú và Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm chủ trì Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật Phát triển đô thị.
Xem xét bổ sung cơ chế xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài

Xem xét bổ sung cơ chế xử lý vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài

Chiều ngày 10/7, thừa ủy quyền của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính (Bộ Tư pháp) Nguyễn Thị Hạnh chủ trì Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi). Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Sáng ngày 10/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh và Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh đồng chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ chính sách của Luật về văn bản quy phạm pháp luật (chính sách Luật). Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán

Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán

Sáng ngày 07/7, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú chủ trì Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập. Tham dự phiên họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Bảo đảm chất lượng, tiến độ xây dựng dự án Luật Đô thị đặc biệt

Bảo đảm chất lượng, tiến độ xây dựng dự án Luật Đô thị đặc biệt

Ngày 06/7, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng và Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú đồng chủ trì cuộc họp với các cơ quan, địa phương về dự án Luật Đô thị đặc biệt.
Hiện đại hóa công tác hộ tịch, nâng cao chất lượng phục vụ người dân

Hiện đại hóa công tác hộ tịch, nâng cao chất lượng phục vụ người dân

Chiều ngày 06/7, Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị triển khai Luật Hộ tịch năm 2026 và Chương trình hành động quốc gia về đăng ký, thống kê hộ tịch giai đoạn 2026 - 2030 do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp (Bộ Tư pháp) Nguyễn Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Hành chính tư pháp (Bộ Tư pháp) Nhâm Ngọc Hiển đồng chủ trì. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại trụ sở Bộ Tư pháp và kết nối trực tuyến với 33 điểm cầu tại Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Ban hành văn bản quy định chi tiết 06 tháng đầu năm 2026: Kết quả và những tác động thực tiễn

Ban hành văn bản quy định chi tiết 06 tháng đầu năm 2026: Kết quả và những tác động thực tiễn

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, văn bản quy định chi tiết đóng vai trò là bộ phận quan trọng của cơ chế tổ chức thi hành pháp luật, góp phần đưa các luật, nghị quyết của Quốc hội đi vào cuộc sống. Nếu luật đặt ra những khung khổ, nguyên tắc chung thì các nghị định, quyết định và thông tư là công cụ cụ thể hóa, bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong triển khai thực hiện. Nhìn lại 06 tháng đầu năm 2026, công tác này đã ghi nhận những kết quả tích cực với khối lượng văn bản ban hành tăng, gắn liền với các nỗ lực tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.

Theo dõi chúng tôi trên: