Chủ nhật 09/08/2026 20:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.

Cơ sở của chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ và những tác động bước đầu

Thuế thu nhập cá nhân không chỉ thực hiện chức năng tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ điều tiết thu nhập và định hướng phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh phục hồi sản xuất và gia tăng nhu cầu lao động sau giai đoạn nhiều biến động của kinh tế thế giới, việc bổ sung chính sách miễn thuế đối với thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ cho thấy sự chuyển dịch từ tư duy điều tiết thuần túy sang sử dụng chính sách thuế như một công cụ hỗ trợ phát triển thị trường lao động.

Về cơ sở pháp lý, chính sách được xây dựng trên nền tảng thống nhất giữa pháp luật thuế và pháp luật lao động. Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định việc làm thêm giờ chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của NLĐ và phải tuân thủ giới hạn về thời giờ làm thêm theo ngày, tháng và năm; đồng thời, chỉ một số ngành, nghề đặc thù mới được tổ chức làm thêm đến 300 giờ mỗi năm. Điều 98 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định NLĐ làm thêm giờ phải được trả lương cao hơn so với thời giờ làm việc bình thường. Đây là cơ sở để xác định khoản thu nhập phát sinh từ làm thêm giờ mang tính chất đặc thù và cần có cơ chế điều tiết phù hợp.

Trên cơ sở đó,Nghị định số 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân (Nghị định số 253/2026/NĐ-CP) quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ theo đúng quy định của pháp luật lao động. Điểm đáng chú ý là chính sách chỉ miễn thuế đối với khoản thu nhập phát sinh từ thời gian làm thêm hợp pháp, không miễn thuế đối với toàn bộ tiền lương của NLĐ. Cách tiếp cận này vừa hỗ trợ tăng thu nhập thực tế, vừa hạn chế nguy cơ lợi dụng chính sách để chuyển đổi tiền lương thông thường thành tiền lương làm thêm nhằm giảm nghĩa vụ thuế.

So với trước, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP đã làm rõ căn cứ xác định khoản thu nhập được miễn thuế, trách nhiệm của tổ chức trả thu nhập trong việc khấu trừ thuế và yêu cầu lưu giữ bảng chấm công, bảng lương cùng các chứng từ liên quan. Đây là cơ sở quan trọng để bảo đảm tính minh bạch, tạo thuận lợi cho cơ quan thuế trong công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm.

Xét về mục tiêu chính sách, quy định miễn thuế hướng tới ba giá trị cốt lõi:

Thứ nhất, tăng thu nhập thực nhận của NLĐ. Đối với nhiều công nhân trong các khu công nghiệp, tiền tăng ca chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu nhập hằng tháng. Việc miễn thuế đối với khoản thu nhập này giúp người lao động giữ lại nhiều hơn thành quả lao động của mình, cải thiện khả năng chi tiêu, tích lũy và ổn định đời sống, đặc biệt đối với lao động di cư và lao động có mức thu nhập trung bình.

Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp duy trì năng lực cạnh tranh. Thay vì hỗ trợ thông qua ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, Nhà nước lựa chọn cơ chế hỗ trợ gián tiếp thông qua thuế thu nhập cá nhân. Nhờ đó, NLĐ tăng thu nhập sau thuế trong khi doanh nghiệp có thêm điều kiện huy động lao động làm thêm hợp pháp để đáp ứng tiến độ sản xuất mà không làm gia tăng tương ứng chi phí nhân công. Cơ chế này đặc biệt có ý nghĩa đối với các ngành có biên lợi nhuận thấp nhưng phụ thuộc lớn vào đơn hàng xuất khẩu.

Thứ ba, bảo đảm sự hài hòa giữa chính sách thuế và pháp luật lao động. Khoản thu nhập từ làm thêm giờ được hình thành từ việc NLĐ phải đánh đổi thời gian nghỉ ngơi, sức khỏe và đời sống gia đình. Việc miễn thuế đối với phần thu nhập này thể hiện quan điểm của Nhà nước ưu tiên bảo vệ giá trị lao động tăng thêm thay vì tiếp tục điều tiết bằng thuế.

Tác động của chính sách tập trung ở các ngành sử dụng nhiều lao động hoặc phải duy trì sản xuất liên tục. Theo khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 2019 và Điều 61 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động, các ngành như dệt may, da giày, điện tử, chế biến thủy sản, logistics, sản xuất và cung cấp điện, y tế, viễn thông, cấp thoát nước... được phép tổ chức làm thêm đến 300 giờ mỗi năm trong những trường hợp luật định. Đây cũng là nhóm ngành được dự báo hưởng lợi rõ nét nhất từ chính sách.

Trong ngành dệt may, da giày và điện tử, tiền tăng ca từ lâu đã trở thành nguồn thu nhập quan trọng của NLĐ, nhất là vào mùa cao điểm đơn hàng. Chính sách miễn thuế góp phần tăng thu nhập thực nhận, hỗ trợ doanh nghiệp “giữ chân” lao động và giảm tình trạng biến động nhân sự. Đối với ngành logistics, nơi nhu cầu làm việc ngoài giờ ngày càng phổ biến cùng sự phát triển của thương mại điện tử, chính sách giúp cải thiện thu nhập của lực lượng lái xe, kho vận và điều phối hàng hóa. Trong lĩnh vực điện lực và y tế, đây còn là sự ghi nhận đối với những ngành nghề phải duy trì hoạt động liên tục, thường xuyên trực ca, trực đêm hoặc xử lý tình huống khẩn cấp.

Có thể khẳng định, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP không chỉ là chính sách miễn giảm nghĩa vụ thuế mà còn là công cụ hỗ trợ thị trường lao động, góp phần hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ. Tuy nhiên, cũng chính vì tác động trực tiếp đến cơ cấu tiền lương và nghĩa vụ thuế nên việc thực thi chính sách cũng đặt ra những vấn đề pháp lý cần tiếp tục được nhận diện và hoàn thiện.

Vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách

Bên cạnh những tác động tích cực, chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ cũng đặt ra không ít thách thức trong tổ chức thực hiện. Do đó, vấn đề đặt ra không chỉ là mở rộng phạm vi ưu đãi mà còn phải xây dựng cơ chế kiểm soát phù hợp để bảo đảm đúng mục tiêu lập pháp.

Trước hết là nguy cơ doanh nghiệp tái cấu trúc cơ cấu tiền lương nhằm gia tăng tỷ trọng thu nhập từ làm thêm giờ để được miễn thuế. Nếu việc điều chỉnh phản ánh đúng nhu cầu sản xuất, có sự đồng thuận của NLĐ và tuân thủ quy định của Bộ luật Lao động thì đây là quyền tự chủ trong tổ chức sản xuất. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp hợp thức hóa bảng chấm công, ghi nhận thời giờ làm thêm không đúng thực tế hoặc chuyển một phần tiền lương thông thường thành tiền lương làm thêm nhằm giảm nghĩa vụ thuế thì bản chất của giao dịch đã bị thay đổi và không còn đáp ứng điều kiện được miễn thuế theo Nghị định số 253/2026/NĐ-CP.

Trong trường hợp này, doanh nghiệp không chỉ bị truy thu số thuế đã được miễn không đúng quy định mà còn có thể bị xử lý vi phạm theo pháp luật về quản lý thuế. Vì vậy, ranh giới giữa việc tối ưu hóa nghĩa vụ thuế hợp pháp với hành vi gian lận thuế cần được nhận diện rõ thông qua các tiêu chí về thời giờ làm việc thực tế, hồ sơ lao động và phương thức trả lương.

Một vấn đề khác cần được lưu ý là mối quan hệ giữa chính sách miễn thuế với chính sách bảo hiểm xã hội. Theo quy định hiện hành, tiền lương làm thêm giờ không thuộc căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Do đó, việc miễn thuế không làm thay đổi trực tiếp nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội của NLĐ và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp duy trì mức lương cơ bản thấp nhưng gia tăng tỷ trọng thu nhập từ làm thêm giờ thì có thể xuất hiện nghịch lý: Thu nhập thực nhận tăng nhưng mức tiền lương làm căn cứ hưởng các chế độ hưu trí, ốm đau, thai sản hoặc tai nạn lao động không tăng tương ứng. Đây không phải là hệ quả của chính sách miễn thuế, song là rủi ro cần được kiểm soát trong quá trình tổ chức thực hiện để bảo đảm nguyên tắc “đóng - hưởng” của hệ thống bảo hiểm xã hội.

Cùng với đó, chính sách mới cũng đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý thuế. Khác với nhiều khoản thu nhập khác, thu nhập từ làm thêm giờ chỉ được miễn thuế khi gắn với thời gian lao động thực tế và đáp ứng đầy đủ điều kiện của pháp luật lao động. Vì vậy, trọng tâm quản lý không nằm ở việc xác định đối tượng được miễn thuế mà ở khả năng kiểm chứng tính xác thực của khoản thu nhập được miễn. Trong bối cảnh chuyển đổi số, cơ quan thuế cần tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và quản lý rủi ro để đối chiếu dữ liệu khai thuế với bảng chấm công điện tử, dữ liệu lao động và dữ liệu bảo hiểm xã hội, qua đó kịp thời phát hiện những trường hợp có dấu hiệu bất thường như số giờ làm thêm vượt giới hạn pháp luật hoặc tỷ lệ thu nhập từ làm thêm tăng đột biến.

Ở góc độ quan hệ lao động, chính sách miễn thuế cần được nhìn nhận đúng bản chất là cơ chế hỗ trợ thu nhập chứ không phải sự khuyến khích mở rộng làm thêm giờ. Bộ luật Lao động năm 2019 đặt ra giới hạn về thời giờ làm thêm nhằm bảo vệ sức khỏe, quyền nghỉ ngơi và sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực. Nếu doanh nghiệp quá phụ thuộc vào làm thêm giờ thay vì cải thiện năng suất và nâng cao tiền lương cơ bản, nguy cơ mất cân bằng giữa thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi sẽ gia tăng, ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ cũng như chất lượng nguồn nhân lực trong dài hạn. Vì vậy, việc thực hiện chính sách cần luôn gắn với nguyên tắc làm thêm trên cơ sở tự nguyện, đúng giới hạn pháp luật và không làm phương hại đến các quyền lao động cơ bản.

Nhìn về giai đoạn 2026 - 2030, chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ được dự báo sẽ phát huy hiệu quả rõ nét ở các ngành xuất khẩu chủ lực như điện tử, dệt may, da giày, chế biến thủy sản và logistics, nơi nhu cầu huy động lao động theo mùa vụ và theo đơn hàng vẫn ở mức cao. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các mô hình trả lương linh hoạt và kinh tế số, yêu cầu quản lý cũng sẽ phức tạp hơn. Hiệu quả của Nghị định số 253/2026/NĐ-CP vì vậy không chỉ được đánh giá thông qua mức tăng thu nhập của NLĐ hay số thuế được miễn, mà còn ở khả năng bảo đảm tính minh bạch, công bằng và kỷ cương của pháp luật thuế.

Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi

Để chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ phát huy hiệu quả bền vững, cần tiếp tục hoàn thiện cả quy định pháp luật và cơ chế tổ chức thực hiện.

Trước hết, Bộ Tài chính cần sớm ban hành hướng dẫn thống nhất về phương pháp xác định khoản thu nhập được miễn thuế, đặc biệt đối với doanh nghiệp áp dụng hình thức trả lương theo sản phẩm, lương khoán hoặc lương theo doanh số. Đồng thời, cần quy định rõ hồ sơ chứng minh thời gian làm thêm, nguyên tắc phân bổ tiền lương và cách xử lý đối với các khoản phụ cấp, tiền thưởng phát sinh trong thời gian làm thêm nhằm hạn chế cách hiểu khác nhau giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế.

Bên cạnh đó, ngành Thuế cần tiếp tục đổi mới phương thức quản lý theo hướng dựa trên dữ liệu và quản lý rủi ro. Việc kết nối cơ sở dữ liệu giữa cơ quan thuế, cơ quan quản lý lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ tạo điều kiện đối chiếu thông tin về thời giờ làm việc, tiền lương và nghĩa vụ thuế, qua đó nâng cao hiệu quả phòng ngừa gian lận nhưng vẫn giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, cần tăng cường thanh tra việc chấp hành quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và làm thêm giờ, bảo đảm doanh nghiệp không lợi dụng chính sách thuế để kéo dài thời gian làm việc vượt giới hạn pháp luật. Việc kiểm tra cần được thực hiện theo hướng phối hợp liên ngành, tránh chồng chéo nhưng vẫn bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.

Tổ chức Công đoàn cũng cần phát huy vai trò đại diện và giám sát thông qua đối thoại tại nơi làm việc, đàm phán, thương lượng tập thể và tư vấn pháp luật. Công đoàn cần tham gia kiểm tra, giám sát việc xây dựng thang lương, bảng lương, quy chế trả lương và phương án tổ chức làm thêm giờ, đồng thời tuyên truyền để NLĐ hiểu đúng quyền lợi của mình, tránh tình trạng chỉ quan tâm đến thu nhập trước mắt mà bỏ qua quyền lợi lâu dài gắn với tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.

Về lâu dài, cơ quan có thẩm quyền cần tổ chức đánh giá định kỳ tác động của Nghị định số 253/2026/NĐ-CP trên các phương diện: Mức tăng thu nhập thực tế của NLĐ; tác động đối với chi phí lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; mức độ tuân thủ pháp luật thuế; ảnh hưởng đến chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và nguồn thu ngân sách nhà nước. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân theo hướng hiện đại, minh bạch và phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động.

Chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ theo Nghị định số 253/2026/NĐ-CP không chỉ góp phần cải thiện thu nhập thực nhận của NLĐ mà còn tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp duy trì sản xuất, nhất là trong các ngành sử dụng nhiều lao động. Để chính sách phát huy đầy đủ hiệu quả, cần bảo đảm sự thống nhất giữa pháp luật thuế, pháp luật lao động và pháp luật bảo hiểm xã hội; đồng thời tăng cường quản lý rủi ro, ứng dụng công nghệ số và phát huy vai trò phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức Công đoàn. Chỉ khi được thực thi trên cơ sở minh bạch, đúng pháp luật và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, chính sách miễn thuế đối với tiền lương làm thêm giờ mới thực sự trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng việc làm và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và NLĐ.

(Ảnh: Internet)

Hà An

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật - Kinh nghiệm từ Trung Quốc và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút các nguồn lực xã hội vào thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hoàn thiện cơ chế xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là yêu cầu đặt ra trong quá trình sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nhằm huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW[I]. Trên cơ sở phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[II] (dự thảo Luật) và tham khảo kinh nghiệm của Trung Quốc, nghiên cứu nhận diện những bất cập trong cơ chế xã hội hóa, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Đổi mới tư duy, xây dựng quy trình lập pháp, lập quy hiện đại, chuyên nghiệp

Sáng ngày 07/8, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo Luật về văn bản quy phạm pháp luật. Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh chủ trì Hội thảo. Đồng chủ trì có Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Nguyễn Quốc Hoàn.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Chiều ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Sáng ngày 06/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: