Đẩy nhanh tiến độ trong bối cảnh khối lượng nhiệm vụ tăng 1,6 lần
Sáu tháng đầu năm 2026 là giai đoạn cao điểm khi Chính phủ và các bộ, ngành phải xử lý khối lượng văn bản quy định chi tiết lớn. Theo thống kê, tổng số văn bản quy định chi tiết các bộ, cơ quan ngang bộ có nhiệm vụ xây dựng, ban hành hoặc trình ban hành là 334 văn bản (gồm 174 nghị định, 07 quyết định và 153 thông tư). So với cùng kỳ năm 2025, nhiệm vụ này tăng gấp 1,6 lần (năm 2025 là 211 văn bản), cho thấy áp lực công việc đối với các cơ quan quản lý nhà nước rất lớn.
Theo báo cáo của Bộ Tư pháp[1] về kết quả thực hiện cho thấy, tính đến ngày 30/6/2026, đã có 225 văn bản được ban hành[2] (gồm 120 nghị định, 05 quyết định và 100 thông tư), đạt tỷ lệ cao gấp 1,9 lần so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: ban hành 130 văn bản để quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực (gồm 68 nghị định, 02 quyết định, 60 thông tư); ban hành 95 văn bản quy định chi tiết cho các luật, nghị quyết sẽ có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 (52 nghị định, 03 quyết định, 40 thông tư).
Đáng chú ý, riêng trong tháng 6/2026, các cơ quan đã tập trung nguồn lực để hoàn thành và ban hành được 60 văn bản (34 nghị định, 26 thông tư), góp phần quan trọng vào việc bảo đảm các điều kiện thi hành cho danh mục các luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Kết quả này phản ánh sự chuyển biến mạnh mẽ về tiến độ, đặc biệt là nỗ lực của các cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc rút ngắn thời gian quy trình nhưng vẫn đảm bảo các bước theo quy định.
Tập trung hoàn thiện thể chế trên các lĩnh vực trọng điểm
Không dừng lại ở những con số, nội dung các văn bản quy định chi tiết được ban hành trong 06 tháng qua tập trung vào những lĩnh vực then chốt, giải quyết trực tiếp các nhu cầu cấp thiết của xã hội và doanh nghiệp.
Thứ nhất, tập trung vào lĩnh vực quản lý tài nguyên, đất đai và môi trường. Đây là lĩnh vực có số lượng văn bản lớn và có tác động sâu rộng. Ví dụ điển hình Nghị định 49/2026/NĐ-CP ngày 31/01/2026 hướng dẫn Nghị quyết 254/2025/QH15 nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai. Bên cạnh đó, các nghị định như Nghị định 40/2026/NĐ-CP về Luật Thủy lợi hay Nghị định 41/2026/NĐ-CP về Luật Thủy sản đã cụ thể hóa các biện pháp bảo vệ nguồn lợi và quản lý hạ tầng thủy lợi, đáp ứng yêu cầu sản xuất bền vững. Việc ban hành các văn bản này đã trực tiếp xử lý các “điểm nghẽn” pháp lý vốn tồn tại gây cản trở các dự án đầu tư và khai thác tài nguyên.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế kinh tế, đầu tư và tài chính. Các văn bản quy định chi tiết trong lĩnh vực này được ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch cho các hoạt động kinh doanh. Nghị định 96/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư là minh chứng quan trọng, hướng dẫn chi tiết từ các điều khoản về điều kiện đầu tư, ưu đãi đầu tư đến quy trình thủ tục hành chính, giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và triển khai dự án.
Trong lĩnh vực tài chính, Nghị định 19/2026/NĐ-CP ngày 14/01/2026 quy định về trình tự, thủ tục thẩm định dự án quan trọng quốc gia và giám sát đánh giá đầu tư đã tạo cơ sở kiểm soát chặt chẽ hiệu quả sử dụng nguồn vốn nhà nước. Các văn bản về quản lý thuế, như Nghị định 169/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan cũng góp phần tăng cường kỷ luật tài chính và tạo sự công bằng cho người nộp thuế.
Thứ ba, đột phá trong phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Để thực hiện định hướng đưa khoa học công nghệ làm động lực tăng trưởng, Chính phủ đã ban hành Quyết định 804/QĐ-TTg ngày 06/5/2026 về Danh mục bộ dữ liệu phục vụ phát triển trí tuệ nhân tạo trong các lĩnh vực thiết yếu và Nghị định 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số. Đây là những văn bản mang tính chất kiến tạo, định hình khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới, bảo đảm an ninh dữ liệu và thúc đẩy ứng dụng AI vào đời sống.
Thứ tư, đảm bảo an sinh xã hội, trật tự an toàn xã hội và cải cách hành chính. Trong lĩnh vực nội vụ, các nghị định về cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định 27/2026/NĐ-CP ngày 19/01/2026) hay quy định về vị trí việc làm viên chức (Nghị định 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026) đã góp phần hiện đại hóa nền quản trị quốc gia, hướng tới bộ máy tinh gọn, hiệu quả.
Lĩnh vực an ninh trật tự cũng ghi nhận sự ban hành kịp thời các văn bản như Nghị định 247/2026/NĐ-CP về công tác tái hòa nhập cộng đồng, thể hiện tính nhân văn và yêu cầu thực tiễn trong công tác thi hành án.
Mục đích tác động và hiệu quả thực tế
Kết quả ban hành 225 văn bản quy định chi tiết đã tạo ra những tác động tích cực và rõ nét:
Thứ nhất, khắc phục khoảng trống pháp lý: Việc 95 văn bản được ban hành trước ngày 01/7/2026 đảm bảo rằng khi luật có hiệu lực, các cơ quan thực thi và người dân đã có sẵn hướng dẫn cụ thể để áp dụng, tránh tình trạng “luật chờ nghị định” gây ngưng trệ các hoạt động kinh tế - xã hội.
Tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế: Nhiều văn bản được ban hành đã trực tiếp giải quyết các vướng mắc lâu nay trong đầu tư công, quản lý đất đai và hạ tầng giao thông (như Nghị định 122/2026/NĐ-CP ngày 03/4/2026 quy định chi tiết về việc xử lý vướng mắc của dự án BOT). Điều này giúp khơi thông các nguồn lực đầu tư, tạo đà cho tăng trưởng kinh tế.
Nâng cao chỉ số niềm tin của người dân và doanh nghiệp: Sự minh bạch, rõ ràng trong các quy định chi tiết giúp giảm thiểu sự tùy tiện trong thực thi pháp luật, từ đó cắt giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của người dân.
Thúc đẩy chuyển đổi số và hiện đại hóa hành chính: Các văn bản về dữ liệu số và quản lý cán bộ trực tiếp phục vụ mục tiêu xây dựng Chính phủ số, giúp quy trình làm việc trở nên thường xuyên, chuyên nghiệp và minh bạch hơn.
Tăng cường theo dõi, đôn đốc tiến độ ban hành văn bản quy định chi tiết
Bên cạnh những kết quả đạt được, Báo cáo công tác 6 tháng đầu năm 2026 cũng chỉ ra một số tồn tại cần tiếp tục khắc phục. Tính đến ngày 30/6/2026, vẫn còn 16 văn bản quy định chi tiết chưa được ban hành (không bao gồm 02 văn bản được tạm dừng theo chỉ đạo của Lãnh đạo Chính phủ để chờ Đề án cải cách tiền lương và báo cáo cấp có thẩm quyền[3]). Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ khối lượng nhiệm vụ xây dựng pháp luật lớn, nhiều nội dung giao quy định chi tiết có tính chất phức tạp, đòi hỏi thời gian nghiên cứu, lấy ý kiến và phối hợp giữa nhiều bộ, ngành…
Việc ban hành Phụ lục danh mục văn bản nợ ban hành quy định chi tiết các luật, nghị quyết đã có hiệu lực[4], kèm theo các thông tin về tên luật, thời điểm có hiệu lực, cơ quan chủ trì soạn thảo, tên văn bản phải ban hành, tiến độ soạn thảo, nguyên nhân chậm ban hành và đề xuất giải pháp xử lý, đã tạo cơ sở dữ liệu định lượng và căn cứ quan trọng để Bộ Tư pháp thực hiện chức năng tham mưu Chính phủ trong công tác theo dõi, đôn đốc việc xây dựng và ban hành văn bản quy định chi tiết, góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật.
Kết quả công tác ban hành văn bản quy định chi tiết trong 06 tháng đầu năm 2026 cho thấy bước tiến về cả số lượng và chất lượng, trực tiếp đóng góp vào việc hoàn thiện hệ thống thể chế và thúc đẩy phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Thành quả này có được là nhờ sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương và đề cao trách nhiệm người đứng đầu, cùng với vai trò tham mưu chuyên sâu, đôn đốc thường xuyên của Bộ Tư pháp trong việc kiểm soát tiến độ và nâng cao chất lượng thẩm định, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật
[1] Báo cáo số 492/BC-BTP ngày 30/6/2026 về tình hình thực hiện Chương trình lập pháp và xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết 06 tháng đầu năm và nhiệm vụ 06 tháng cuối năm 2026
[2] Xem chi tiết tại Phụ lục II ban hành kèm theo Báo cáo số 492/BC-BTP ngày 30/6/2026 của Bộ Tư pháp
[3] Nghị định quy định chính sách tiền lương, chế độ phụ cấp, chính sách hỗ trợ, thu hút, trọng dụng đối với nhà giáo; Nghị định quy định về Quỹ Phát triển trí tuệ nhân tạo quốc gia - QĐCT Luật Trí tuệ nhân tạo.
[4] Xem chi tiết Phụ lục III ban hành kèm theo Báo cáo số 492/BC-BTP ngày 30/6/2026 của Bộ Tư pháp.