Củng cố cơ sở pháp lý cho hoạt động hành nghề luật sư
Dự thảo Luật quy định về cam kết tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư thông qua việc nhấn mạnh 02 nhóm quyền của luật sư. Cụ thể:
Thứ nhất, luật sư được pháp luật bảo đảm quyền hành nghề theo quy định của Hiến pháp, Luật Luật sư, pháp luật về tố tụng và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Theo đó, quyền hành nghề của luật sư được bảo đảm bởi Hiến pháp - đạo luật gốc do Quốc hội ban hành có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam, quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị, chính sách kinh tế, xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước; Luật Luật sư - văn bản pháp lý chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp hoạt động hành nghề; cùng với đó là pháp luật về tố tụng và các quy định pháp luật có liên quan điều chỉnh trong từng lĩnh vực cụ thể.
Cách tiếp cận tại dự thảo Luật cho thấy, quyền hành nghề của luật sư được đặt trong cơ chế bảo đảm pháp lý đa tầng, qua đó không chỉ khẳng định tính hợp pháp của hoạt động hành nghề mà còn bảo đảm sự ổn định, nhất quán trong áp dụng pháp luật; đồng thời, quy định này còn thể hiện rõ vai trò của Nhà nước trong việc bảo hộ hoạt động hành nghề hợp pháp của luật sư, để luật sư thực hiện chức năng nghề nghiệp một cách độc lập, đúng pháp luật.
Thứ hai, luật sư được bảo đảm bí mật thông tin trao đổi giữa luật sư và khách hàng trong hoạt động hành nghề, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Mọi thông tin, tài liệu và nội dung trao đổi phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý đều được xác lập cơ chế bảo mật và được pháp luật bảo vệ, qua đó bảo đảm sự tin cậy, trung thực và an toàn trong quan hệ giữa luật sư và khách hàng, đồng thời tạo điều kiện để khách hàng cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin phục vụ hoạt động tư vấn, tranh tụng và các dịch vụ pháp lý khác. Tuy nhiên, nguyên tắc bảo mật này không mang tính tuyệt đối mà được giới hạn bởi quy định “trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”, nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa quyền bảo mật nghề nghiệp của luật sư với yêu cầu quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích công cộng, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động hành nghề luật sư
Dự thảo Luật quy định nghiêm cấm luật sư không được tiết lộ bí mật thông tin về vụ án, vụ việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề nhằm xây dựng sự tin cậy trong quan hệ giữa luật sư và khách hàng, đồng thời bảo vệ tính an toàn pháp lý trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý. Việc tiết lộ bí mật thông tin chỉ được phép thực hiện khi có sự đồng ý bằng văn bản của khách hàng hoặc khi pháp luật có quy định khác. Quy định này vừa đề cao trách nhiệm bảo mật nghề nghiệp của luật sư, vừa bảo đảm sự hài hòa với các yêu cầu pháp lý trong những trường hợp cần thiết, góp phần tăng cường tính thống nhất, minh bạch và chặt chẽ của hệ thống pháp luật.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật nghiêm cấm luật sư sử dụng thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Quy định này cho thấy, luật sư không chỉ có quyền được bảo đảm bí mật thông tin mà còn phải sử dụng thông tin đúng mục đích, đúng phạm vi nghề nghiệp. Với vị trí là người được khách hàng tin tưởng cung cấp nhiều thông tin quan trọng, thậm chí là những thông tin mang tính riêng tư hoặc bí mật kinh doanh, luật sư có nghĩa vụ khai thác và sử dụng các thông tin đó nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng, đồng thời không được gây phương hại đến lợi ích chung của Nhà nước và xã hội.
Đáng chú ý, dự thảo Luật còn nghiêm cấm luật sư sử dụng thông tin do khách hàng cung cấp để gây bất lợi cho chính khách hàng trong một vụ việc khác nhằm ngăn ngừa tình trạng lạm dụng lợi thế nghề nghiệp của luật sư, đồng thời bảo đảm phù hợp với nguyên tắc “sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức”. Việc tiếp tục nhấn mạnh hành vi cấm tiết lộ bí mật thông tin của khách hàng cho thấy, dự thảo Luật đặt ra yêu cầu cao hơn đối với chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư, từ đó góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng, nâng cao uy tín nghề luật sư và tăng cường niềm tin của xã hội đối với hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý.
Khẳng định mạnh mẽ hơn trách nhiệm của Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm quyền hành nghề của luật sư
Theo quy định của dự thảo Luật, “cơ quan tiến hành tố tụng, bộ, ngành, cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm bảo đảm quyền hành nghề của luật sư, hỗ trợ phát triển nghề luật sư và bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu thuộc thẩm quyền quản lý với cơ sở dữ liệu luật sư”. Đây là một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo Luật, thể hiện sự thay đổi trong tư duy xây dựng chính sách Luật đối với hoạt động hành nghề luật sư theo hướng không chỉ tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước mà còn chú trọng bảo đảm điều kiện hành nghề và thúc đẩy sự phát triển của đội ngũ luật sư, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia.
Mặc dù pháp luật hiện hành ghi nhận tương đối đầy đủ các quyền của luật sư trong hoạt động tố tụng và cung cấp dịch vụ pháp lý, song trên thực tế, quá trình hành nghề vẫn gặp không ít khó khăn, vướng mắc khi tiếp cận hồ sơ vụ án, gặp người bị buộc tội, thu thập tài liệu, chứng cứ hoặc triển khai một số hoạt động nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật. Trước bối cảnh này, việc quy định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, các bộ, ngành và cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc bảo đảm điều kiện hành nghề sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, đồng thời xây dựng môi trường hành nghề thuận lợi, minh bạch và bình đẳng hơn.
Đáng chú ý, dự thảo Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan trong việc bảo đảm việc kết nối, chia sẻ dữ liệu thuộc thẩm quyền quản lý với cơ sở dữ liệu luật sư. Quy định này hướng tới việc thiết lập cơ chế phối hợp, trao đổi và cập nhật dữ liệu giữa các cơ quan có thẩm quyền với cơ sở dữ liệu luật sư, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường tính thống nhất trong quản lý thông tin và hỗ trợ luật sư trong việc khai thác, sử dụng dữ liệu phục vụ hoạt động quản lý, tra cứu và cung cấp thông tin.
Bổ sung cơ chế pháp lý bảo vệ luật sư trước các hành vi cản trở hoạt động hành nghề
Dự thảo Luật đề xuất bổ sung các hành vi bị nghiêm cấm đối với cơ quan, tổ chức trong quan hệ với luật sư, qua đó tạo lập cơ sở pháp lý rõ ràng hơn để bảo vệ quyền hành nghề của luật sư. Theo đó, 04 hành vi gồm: (i) Từ chối, trì hoãn, ngăn cản, gây khó khăn trái pháp luật trong việc thực hiện các quyền của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng hoặc đại diện bảo vệ quyền lợi của khách hàng; (ii) Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động tố tụng, tư vấn pháp luật của luật sư hoặc hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý khác; (iii) Gây áp lực, đe dọa hoặc dùng biện pháp trái pháp luật để can thiệp vào tính độc lập, khách quan trong hoạt động hành nghề luật sư; (iv) Có hành vi xúc phạm nhân phẩm, uy tín hoặc đe dọa hành hung, gây thương tích cho luật sư và người thân của luật sư trong quá trình hành nghề. Quy định này góp phần tăng cường tính độc lập, khách quan trong hoạt động hành nghề của luật sư, đồng thời hạn chế các hành vi can thiệp, gây áp lực hoặc cản trở trái pháp luật trong quá trình cung cấp dịch vụ pháp lý.
Đặc biệt, cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cản trở hoạt động hành nghề luật sư phải chấm dứt ngay hành vi vi phạm và tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Ảnh: internet