Thứ ba 19/05/2026 01:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp không chỉ là câu chuyện đổi mới tổ chức bộ máy, hoàn thiện thủ tục tố tụng hay nâng cao chất lượng xét xử. Sâu xa hơn, đó là quá trình xây dựng một nền tư pháp lấy công lý, quyền con người, quyền công dân, kỷ luật pháp luật và trách nhiệm giải trình làm nền tảng vận hành. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định rõ yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ pháp luật, tư pháp, bổ trợ tư pháp.

Trong bối cảnh đó, việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Với đặc thù của nghề luật sư, yêu cầu ấy là cần thiết. Vấn đề cốt lõi là phải hiểu đúng, định nghĩa đúng và thể chế hóa đúng tiêu chuẩn này để nó trở thành động lực nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, mà không phải trở thành một tiêu chí hình thức, mơ hồ hoặc có nguy cơ bị vận dụng tùy tiện.

1. Bản lĩnh chính trị của luật sư không phải là khẩu hiệu hình thức

Đối với luật sư, bản lĩnh chính trị trước hết là năng lực nhận thức đúng đắn và hành động kiên định trên nền tảng Hiến pháp, pháp luật, công lý và lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là khả năng nhận diện đúng giới hạn của quyền lực nhà nước, quyền con người, quyền công dân, quyền bào chữa, quyền tiếp cận công lý và trách nhiệm xã hội của người hành nghề luật.

Luật Luật sư hiện hành xác định chức năng xã hội của luật sư là góp phần bảo vệ công lý, quyền tự do, dân chủ của công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Như vậy, ngay trong thiết kế pháp lý hiện hành, nghề luật sư không phải là nghề cung cấp dịch vụ thuần túy theo nghĩa thương mại, mà là nghề nghiệp mang sứ mệnh xã hội rõ ràng.

Bản lĩnh chính trị của luật sư vì thế phải được hiểu là sự kết hợp giữa lòng yêu nước, ý thức thượng tôn pháp luật, tinh thần bảo vệ công lý, đạo đức nghề nghiệp, sự độc lập trong hành nghề và trách nhiệm với cộng đồng. Một luật sư có bản lĩnh chính trị không phải là người nói nhiều về chính trị, mà là người biết đứng vững trước áp lực, không bị mua chuộc, không bị thao túng, không lợi dụng nghề nghiệp để vi phạm pháp luật, dám dùng công cụ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ, kể cả trong những vụ việc khó khăn, phức tạp, nhạy cảm.

2. Nghề luật sư đòi hỏi bản lĩnh chính trị vững vàng

Nghề luật sư là nghề đứng giữa những xung đột lợi ích gay gắt nhất trong xã hội. Luật sư có thể tham gia vụ án hình sự liên quan đến sinh mạng, tự do của con người; vụ án hành chính giữa công dân với cơ quan công quyền; tranh chấp dân sự, kinh doanh - thương mại có giá trị rất lớn; hoặc các vụ việc có sức ép truyền thông, dư luận và lợi ích nhóm đan xen. Trong môi trường ấy, kiến thức pháp luật dù sắc bén đến đâu cũng chưa đủ. Nếu thiếu bản lĩnh chính trị - pháp lý, luật sư rất dễ bị kéo lệch bởi cảm xúc, tiền bạc, áp lực thân chủ, sức ép dư luận hoặc tác động phi pháp từ bên ngoài. Vì vậy, bản lĩnh chính trị giúp luật sư giữ được bốn giới hạn căn bản.

Thứ nhất, giữ giới hạn giữa bảo vệ thân chủ và bảo vệ pháp luật. Luật sư có nghĩa vụ bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, nhưng không được vì lợi ích của khách hàng mà xúi giục khai báo gian dối, tạo lập chứng cứ giả, mua chuộc người làm chứng, tiêu hủy tài liệu hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật.

Thứ hai, giữ giới hạn giữa tranh tụng quyết liệt và ứng xử chuẩn mực. Một luật sư có bản lĩnh có thể phản biện mạnh mẽ, chất vấn sắc bén, bảo vệ thân chủ đến cùng trong khuôn khổ pháp luật, nhưng không biến diễn đàn tố tụng thành nơi kích động, xuyên tạc, công kích hoặc gây sức ép phi pháp đối với cơ quan tiến hành tố tụng.

Thứ ba, giữ giới hạn giữa độc lập nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội. Độc lập của luật sư không phải là sự tách rời khỏi lợi ích quốc gia và không phải là quyền hành nghề vô giới hạn. Độc lập nghề nghiệp chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm phụng sự công lý.

Thứ tư, giữ giới hạn giữa phản biện chính sách và phủ nhận nền tảng pháp quyền. Luật sư có quyền và cần có trách nhiệm tham gia góp ý, phản biện chính sách, xây dựng pháp luật trên cơ sở căn cứ khoa học, căn cứ pháp lý, tinh thần xây dựng và trách nhiệm công dân, không thể bị lợi dụng để chống phá Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội hoặc lợi ích quốc gia, dân tộc. Chính ở những ranh giới mong manh đó, bản lĩnh chính trị của luật sư được thử thách và bộc lộ rõ nhất.

3. Bản lĩnh chính trị của luật sư và tư cách đảng viên

Đảng viên là người được tổ chức Đảng xem xét, kết nạp theo quy định của Điều lệ Đảng, có quyền và nghĩa vụ của người đảng viên trong tổ chức Đảng. Việc trở thành đảng viên thể hiện sự ghi nhận về lập trường chính trị, phẩm chất đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm của cá nhân tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Trong khi đó, bản lĩnh chính trị của luật sư là phẩm chất mang tính nghề nghiệp, chính trị và pháp lý, không chỉ thể hiện ở danh xưng mà còn được thể hiện qua nhận thức, thái độ, hành vi và khả năng đứng vững trước áp lực trong quá trình hành nghề.

Một luật sư là đảng viên, nếu thật sự gương mẫu, liêm chính, thượng tôn pháp luật, tận tụy bảo vệ công lý, biết đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thì tư cách đảng viên là một nền tảng thuận lợi để rèn luyện và thể hiện bản lĩnh chính trị. Mặt khác, một luật sư không phải là đảng viên vẫn hoàn toàn có thể có bản lĩnh chính trị vững vàng nếu người đó trung thành với Tổ quốc, tôn trọng và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo vệ công lý, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, không bị dao động trước cám dỗ vật chất và không tiếp tay cho các hành vi phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Tuy nhiên, một người là đảng viên không đương nhiên là bảo chứng vĩnh viễn cho bản lĩnh chính trị. Thực tiễn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua cho thấy, nhiều cán bộ, đảng viên, kể cả người giữ chức vụ, quyền hạn, bị xử lý kỷ luật, khai trừ khỏi Đảng hoặc bị xử lý hình sự do vi phạm pháp luật, vi phạm kỷ luật Đảng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Trong giai đoạn 2016 - 2020 đã có hơn 25.000 đảng viên suy thoái hoặc có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bị xử lý kỷ luật[1]; riêng năm 2025, cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên[2].

Theo đó, bản lĩnh chính trị không nằm ở danh xưng, mà nằm ở phẩm chất và hành vi. Danh xưng có thể là điều kiện thuận lợi để rèn luyện, nhưng không thể thay thế sự liêm chính, lòng dũng cảm, trách nhiệm xã hội và thượng tôn pháp luật. Vì vậy, khi xây dựng tiêu chuẩn luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, cần tránh hai khuynh hướng cực đoan: (i) Tuyệt đối hóa tư cách đảng viên như điều kiện đủ để đánh giá bản lĩnh chính trị; (ii) Phủ nhận vai trò nêu gương, rèn luyện, tu dưỡng của đội ngũ luật sư là đảng viên. Cách tiếp cận đúng phải là: Đánh giá luật sư bằng hành vi nghề nghiệp, đạo đức, sự tuân thủ pháp luật và trách nhiệm đối với công lý.

4. Bản lĩnh chính trị phải được kiểm nghiệm bằng hành vi, đạo đức và ý thức thượng tôn pháp luật

Đối với luật sư, bản lĩnh chính trị không thể chỉ được đánh giá bằng lời nói, lý lịch, danh xưng hay hình thức sinh hoạt tổ chức mà phải được kiểm nghiệm trong từng hành vi hành nghề. Đó là khi luật sư dám từ chối yêu cầu trái pháp luật của thân chủ; không nhận tiền để làm sai lệch sự thật khách quan; không thỏa hiệp với việc tạo lập chứng cứ giả; dám bảo vệ người yếu thế trước sự lạm quyền; biết phản biện chính sách bằng lý lẽ, bằng pháp luật, bằng tinh thần xây dựng, thay vì sự cực đoan hoặc phủ định sạch trơn; hay khi đứng trước một vụ án phức tạp, nhiều sức ép, nhưng luật sư vẫn giữ được sự tỉnh táo, liêm chính và chuẩn mực nghề nghiệp.

Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 201/QĐ-HĐLSTQ ngày 13/12/2019 của Hội đồng Luật sư toàn quốc xác định, đây là cơ sở để xây dựng các giá trị chuẩn mực của nghề luật sư, đồng thời là căn cứ để giám sát, xem xét khen thưởng, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý kỷ luật đối với luật sư. Những chuẩn mực như độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng nhưng không được vi phạm pháp luật, đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp chính là sự cụ thể hóa bản lĩnh chính trị, pháp lý của luật sư trong đời sống nghề nghiệp.

Một luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng không phải là người né tránh vụ án khó, vụ án nhạy cảm. Trái lại, đó phải là người có đủ trí tuệ, dũng khí, sự tỉnh táo và đạo đức để tham gia các vụ việc khó trong khuôn khổ pháp luật, bảo vệ công lý mà không vượt qua lằn ranh pháp luật. Chính vì vậy, khi thể chế hóa tiêu chuẩn này trong Luật Luật sư (sửa đổi) cần tránh quy định chung chung, không lượng hóa được, dễ dẫn đến cách hiểu tùy nghi. Một số ý kiến chuyên môn đã cảnh báo rằng, nếu tiêu chuẩn “bản lĩnh chính trị vững vàng” không được định nghĩa rõ có thể tạo ra tâm lý e ngại, khiến luật sư né tránh các vụ án nhạy cảm vì sợ việc bào chữa quyết liệt bị diễn giải sai lệch. Đây là điểm cần được cơ quan soạn thảo lưu ý để bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý nhà nước và quyền độc lập hành nghề hợp pháp của luật sư.

5. Kiến nghị tiêu chí nhận diện luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng

Để yêu cầu “có bản lĩnh chính trị vững vàng” không trở thành khẩu hiệu, cần nghiên cứu chuyển hóa thành bảy nhóm tiêu chí cơ bản có thể nhận diện, đánh giá và vận dụng trong thực tiễn sau:

Tiêu chí

Biểu hiện trong hành nghề luật sư

Tôn trọng Hiến pháp và pháp luật

Lấy Hiến pháp, pháp luật làm chuẩn mực hành động; không xúi giục thân chủ khai báo gian dối, không tạo lập hoặc sử dụng chứng cứ giả, không dùng thủ đoạn trái luật để đạt kết quả vụ việc.

Trung thành với lợi ích quốc gia, dân tộc

Không tiếp tay cho hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; không lợi dụng hoạt động luật sư để phương hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Kiên định bảo vệ công lý, lẽ phải, quyền con người, quyền công dân

Tận tâm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ; tôn trọng quyền bào chữa, nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền tiếp cận công lý và quyền của các nhóm yếu thế.

Độc lập, trung thực, khách quan

Không bị chi phối bởi yêu cầu trái pháp luật của thân chủ, sức ép từ bên thứ ba hoặc lợi ích vật chất; tôn trọng sự thật khách quan của vụ việc.

Không bị chi phối bởi áp lực tiêu cực

Không dùng truyền thông để kích động dư luận sai lệch; không thỏa hiệp với lợi ích nhóm, cường quyền, tiền bạc hoặc quan hệ cá nhân làm tổn hại công lý.

Có năng lực phản biện chính sách

Tham gia góp ý pháp luật, phản biện chính sách trên cơ sở khoa học, thực tiễn, chuẩn mực nghề nghiệp và tinh thần xây dựng Nhà nước pháp quyền.

Giữ gìn đạo đức, danh dự và uy tín nghề luật sư

Tuân thủ Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam; giữ gìn phẩm giá, sự liêm chính và niềm tin xã hội đối với nghề luật sư.

Từ các tiêu chí trên, tác giả kiến nghị một số định hướng hoàn thiện chính sách, cụ thể:

Thứ nhất, cần định nghĩa rõ tiêu chuẩn “bản lĩnh chính trị vững vàng” trong Luật Luật sư (sửa đổi) hoặc văn bản hướng dẫn, tránh quy định khái quát. Tiêu chuẩn này phải gắn với hành vi nghề nghiệp, sự tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội, không nên biến thành tiêu chí xét đoán cảm tính.

Thứ hai, cần bảo đảm sự cân bằng giữa quản lý nhà nước và tự quản nghề nghiệp của luật sư. Nhà nước có trách nhiệm quản lý để bảo đảm kỷ cương, nhưng Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư phải được phát huy vai trò tự quản, giám sát đạo đức nghề nghiệp và bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp của luật sư.

Thứ ba, cần đổi mới đào tạo, bồi dưỡng luật sư theo hướng thực chất. Việc bồi dưỡng bản lĩnh chính trị không nên dừng ở học nghị quyết hay nghe báo cáo chuyên đề một chiều, mà cần gắn với các tình huống nghề nghiệp như: Xung đột lợi ích, áp lực thân chủ, ứng xử với truyền thông, bảo vệ quyền con người trong tố tụng, giới hạn phản biện chính sách, trách nhiệm khi tham gia các vụ án có yếu tố an ninh, trật tự xã hội.

Thứ tư, cần đề cao vai trò nêu gương của những luật sư có uy tín, đạo đức, bản lĩnh và kinh nghiệm thực tiễn. Hoạt động hành nghề luật sư lành mạnh không chỉ được xây dựng bằng chế tài, mà còn bằng truyền thống nghề, bằng chuẩn mực ứng xử, bằng sự dìu dắt của các thế hệ luật sư đi trước.

Thứ năm, cần xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, không phân biệt luật sư là đảng viên hay không phải đảng viên. Chính sự công bằng, minh bạch trong xử lý vi phạm mới là thước đo của Nhà nước pháp quyền và cũng là điều kiện để bảo vệ uy tín nghề luật sư.

Kết luận

Yêu cầu luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng là yêu cầu cần thiết, khách quan và phù hợp với tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, yêu cầu này chỉ thật sự có giá trị khi được hiểu đúng và thể chế hóa thỏa đáng.

Bản lĩnh chính trị của luật sư không phải là khẩu hiệu, là sự tuyên xưng hình thức; không đồng nghĩa với tư cách đảng viên và không phải là công cụ để làm suy giảm sự độc lập nghề nghiệp của luật sư mà là sự kết tinh của lòng yêu nước, tinh thần thượng tôn pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, sự độc lập, liêm chính, dũng khí bảo vệ công lý và trách nhiệm với lợi ích quốc gia, dân tộc.

Một luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng là người dám bảo vệ thân chủ đến cùng, nhưng không vượt qua giới hạn pháp luật; dám phản biện cơ quan công quyền trên nền tảng chứng cứ và lý lẽ pháp lý; dám từ chối lợi ích bất chính; dám đứng về phía công lý khi công lý bị thách thức và dám đối diện với chính lương tâm nghề nghiệp của mình trong những thời điểm khó khăn nhất.

Bên cạnh đó, bản lĩnh chính trị của luật sư không được kiểm nghiệm bằng những lời tuyên bố long trọng, mà bằng từng hành vi cụ thể trong hành nghề: Khi đứng trước một thân chủ giàu có nhưng yêu cầu trái pháp luật; khi đối diện với một vụ án oan sai; khi bị đặt trước cám dỗ vật chất; khi chịu sức ép từ dư luận và khi phải lựa chọn giữa sự dễ dãi nhất thời với phẩm giá lâu dài của nghề luật sư. Đây mới là bản lĩnh chính trị thực chất và cũng là nền tảng để đội ngũ luật sư Việt Nam phát triển lành mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, phụng sự công lý, bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và góp phần xây dựng một Nhà nước pháp quyền thực sự vững mạnh.

(Ảnh: internet)

Tài liệu tham khảo:

  1. Báo Quân đội nhân dân, Đề xuất bổ sung tiêu chuẩn “có bản lĩnh chính trị vững vàng” đối với luật sư, https://www.qdnd.vn/phap-luat/tin-tuc/de-xuat-bo-sung-tieu-chuan-co-ban-linh-chinh-tri-vung-vang-doi-voi-luat-su-1033774.
  2. Tạp chí Luật sư Việt Nam, Tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị và khoảng trống trong dự thảo Luật Luật sư sửa đổi, https://lsvn.vn/tieu-chuan-ban-linh-chinh-tri-va-khoang-trong-trong-du-thao-luat-luat-su-sua-doi-a171736.html.
  3. Báo Thanh Niên, Hơn 25.000 đảng viên suy thoái bị kỷ luật từ 2016 - 2020, https://thanhnien.vn/hon-25-000-dang-vien-suy-thoai-bi-ky-luat-tu-2016-2020-1851409674.htm.
  4. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Năm 2025 thi hành kỷ luật hơn 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên.

[1] Tư An, Hơn 25.000 đảng viên suy thoái bị kỷ luật từ 2016 – 2020, https://thanhnien.vn/hon-25-000-dang-vien-suy-thoai-bi-ky-luat-tu-2016-2020-1851409674.htm.

[2] Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Năm 2025 thi hành kỷ luật hơn 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên.

Luật sư Lê Cao Long - Ủy viên Ban Thường vụ Liên đoàn Luật sư Việt Nam

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Kết quả triển khai Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về trợ giúp pháp lý đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Luật Trợ giúp pháp lý số 11/2017/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2017 với tỷ lệ 100% đại biểu có mặt tán thành. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tạo cơ sở pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý phát triển theo hướng chuyên nghiệp, sử dụng hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội để cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý chất lượng cho người nghèo, người thuộc diện chính sách, góp phần thực hiện chính sách “xóa đói, giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa” và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, đặc biệt là nhóm “dễ bị tổn thương”.
Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý trong tố tụng dân sự

Người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí như người nghèo, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi… khi tham gia tố tụng với tư cách là đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và lợi ích liên quan) có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc nhờ trợ giúp pháp lý tham gia bảo vệ theo quy định pháp luật.
Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Điểm mới đáng chú ý trong chính sách xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Chính sách Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Bộ Dân tộc và Tôn giáo xây dựng nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật thời gian qua, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Cần thiết sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh tinh gọn bộ máy, thực hiện chuyển đổi số

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Theo đó, việc sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo trong thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đáp ứng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, chuyển đổi số.
Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Công văn đặt bài viết cho ấn phẩm chuyên sâu truyền thông về dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng kính mời các chuyên gia, độc giả tham gia viết bài cho ấn phẩm chuyên đề chuyên sâu về truyền thông chính sách và góp ý vào dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Đột phá thể chế, pháp luật về giáo dục và đào tạo kiến tạo nguồn nhân lực cho kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết số 71-NQ/TW), ngành Giáo dục đã xây dựng và trình Quốc hội thông qua 4 luật gồm: Luật Nhà giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Giáo dục đại học (sửa đổi); Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi); cùng 4 nghị quyết quan trọng về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ từ 3 - 5 tuổi; miễn, hỗ trợ học phí; cơ chế, chính sách đặc thù phát triển giáo dục và đào tạo; chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 - 2035. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, pháp luật vừa tháo gỡ các “điểm nghẽn”, vừa tạo động lực mới cho phát triển giáo dục. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) có cuộc trao đổi với đồng chí Nguyễn Kim Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về những điểm mới nổi bật của các luật cũng như định hướng triển khai trong thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: