![]() |
| Ảnh minh họa |
Để vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, trong bối cảnh chưa sửa đổi được Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định số 124/2025/NĐ-CP). Theo đó, Nghị định số 124/2025/NĐ-CP đã bỏ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Hiện nay, tổ chức bộ máy thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo sau sắp xếp, sáp nhập tổ chức bộ máy đã có sự thay đổi rất lớn. Ở trung ương, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập trên cơ sở Ủy ban Dân tộc của Chính phủ, đồng thời tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo từ Bộ Nội vụ. Ở địa phương, cấp tỉnh là Sở Dân tộc và Tôn giáo, một số nơi vẫn sắp xếp ở Sở Nội vụ; ở cấp xã do Phòng Văn hóa xã hội thực hiện. Vì vậy, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cần được sửa đổi, bổ sung để thực hiện phân quyền, phân cấp phù hợp, tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.
Theo đó, dự thảo Luật có những quy định bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, phù hợp với nguyên tắc phân định thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan và điều kiện, đặc điểm, nguồn lực, năng lực của địa phương, bảo đảm tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:
Một là, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là chủ thể có thẩm quyền thực hiện 02 thủ tục mà theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì thẩm quyền này thuộc về cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương, tức Bộ Nội vụ (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), bao gồm:
(i) Đề nghị cho người nước ngoài đến giảng đạo cho nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
Khoản 5 Điều 48 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “5. Nhóm người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo tập trung mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài đến giảng đạo có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều này đến cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương. Cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do”.
Điều khoản trên được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 44 dự thảo Luật như sau: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho nhóm người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo tập trung mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài đến giảng đạo cho nhóm”.
(ii) Đề nghị cho người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam.
Theo Điều 49 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “1. Người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam phải là người cư trú hợp pháp ở Việt Nam, … được cơ sở đào tạo tôn giáo gửi hồ sơ đề nghị đến cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương… Cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do”.
Điều 45 dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung Điều 49 nêu trên theo hướng: “1. Người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam phải là người cư trú hợp pháp ở Việt Nam, … và được cơ sở đào tạo tôn giáo gửi hồ sơ đề nghị đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở đào tạo tôn giáo. 2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam”.
Hai là, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là chủ thể thực hiện 14 thủ tục (14 thẩm quyền) mà theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì thẩm quyền này thuộc về cơ quan chuyên môn về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh, để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, bao gồm:
- Đề nghị cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở một tỉnh (điểm a khoản 2 Điều 20 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 19 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
- Đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 31 dự thảo Luật).
- Đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một tỉnh (Điều 31 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 34 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
- Đăng ký mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho người chuyên hoạt động tôn giáo (khoản 1 Điều 37 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 41 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
- Tiếp nhận thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc đối với các trường hợp phong phẩm hoặc suy cử chức sắc không phải là hòa thượng, thượng tọa, ni trưởng, ni sư của giáo hội phật giáo Việt Nam; giám mục, linh mục của Giáo hội Công giáo Việt Nam; mục sư của các tổ chức Tin lành; phối sư trở lên của các hội thánh Cao Đài; giảng sư trở lên của tịnh độ cư sĩ phật hội Việt Nam và các phẩm vị tương đương của các tổ chức tôn giáo khác (khoản 2 Điều 30 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 33 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016)
- Tiếp nhận thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành (khoản 1 Điều 32 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 35 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
- Tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một tỉnh (Điều 33 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 36 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
- Tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm chức việc của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một tỉnh (Điều 33 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 36 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
- Tiếp nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh (khoản 1 Điều 39 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 43 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016)
- Tiếp nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh (khoản 2 Điều 39 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 43 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016)
- Tiếp nhận thông báo tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh (khoản 1 Điều 40 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 44 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016)
- Đề nghị tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh (điểm b khoản 2 Điều 41 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 45 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
- Đề nghị tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở nhiều xã thuộc một tỉnh hoặc ở nhiều tỉnh (điểm b khoản 3 Điều 42 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 46 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
- Đề nghị giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, cơ sở tôn giáo, địa điểm hơp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở nhiều xã thuộc một tỉnh hoặc ở nhiều tỉnh (điểm b khoản 3 Điều 42 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 46 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
Ba là, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện 05/08 thẩm quyền mà theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì thẩm quyền này thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, bao gồm: (i) Tiếp nhận thông báo mở lớp bồi dưỡng tôn giáo cho người không chuyên hoạt động tôn giáo (khoản 2 Điều 37 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 41 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016); (ii) Tiếp nhận thông báo tổ chức hội nghị thường niên của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một xã (khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 41 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 44, khoản 3 Điều 45 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016); (iii) Chấp thuận tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một xã (điểm a khoản 2 Điều 41 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 45 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016); (iv) Chấp thuận tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã (điểm a khoản 3 Điều 42 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 46 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016); (v) Chấp thuận việc giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã (điểm a khoản 3 Điều 42 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 46 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).
Theo quy định của dự thảo Luật, tổng số thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo là 107, trong đó cấp trung ương là 48, cấp tỉnh là 42, cấp xã là 17. Trong khi đó, theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Nghị định số 95/2023/NĐ-CP, Nghị định số 124/2025/NĐ-CP, tổng số thẩm quyền là 103, trong đó cấp trung ương là 45, cấp tỉnh là 42 và cấp xã là 16.
Bên cạnh đó, để tiếp tục thực hiện chủ trương phân cấp, phân quyền, gắn liền với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, tại khoản 3 Điều 60 dự thảo Luật đã quy định giao Chính phủ quy định chi tiết hơn 30 nội dung tại 34 điều của Luật. Cụ thể, khoản 3 Điều 60 dự thảo Luật quy định: “Chính phủ quy định chi tiết Điều 8, khoản 5 Điều 9, khoản 3 và 4 Điều 14, khoản 2 và 3 Điều 15, khoản 1 Điều 16, Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 21, khoản 2 Điều 22, khoản 3 và 4 Điều 23, Điều 24, Điều 26, khoản 2 Điều 27, khoản 2 và 3 Điều 28, Điều 30, Điều 31, Điều 32, khoản 2, 3 và 4 Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41, khoản 1, 2 và 3 Điều 42, Điều 43, khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 44, Điều 45, Điều 46, khoản 4 và 5 Điều 47, Điều 49, khoản 5 Điều 52 và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật này”.