Chủ nhật 10/05/2026 12:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ Nhất xem xét, thông qua đã quy định phân quyền, phân cấp bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp; tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Thực hiện phân quyền, phân cấp góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo
Ảnh minh họa

Để vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, trong bối cảnh chưa sửa đổi được Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định số 124/2025/NĐ-CP). Theo đó, Nghị định số 124/2025/NĐ-CP đã bỏ thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Hiện nay, tổ chức bộ máy thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo sau sắp xếp, sáp nhập tổ chức bộ máy đã có sự thay đổi rất lớn. Ở trung ương, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập trên cơ sở Ủy ban Dân tộc của Chính phủ, đồng thời tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo từ Bộ Nội vụ. Ở địa phương, cấp tỉnh là Sở Dân tộc và Tôn giáo, một số nơi vẫn sắp xếp ở Sở Nội vụ; ở cấp xã do Phòng Văn hóa xã hội thực hiện. Vì vậy, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cần được sửa đổi, bổ sung để thực hiện phân quyền, phân cấp phù hợp, tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

Theo đó, dự thảo Luật có những quy định bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, phù hợp với nguyên tắc phân định thẩm quyền, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan và điều kiện, đặc điểm, nguồn lực, năng lực của địa phương, bảo đảm tính chủ động, tự chủ của các cơ quan trong việc ra quyết định, tổ chức thi hành và tự chịu trách nhiệm đối với nhiệm vụ, quyền hạn được phân quyền, phân cấp, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:

Một là, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là chủ thể có thẩm quyền thực hiện 02 thủ tục mà theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì thẩm quyền này thuộc về cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương, tức Bộ Nội vụ (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), bao gồm:

(i) Đề nghị cho người nước ngoài đến giảng đạo cho nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.

Khoản 5 Điều 48 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “5. Nhóm người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo tập trung mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài đến giảng đạo có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều này đến cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương. Cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do”.

Điều khoản trên được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 44 dự thảo Luật như sau: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho nhóm người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo tập trung mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài đến giảng đạo cho nhóm”.

(ii) Đề nghị cho người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam.

Theo Điều 49 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “1. Người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam phải là người cư trú hợp pháp ở Việt Nam, … được cơ sở đào tạo tôn giáo gửi hồ sơ đề nghị đến cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ươngCơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở trung ương có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ; trường hợp không chấp thuận phải nêu rõ lý do”.

Điều 45 dự thảo Luật đã sửa đổi, bổ sung Điều 49 nêu trên theo hướng: “1. Người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam phải là người cư trú hợp pháp ở Việt Nam, … và được cơ sở đào tạo tôn giáo gửi hồ sơ đề nghị đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở đào tạo tôn giáo. 2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam”.

Hai là, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là chủ thể thực hiện 14 thủ tục (14 thẩm quyền) mà theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì thẩm quyền này thuộc về cơ quan chuyên môn về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo cấp tỉnh, để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, bao gồm:

- Đề nghị cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở một tỉnh (điểm a khoản 2 Điều 20 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 19 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

- Đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (được sửa đổi, bổ sung tại Điều 31 dự thảo Luật).

- Đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một tỉnh (Điều 31 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 34 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

- Đăng ký mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo cho người chuyên hoạt động tôn giáo (khoản 1 Điều 37 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 41 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

- Tiếp nhận thông báo người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc đối với các trường hợp phong phẩm hoặc suy cử chức sắc không phải là hòa thượng, thượng tọa, ni trưởng, ni sư của giáo hội phật giáo Việt Nam; giám mục, linh mục của Giáo hội Công giáo Việt Nam; mục sư của các tổ chức Tin lành; phối sư trở lên của các hội thánh Cao Đài; giảng sư trở lên của tịnh độ cư sĩ phật hội Việt Nam và các phẩm vị tương đương của các tổ chức tôn giáo khác (khoản 2 Điều 30 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 33 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016)

- Tiếp nhận thông báo thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành (khoản 1 Điều 32 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 35 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

- Tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một tỉnh (Điều 33 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 36 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

- Tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm chức việc của tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một tỉnh (Điều 33 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 36 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

- Tiếp nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh (khoản 1 Điều 39 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 43 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016)

- Tiếp nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh (khoản 2 Điều 39 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 43 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016)

- Tiếp nhận thông báo tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh (khoản 1 Điều 40 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 44 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016)

- Đề nghị tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở nhiều xã thuộc một tỉnh (điểm b khoản 2 Điều 41 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 45 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

- Đề nghị tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở nhiều xã thuộc một tỉnh hoặc ở nhiều tỉnh (điểm b khoản 3 Điều 42 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 46 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

- Đề nghị giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, cơ sở tôn giáo, địa điểm hơp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức ở nhiều xã thuộc một tỉnh hoặc ở nhiều tỉnh (điểm b khoản 3 Điều 42 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 46 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

Ba là, Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện 05/08 thẩm quyền mà theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 thì thẩm quyền này thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, bao gồm: (i) Tiếp nhận thông báo mở lớp bồi dưỡng tôn giáo cho người không chuyên hoạt động tôn giáo (khoản 2 Điều 37 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 41 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016); (ii) Tiếp nhận thông báo tổ chức hội nghị thường niên của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một xã (khoản 1 Điều 40, khoản 2 Điều 41 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 44, khoản 3 Điều 45 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016); (iii) Chấp thuận tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở một xã (điểm a khoản 2 Điều 41 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 45 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016); (iv) Chấp thuận tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã (điểm a khoản 3 Điều 42 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 46 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016); (v) Chấp thuận việc giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, ngoài cơ sở tôn giáo, ngoài địa điểm hợp pháp đã đăng ký có quy mô tổ chức trong một xã (điểm a khoản 3 Điều 42 dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 3 Điều 46 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016).

Theo quy định của dự thảo Luật, tổng số thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo là 107, trong đó cấp trung ương là 48, cấp tỉnh là 42, cấp xã là 17. Trong khi đó, theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Nghị định số 95/2023/NĐ-CP, Nghị định số 124/2025/NĐ-CP, tổng số thẩm quyền là 103, trong đó cấp trung ương là 45, cấp tỉnh là 42 và cấp xã là 16.

Bên cạnh đó, để tiếp tục thực hiện chủ trương phân cấp, phân quyền, gắn liền với việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, tại khoản 3 Điều 60 dự thảo Luật đã quy định giao Chính phủ quy định chi tiết hơn 30 nội dung tại 34 điều của Luật. Cụ thể, khoản 3 Điều 60 dự thảo Luật quy định: “Chính phủ quy định chi tiết Điều 8, khoản 5 Điều 9, khoản 3 và 4 Điều 14, khoản 2 và 3 Điều 15, khoản 1 Điều 16, Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 21, khoản 2 Điều 22, khoản 3 và 4 Điều 23, Điều 24, Điều 26, khoản 2 Điều 27, khoản 2 và 3 Điều 28, Điều 30, Điều 31, Điều 32, khoản 2, 3 và 4 Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều 41, khoản 1, 2 và 3 Điều 42, Điều 43, khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 44, Điều 45, Điều 46, khoản 4 và 5 Điều 47, Điều 49, khoản 5 Điều 52 và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật này”.

Trang Đỗ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền cơ bản được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Trong bối cảnh Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đang được sửa đổi, việc đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền trở nên cần thiết. Bài viết tiếp cận theo hướng dựa trên quyền con người, phân tích nội dung quyền theo Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và pháp luật hiện hành, đồng thời, đánh giá thực tiễn thi hành giai đoạn 2018 - 2025. Nghiên cứu cho thấy, bên cạnh những tiến bộ, thành công, kết quả đạt được, còn tồn tại khoảng cách giữa ghi nhận và thụ hưởng quyền, thể hiện qua thủ tục hành chính, sự không đồng đều trong thực thi và khoảng trống pháp lý trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và đề xuất hoàn thiện theo hướng tăng cường tính minh bạch, giảm điều kiện hóa quyền và nâng cao cơ chế bảo vệ quyền.
Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quản lý hoạt động tôn giáo và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tín ngưỡng và tôn giáo là yếu tố cấu thành cơ bản trong đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi cá nhân, gồm các lễ nghi truyền thống và tập tục. Từ góc độ pháp lý, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận là quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp và pháp luật của các quốc gia. Bài viết nghiên cứu, phân tích, so sánh khung pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của một số quốc gia trong hệ thống dân luật và cách thức quản trị sự đa dạng tôn giáo của các quốc gia này. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và quản lý hoạt động của các tôn giáo tại Việt Nam nhằm hài hòa và thúc đẩy công bằng xã hội.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung quan trọng trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sáng ngày 14/4, tại Phiên họp thứ Nhất, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XVI cho ý kiến về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý đối với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Xây dựng "môi trường số lành mạnh" cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

Xây dựng "môi trường số lành mạnh" cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo

Chiều ngày 10/4, tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về một số luật, trong đó có dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Dự thảo Luật nhận được sự quan tâm lớn của các đại biểu với nhiều ý kiến góp ý tập trung vào hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Đáng chú ý, một số ý kiến nhấn mạnh, việc sửa đổi Luật không phải để thắt chặt hay hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, mà là để tạo ra một "môi trường số lành mạnh" cho cộng đồng tôn giáo.
Thiết lập cơ chế minh bạch trong quản lý tài chính tín ngưỡng, tôn giáo

Thiết lập cơ chế minh bạch trong quản lý tài chính tín ngưỡng, tôn giáo

Tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, thảo luận về dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) ở tổ ngày 08/4 và ở hội trường ngày 10/4, một nhóm vấn đề lớn được nhiều đại biểu quan tâm là quản lý tài chính, đặc biệt là tiền công đức, hoạt động từ thiện và các nguồn thu phát sinh trong bối cảnh kinh tế số.