1. Giới thiệu chung về chính sách, đánh giá tác động của chính sách
1.1. Chính sách
Khoản 2 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025) quy định: “chính sách là tập hợp các giải pháp cụ thể của Nhà nước để giải quyết một hoặc một số vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng”. Để phục vụ việc xây dựng, đánh giá tác động của chính sách, khoản 2 Điều 68 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định “cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan được tham vấn chính sách có quyền thuê chuyên gia, tổ chức điều tra, khảo sát thực tế, hội thảo, tọa đàm, đánh giá tác động của chính sách để hỗ trợ, nâng cao chất lượng xây dựng chính sách”. Ví dụ, thực tiễn cho thấy sự phát triển nhanh chóng của ngành thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam trong những năm vừa qua kéo theo nhiều vấn đề môi trường, đặc biệt là rác thải từ đóng gói, hoàn thiện đơn hàng và giao đồ ăn trực tuyến. Để giải quyết vấn đề này, tại hồ sơ chính sách của dự án Luật Thương mại điện tử, Bộ Công Thương đề xuất chính sách “khuyến khích TMĐT phát triển bền vững”, theo đó, mục tiêu của chính sách là thúc đẩy TMĐT phát triển xanh, bền vững, góp phần phát triển kinh tế hiệu quả, tạo giá trị cho cộng đồng, góp phần xây dựng xã hội công bằng và giảm thiểu tác động tiêu cực tới môi trường.
1.2. Các trường hợp thực hiện quy trình xây dựng chính sách
Khoản 1 Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định các trường hợp thực hiện quy trình xây dựng chính sách, theo đó, cơ quan trình có trách nhiệm tổ chức thực hiện quy trình xây dựng chính sách trước khi soạn thảo trong các trường hợp xây dựng VBQPPL sau đây: (i) luật, pháp lệnh mới; luật, pháp lệnh thay thế các luật, pháp lệnh hiện hành; (ii) luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của Hiến pháp; (iii) nghị quyết thí điểm của Quốc hội. Đây là điểm mới cơ bản của Luật Ban hành VBQPPL năm 2025. Để bảo đảm chất lượng chính sách của một số loại VBQPPL quan trọng, những văn bản này phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách được cơ quan có thẩm quyền thông qua trước khi được quy định cụ thể trong các VBQPPL bằng quá trình soạn thảo (quy phạm hóa chính sách). Ví dụ: tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10/2025), dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) được Bộ Tài chính xây dựng để trình Quốc hội xem xét, thông qua thay thế Luật Quản lý thuế hiện hành hoặc dự án Luật Thương mại điện tử được Bộ Công Thương xây dựng để trình Quốc hội xem xét, thông qua là luật mới, do đó, các dự án luật này phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách.
Các trường hợp không phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách gồm có: (i) trường hợp các loại văn bản tại khoản 1 Điều 27 được phép thực hiện theo trình tự, thủ tục rút gọn, thì cơ quan chủ trì soạn thảo không phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách (khoản 2 Điều 51 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025); (ii) trường hợp cần ban hành luật, nghị quyết ngay tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra hoặc kỳ họp gần nhất để giải quyết ngay vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn mà nội dung đề xuất chưa có trong chương trình lập pháp hằng năm thì cơ quan trình dự án chủ động tổ chức soạn thảo và không phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách (khoản 2 Điều Luật Ban hành VBQPPL năm 2025).
1.3. Đánh giá tác động của chính sách
Khoản 4 Điều 3 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 định nghĩa “đánh giá tác động của chính sách là việc phân tích, dự báo khả năng ảnh hưởng của từng giải pháp nhằm lựa chọn phương án tối ưu, phù hợp với mục tiêu của chính sách”. Ví dụ: đối với chính sách “khuyến khích TMĐT phát triển bền vững” tại dự án Luật Thương mại điện tử, Bộ Công Thương đưa ra 02 phương án: (i) phương án A: quy định về TMĐT xanh và bền vững và (ii) phương án B: giữ nguyên như hiện tại. Trên cơ sở đánh giá tác động về kinh tế - xã hội, về giới, về thủ tục hành chính cũng như tác động đối với hệ thống pháp luật của từng phương án, Bộ Công Thương đề xuất lựa chọn phương án A do giải pháp này sẽ nâng cao trách nhiệm của các bên tham gia hoạt động TMĐT thông qua áp dụng Bộ tiêu chí về TMĐT xanh, hỗ trợ doanh nghiệp giảm chi phí dài hạn, tăng cường hiệu quả hoạt động và góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững quốc gia, giảm tác động tiêu cực đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái và cải thiện chất lượng cuộc sống. Đối với người tiêu dùng, quy định làm tăng niềm tin của người tiêu dùng vào thương hiệu và sản phẩm, khuyến khích hành vi tiêu dùng có trách nhiệm.
2. Quy trình xây dựng chính sách
Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ (Nghị định số 78/2025/NĐ-CP), xác định quy trình xây dựng chính sách gồm 05 bước sau: (i) xác định chính sách; (ii) đánh giá tác động của chính sách; (iii) lấy ý kiến, tham vấn chính sách; (iv) thẩm định chính sách; (v) thông qua chính sách. Nội dung cụ thể của các bước được quy định chủ yếu tại Mục 2 Chương III Luật Ban hành VBQPPL năm 2025. Trong quá trình thực hiện các bước của quy trình xây dựng chính sách, các cơ quan có thể căn cứ vào các mẫu quy định tại Phụ lục IV Nghị định số 187/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành VBQPPL và Nghị định số 79/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa và xử lý VBQPPL (thay thế Phụ lục IV của Nghị định số 78/2025/NĐ-CP)[1].
2.1. Xác định chính sách
Khoản 1 Điều 28 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định: “cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm xác định chính sách trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng; kết quả tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; chủ trương phân quyền, phân cấp; vấn đề mới, xu hướng mới; yêu cầu quản lý nhà nước và khuyến khích sáng tạo, khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội; cam kết trong điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Nội dung từng chính sách phải cụ thể, rõ ràng, bao gồm: (i) vấn đề cần giải quyết, nguyên nhân của từng vấn đề; (ii) mục tiêu cần đạt được khi giải quyết các vấn đề; (iii) các giải pháp để giải quyết từng vấn đề; (iv) đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, nhóm đối tượng chịu trách nhiệm thực hiện chính sách; (v) giải pháp tối ưu được lựa chọn. Ngoài các cơ sở để xác định chính sách ở trên, định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội cũng là một cơ sở để các cơ quan xác định chính sách (Điều 10 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP).
2.2. Đánh giá tác động của chính sách
Mục đích đánh giá tác động của chính sách là: (i) giúp cơ quan có thẩm quyền thận trọng, khách quan khi xem xét, cân nhắc lựa chọn giải pháp hợp lý, khả thi và hiệu quả để giải quyết vấn đề thực tiễn; (ii) giúp nâng cao chất lượng của chính sách do việc phân tích, đánh giá được thực hiện bằng các phương pháp khoa học dựa trên các thông tin, dữ liệu, số liệu được thu thập từ các nguồn rõ ràng, tin cậy; (iii) giúp công khai thông tin về chính sách mới, thăm dò ý kiến dư luận thông qua việc lấy ý kiến Nhân dân, các đối tượng chịu tác động trực tiếp; (iv) giúp bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của các chính sách, quy định pháp luật đối với hệ thống pháp luật của Việt Nam và các điều ước quốc tế.
Dự thảo báo cáo đánh giá tác động chính sách là một trong năm thành phần hồ sơ chính sách để lấy ý kiến, tham vấn chính sách. Báo cáo đánh giá tác động sau khi được hoàn thiện trên cơ sở ý kiến góp ý là một trong bẩy thành phần hồ sơ chính sách gửi thẩm định. Sau khi chính sách được thông qua, báo cáo đánh giá tác động chính sách trở thành tài liệu rất quan trọng trong hồ sơ dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH để lấy ý kiến, phản biện xã hội, thẩm định, thẩm tra dự án, dự thảo VBQPPL. Cơ quan lập đề xuất chính sách đồng thời chịu trách nhiệm đánh giá tác động chính sách.
Khoản 1 Điều 29 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định: cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách. Nội dung đánh giá đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều này[2]. Đối với dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật này, trước khi biểu quyết thông qua, nếu bổ sung chính sách mới thì cơ quan trình có trách nhiệm tổ chức đánh giá tác động của chính sách đó (khoản 3 Điều 29). Điều 14 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP hướng dẫn việc xây dựng báo cáo đánh giá tác động chính sách[3].
Ví dụ: thực hiện quy định của Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, Bộ Tài chính đã xây dựng Báo cáo số 325/BC-BTC ngày 15/7/2025 để đánh giá tác động của chính sách đối với Luật Quản lý thuế (sửa đổi), đây là một trong các thành phần hồ sơ gửi Bộ Tư pháp để thẩm định đề xuất chính sách của Luật này.
2.3. Lấy ý kiến, tham vấn chính sách
Khoản 3 Điều 3 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 giải thích thuật ngữ tham vấn chính sách như sau: “Tham vấn chính sách là việc trao đổi trực tiếp giữa cơ quan lập đề xuất chính sách với cơ quan, tổ chức, cá nhân được tham vấn theo quy định của Luật này nhằm lựa chọn giải pháp, hoàn thiện chính sách của dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH”. Điều 30 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định về trách nhiệm lấy ý kiến, tham vấn chính sách[4].
Điều 6 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 cũng quy định trách nhiệm của cơ quan lập đề xuất chính sách trong việc tham vấn, lấy ý kiến góp ý đối với đề xuất chính sách. Quyền được góp ý và việc tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về chính sách được quy định tại khoản 3 Điều 6.
Đối với văn bản dưới luật, Điều 15 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP hướng dẫn việc tham vấn, lấy ý kiến chính sách đối với bộ, cơ quan ngang bộ[5]. Theo đó, bộ, cơ quan ngang bộ lập đề xuất chính sách có trách nhiệm tham vấn đối với chính sách liên quan trực tiếp đến phạm vi quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực của bộ, cơ quan ngang bộ khác. Việc tham vấn chính sách có thể thực hiện nhiều lần thông qua hội nghị tham vấn. Bộ, cơ quan ngang bộ lập đề xuất chính sách lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan, trong đó phải lấy ý kiến của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ.
Ngoài ra, Điều 2 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định việc lấy ý kiến trong quá trình xây dựng VBQPPL, trong đó có trách nhiệm của cơ quan lập đề xuất chính sách trong việc lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, chuyên gia, nhà khoa học về chính sách. Trong đó, cần xác định nội dung lấy ý kiến phù hợp với đối tượng cần lấy ý kiến, nêu rõ địa chỉ tiếp nhận ý kiến. Việc lấy ý kiến có thể trực tiếp hoặc thông qua tổ chức đại diện theo quy định của pháp luật về tổ chức chính trị xã hội, pháp luật về hội. Hình thức lấy ý kiến rất linh hoạt, có thể bằng văn bản; thông qua hội nghị, phương tiện thông tin đại chúng hoặc hình thức phù hợp khác hoặc thông qua việc đăng tải dự án, dự thảo VBQPPL trên cổng hoặc trang thông tin điện tử.
Sau khi lấy ý kiến, cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến góp ý; đăng tải bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý trên cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan mình chậm nhất là 25 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn lấy ý kiến; thời gian đăng tải ít nhất là 30 ngày.
Ví dụ: đối với việc xây dựng dự án Luật Thương mại điện tử, Bộ Công Thương đã tổ chức lấy ý kiến, tham vấn chính sách Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội TMĐT Việt Nam và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan thông qua các hình thức: gửi văn bản lấy ý kiến; đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ và của Bộ Công Thương để lấy ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định; tổ chức hội nghị tham vấn chính sách. Trên cơ sở ý kiến góp ý, tham vấn chính sách, Bộ Công Thương đã tổng hợp, xây dựng bảng tiếp thu, giải trình các ý kiến góp ý, tham vấn đối với các chính sách của dự án Luật Thương mại điện tử.
2.4. Truyền thông chính sách
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định: “việc truyền thông được thực hiện từ thời điểm lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp về chính sách, dự thảo VBQPPL đến khi cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thông qua hoặc ban hành”. Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định: trừ VBQPPL có nội dung thuộc phạm vi bí mật nhà nước, nội dung truyền thông bao gồm: (i) sự cần thiết ban hành chính sách, VBQPPL; (ii) nội dung cơ bản bao gồm: nội dung mới, sửa đổi, bổ sung của chính sách, dự thảo VBQPPL; (iii) nội dung khác (nếu có). Nội dung truyền thông chính sách phải bảo đảm ngắn gọn, dễ hiểu để đăng tải trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan mình và tổ chức truyền thông bằng hình thức phù hợp.
2.5. Thẩm định chính sách
Khoản 1 Điều 31 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định: “Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tổ chức thẩm định chính sách của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH trước khi trình Chính phủ trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Việc thẩm định được thực hiện trên cơ sở hồ sơ chính sách gửi thẩm định. Đối với chính sách do Bộ Tư pháp đề xuất hoặc trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp thành lập hội đồng thẩm định”. Hồ sơ chính sách gửi thẩm định đầy đủ theo khoản 2 Điều 31 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025.
Khoản 4 Điều 31 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định nội dung thẩm định chính sách gồm: (i) sự cần thiết của chính sách; (ii) sự phù hợp của chính sách với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; (iii) tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của chính sách; (iv) tính tương thích của chính sách với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh; nguồn tài chính; nguồn nhân lực; (v) sự cần thiết quy định thủ tục hành chính; việc phân quyền, phân cấp; việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có); (vi) việc tuân thủ trình tự, thủ tục xây dựng chính sách.
Khoản 5 Điều 31 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định: báo cáo thẩm định của Bộ Tư pháp phải nêu rõ hồ sơ chính sách đủ hay chưa đủ điều kiện trình Chính phủ; báo cáo thẩm định được gửi đến Chính phủ, đồng thời, gửi cơ quan lập đề xuất chính sách. Trường hợp đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan lập đề xuất chính sách nghiên cứu, xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định và chịu trách nhiệm về nội dung tiếp thu, giải trình để trình Chính phủ. Trường hợp chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan lập đề xuất chính sách phải tiếp thu, giải trình, hoàn thiện hồ sơ chính sách để thẩm định lại.
Điều 16 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn việc thẩm định chính sách của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH[6].
Ví dụ: liên quan đến Luật Quản lý thuế (sửa đổi), ngày 15/7/2025, Bộ Tài chính có công văn gửi Bộ Tư pháp đề nghị thẩm định đối với hồ sơ chính sách dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi). Thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền và theo đề nghị của Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp đã kiểm tra hồ sơ và ban hành Quyết định thành lập Hội đồng thẩm định hồ sơ chính sách dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi); có giấy mời gửi các thành viên Hội đồng thẩm định dự cuộc họp Hội đồng thẩm định chính sách dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi). Ngày 24/7/2025, Bộ Tư pháp đã tổ chức họp Hội đồng thẩm định chính sách dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).
2.6. Thông qua chính sách
Điều 32 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định: (i) đối với luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH do Chính phủ trình, Chính phủ ban hành nghị quyết thông qua chính sách làm cơ sở cho việc soạn thảo; (ii) đối với luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH không do Chính phủ trình, cơ quan trình ban hành văn bản thông qua chính sách làm cơ sở cho việc soạn thảo.
Điều 17 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định chi tiết về việc Chính phủ thông qua chính sách[7]. Các chính sách được thông qua là cơ sở cho việc soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH[8].
Trường hợp bổ sung chính sách mới trong quá trình soạn thảo thì chính sách mới phải được thực hiện đầy đủ các bước như chính sách đã được xây dựng trước đó theo quy định tại các điều 28, 29, 30, 31 và 32 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025[9]. Đối với các dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của UBTVQH đã thực hiện quy trình xây dựng chính sách, thì không bắt buộc phải tổ chức lấy ý kiến[10].
Ngoài các chính sách mà Chính phủ xem xét, thông qua, đối với các đề xuất chính sách, dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH không do Chính phủ trình, Chính phủ sẽ thực hiện cho ý kiến đối với các đề xuất chính sách đó. Trình tự, thủ tục xây dựng ý kiến của Chính phủ đối với các đề xuất chính sách không do Chính phủ trình được quy định tại Điều 22 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025.
3. Đánh giá tác động chính sách
Việc đánh giá tác động chính sách được thực hiện linh hoạt, do cơ quan đánh giá tác động chính sách quyết định từ nội dung thông tin và dữ liệu cần thu thập để đánh giá, phương pháp đánh giá… tùy theo nội dung cần đánh giá, với mục tiêu cuối cùng là giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể lựa chọn được giải pháp tối ưu để thực hiện chính sách. Tùy từng trường hợp, cơ quan đánh giá tác động chính sách cần xác định cụ thể và chính xác các thông tin và dữ liệu cần thu thập. Thông tin được sử dụng khi xây dựng báo cáo đánh giá tác động của chính sách phải chính xác, trung thực và ghi rõ nguồn thông tin.
3.1. Trình tự đánh giá tác động chính sách
Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP không quy định cứng trình tự thực hiện đánh giá tác động chính sách, trao quyền chủ động và tự chịu trách nhiệm cho cơ quan lập đề xuất chính sách đối với hoạt động này. Tuy nhiên, khi thực hiện đánh giá tác động chính sách, cơ quan đánh giá tác động chính sách có thể tham khảo quy trình sau:
(i) Lập kế hoạch, chuẩn bị nội dung: nhằm xác định chính sách cần được đánh giá, đối tượng chịu sự tác động, xác định phương pháp đánh giá phù hợp với chính sách và đối tượng chịu sự tác động, xây dựng phương án và kế hoạch thực hiện.
(ii) Thực hiện đánh giá: nhằm thu thập dữ liệu định lượng/định tính phục vụ cho việc đánh giá tác động, thực hiện việc đánh giá theo các nội dung cần đánh giá tác động theo quy định.
(iii) Tổng hợp kết quả, đề xuất giải pháp, dự thảo báo cáo: nhằm tổng hợp kết quả đánh giá tác động chính sách, so sánh, đề xuất giải pháp tối ưu và dự thảo báo cáo đánh giá tác động của chính sách.
(iv) Lấy ý kiến đối với dự thảo báo cáo: để xác định hình thức, phạm vi và đối tượng lấy ý kiến dự thảo báo cáo, thu thập ý kiến đối với dự thảo báo cáo, xử lý kết quả lấy ý kiến, tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý đối với dự thảo báo cáo đánh giá tác động chính sách.
(v) Hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động chính sách, trình cơ quan có thẩm quyền.
3.2. Đánh giá tác động đối với hệ thống pháp luật
Điểm a khoản 2 Điều 29 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định tác động đối với hệ thống pháp luật được đánh giá trên cơ sở phân tích về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của chính sách; tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Từ đó, có cơ sở so sánh nội dung của chính sách được đề xuất với các quy phạm pháp luật, các điều ước quốc tế đang có hiệu lực.
Ví dụ: chính sách khuyến khích TMĐT phát triển bền vững tại dự án Luật Thương mại điện tử liên quan nhiều đến lĩnh vực môi trường, vì vậy, cần rà soát, so sánh nội dung của chính sách này với các VBQPPL có liên quan như Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Đồng thời, cần rà soát để bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan đến TMĐT như: (i) Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP); (ii) Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP); (iii) Hiệp định ASEAN về TMĐT; (iv) Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc; (v) Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Australia- New Zealand; (vi) Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam - Các tiểu vương quốc Ả-rập Thống nhất (CEPA); (vii) Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA); (viii) Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA).
3.3. Đánh giá tác động về kinh tế xã hội
Điểm b khoản 2 Điều 29 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định tác động về kinh tế - xã hội được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo chi phí, lợi ích, tác động tích cực, tiêu cực về một hoặc một số nội dung liên quan đến sản xuất, kinh doanh, việc làm, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, y tế, giáo dục, môi trường, quốc phòng, an ninh; các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế - xã hội. Ví dụ: đánh giá tác động kinh tế - xã hội của hồ sơ xây dựng chính sách dự án Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp:
(i) Tác động kinh tế đối với Nhà nước của giải pháp giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trong chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV): nhằm hỗ trợ DNNVV, hỗ trợ thuế TNDN cho DNNVV theo quy định của Luật này. Theo đó, DNNVV được áp dụng mức thuế suất thuế TNDN thấp hơn mức thuế suất thông thường áp dụng cho doanh nghiệp theo quy định tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp được đưa ra. Cụ thể, thuế TNDN đối với DNNVV thấp hơn 3% và doanh nghiệp siêu nhỏ thấp hơn 5% so với mức thuế suất thuế TNDN hiện nay quy định tại Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Với chính sách này, Nhà nước sẽ bị giảm bớt nguồn thu từ thuế TNDN từ khoảng 265.900 DNNVV với mức giảm thu khoảng 7.546 tỷ đồng/năm.
(ii) Tác động kinh tế đối với người dân khi thực hiện giải pháp chính sách thành lập quỹ phòng chống thiên tai: nhằm thực hiện chính sách xã hội hóa công tác phòng chống thiên tai, giảm bớt gánh nặng về chi phí đối với ngân sách nhà nước, một giải pháp chính sách đã được đưa ra là thành lập quỹ phòng chống thiên tai tại cấp tỉnh. Với việc thành lập quỹ này, công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi đến hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật về lao động đóng góp như sau: (i) cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang hưởng lương, cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước đóng 01 ngày lương/người/năm theo mức lương cơ bản, sau khi trừ các khoản thuế, bảo hiểm phải nộp; (ii) người lao động làm việc trong các doanh nghiệp đóng 01 ngày lương/người/năm lương tối thiểu; (iii) người lao động khác đóng 15.000 đồng/người/năm.
Như vậy, hồ sơ đã xác định giải pháp chính sách này sẽ dẫn đến phát sinh chi phí của người dân, cụ thể là mức đóng góp cho quỹ hằng năm. Theo tính toán, với mức đóng như trên, tổng số tiền người dân thuộc diện phải đóng sẽ là 1.647 tỷ đồng/năm.
3.4. Đánh giá tác động về giới
Điểm c khoản 2 Điều 29 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định tác động về giới (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân tích về cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới.
Tác động về giới của chính sách được hiểu là những ảnh hưởng và hệ quả do dự thảo chính sách có thể gây ra (tích cực hoặc tiêu cực) đối với sự bình đẳng của mỗi giới (nam, nữ) về cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện các quyền, nghĩa vụ cũng như việc thụ hưởng các quyền, lợi ích.
Khi đánh giá tác động về giới, cơ quan đánh giá tác động chính sách cần lưu ý các quy định tại Luật Bình đẳng giới năm 2006 và các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết, trong đó quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới.
3.5. Đánh giá tác động của thủ tục hành chính
Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định về trách nhiệm đánh giá tác động của thủ tục hành chính trong giải pháp thực hiện chính sách như sau: “cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đánh giá tác động của thủ tục hành chính nếu giải pháp thực hiện chính sách có thủ tục hành chính; dự án, dự thảo VBQPPL có quy định thủ tục hành chính. Việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tư pháp”. Điểm d khoản 2 Điều 29 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định tác động của thủ tục hành chính (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân tích về sự cần thiết của thủ tục hành chính để thực hiện chính sách. Việc đánh giá tác động thủ tục hành chính cần bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính và Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính); bảo đảm yêu cầu tại Nghị quyết số 158/2024/QH15 ngày 12/11/2024 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025; Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ về chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 và 2026; Công điện số 22/CĐ-TTg ngày 09/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm về cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện, dự thảo thông tư của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn nghiệp vụ xây dựng, ban hành VBQPPL đang được xây dựng, trong đó sẽ bao gồm một số quy định chi tiết về việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính trong giải pháp thực hiện chính sách.
Kết luận
Từ những phân tích trên cho thấy, Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách như: (i) các trường hợp bắt buộc thực hiện quy trình xây dựng chính sách (gồm quy trình chính sách và quy trình soạn thảo) chỉ bao gồm 03 trường hợp (khoản 1 Điều 27); (ii) chính sách phải cụ thể, rõ ràng; đánh giá tác động của chính sách phải thực chất, kỹ lưỡng, nghiêm túc; (iii) chính sách bắt buộc phải được lấy ý kiến, tham vấn chính sách, truyền thông chính sách. Đối tượng được tham vấn chính sách mở rộng, không chỉ bao gồm các cơ quan có thẩm quyền như Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực các Ủy ban của Quốc hội, bộ, cơ quan ngang bộ, đại diện cơ quan khác của Quốc hội, mà còn có đối tượng hoặc tổ chức đại diện cho đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, các chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Tham vấn chính sách được thực hiện thông qua Hội nghị tham vấn chính sách. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm xây dựng văn bản về kết quả tham vấn chính sách; (iv) quy trình chính sách sẽ thực hiện hoàn toàn ở khâu cơ quan trình, riêng trong phạm vi Chính phủ, chính sách sẽ do các bộ, ngành xây dựng, đề xuất và Chính phủ xem xét, thông qua làm cơ sở để các bộ, ngành quy phạm hóa chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng VBQPPL, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng VBQPPL./.
Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp
Ảnh: Internet
[1]. Bao gồm: (i) Mẫu tờ trình chính sách của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; (ii) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách; (iii) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện quy trình xây dựng chính sách; (iv) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thực hiện quy trình xây dựng chính sách; (v) Bản đánh giá thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, bảo đảm bình đẳng giới, việc thực hiện chính sách dân tộc trong dự án, dự thảo; (vi) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách, dự thảo.
[2]. Xem: Khoản 2 Điều 29 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025.
[3]. Xem: Điều 14 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP.
4. Xem: Điều 30 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025.
5. Xem: Điều 15 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP.
6. Xem: Điều 16 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP.
7. Xem: Điều 17 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP.
8. Xem: Khoản 2 Điều 33 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025.
9. Xem: Khoản 2 Điều 33 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025.
10. Xem: Khoản 3 Điều 33 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025.
(Nguồn: Ấn phẩm 200 trang “Triển khai thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025” xuất bản năm 2025)