Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực pháp lý; thành viên Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) Trung ương và Hội đồng phối hợp PBGDPL tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; đại diện Cơ quan Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; đại diện Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đại diện Đoàn Luật sư, Hội Luật gia; một số Văn phòng Luật sư/Công ty Luật tại Quảng Ninh, Hà Nội và các tỉnh, thành phố lân cận; cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu...
![]() |
| Hội thảo khoa học “Góp ý dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)” |
Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức PBGDPL theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả
Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật nhận định, một nhà nước pháp quyền vững mạnh không chỉ được đánh giá ở mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật mà còn được phản ánh ở trình độ văn hóa pháp lý, văn hóa tuân thủ, ý thức thượng tôn pháp luật và khả năng tiếp cận pháp luật của người dân. Vì vậy, PBGDPL không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhà nước mà còn là cầu nối quan trọng giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật; giữa ý chí của Nhà nước với nhận thức, hành động và văn hóa pháp lý của xã hội.
Qua hơn 10 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 (Luật năm 2012), công tác PBGDPL đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, việc sửa đổi Luật là hết sức cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy, phương thức, cách thức PBGDPL theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; tăng cường ứng dụng công nghệ số, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo; xây dựng môi trường pháp lý và văn hóa tuân thủ pháp luật; góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật.
Tổng Biên tập nhấn mạnh, Hội thảo được tổ chức nhằm tạo diễn đàn để cho các cơ quan quản lý nhà nước, các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn cùng trao đổi, thảo luận, đánh giá toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật). Đồng chí Trương Thế Côn tin tưởng, với tinh thần trách nhiệm, trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của các quý vị đại biểu, Hội thảo sẽ tiếp nhận được nhiều ý kiến sâu sắc, thiết thực, góp phần giúp cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật trước khi trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.
![]() |
| Đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phát biểu khai mạc Hội thảo |
06 nhóm chính sách của Luật bảo đảm đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới
Phát biểu dẫn đề Hội thảo, đồng chí Phan Hồng Nguyên, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý cho biết, dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội và sẽ trình Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10/2026. Để triển khai nhiệm vụ này, trong thời gian vừa qua, Bộ Tư pháp cũng đã tích cực xây dựng chính sách, trình Chính phủ thông qua và hiện nay đang xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương. Phó Cục trưởng nêu rõ, công tác PBGDPL được đánh giá là khâu đầu tiên của tổ chức thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. Để đưa pháp luật vào cuộc sống có nhiều cách thức tổ chức triển khai thực hiện, trong đó, công tác PBGDPL là một trong các hoạt động, nhiệm vụ, giải pháp hết sức căn bản để đưa pháp luật vào cuộc sống.
Phó Cục trưởng cho biết, hiện nay, dự thảo Luật có thiết kế 05 chương, 49 điều, giữ nguyên số chương và tăng 08 điều so với Luật năm 2012. Để có định hướng để trao đổi thảo luận, Luật này đã cụ thể hóa, quy phạm hóa 6 nhóm chính sách đã được Chính phủ phê duyệt. Từ đó, đồng chí đề nghị các đại biểu góp ý tập trung vào 06 nhóm vấn đề của các chính sách đã được Chính phủ thông qua, đặc biệt từ thực tiễn vướng mắc tại địa phương, hiến kế để Ban soạn thảo tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật. Cụ thể:
Về chính sách thứ nhất: phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước cũng như là trong thực hiện công tác PBGDPL.
Hiện nay, theo quy định của Luật năm 2012 đã quy định về trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ ở Trung ương, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương, kể cả của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể là thành viên của Mặt trận. Tuy nhiên, quy định của Luật chưa rõ trách nhiệm trong việc chủ trì tổ chức PBGDPL. Do đó, thời gian vừa qua, thực tế có quan điểm cho rằng, công tác PBGDPL là trách nhiệm của Bộ, ngành Tư pháp.
Do đó, hiện, dự thảo Luật quy định rõ hơn trách nhiệm chủ trì truyền thông chính sách cũng như PBGDPL là của cơ quan chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, bộ, ngành quản lý nhà nước nào, cơ quan, đơn vị cấp dưới ở địa phương quản lý nhà nước về lĩnh vực nào thì phải chủ trì PBGDPL về ngành và lĩnh vực đó.
Về chính sách thứ 2: quy định về cơ chế tổ chức, hoạt động của Hội đồng phối hợp PBGDPL để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cũng như đặt ra yêu cầu thực tiễn về Hội đồng của các bộ, ngành và của cấp xã.
Theo chủ trương của Chính phủ phê duyệt, hiện nay, Chính phủ đồng ý chủ trương tiếp tục duy trì, phát triển Hội đồng phối hợp PBGDPL ở trung ương và Hội đồng cấp tỉnh. Đồng thời, quy định theo hướng mở là đối với các bộ, ngành ở trung ương, tùy từng điều kiện thực tiễn có thể thành lập Hội đồng ở bộ, ngành mình; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tùy theo tình hình công tác PBGDPL và điều kiện của địa phương sẽ quyết định việc thành lập Hội đồng cấp xã. Đây là điểm rất khác so với Điều 7 Luật năm 2012.
![]() |
| Đồng chí Phan Hồng Nguyên, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý phát biểu dẫn đề tại Hội thảo |
Về chính sách thứ 3: mở rộng nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế và quy định rõ hơn trách nhiệm, chính sách bảo đảm PBGDPL cho đối tượng đặc thù.
Hiện nay, theo quy định của Luật năm 2012, có 06 nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế. Tuy nhiên, trong quá trình tổng kết, có một số bộ, ngành đề xuất nghiên cứu mở rộng thêm đối tượng đặc thù, đồng thời, giảm bớt một số đối tượng đặc thù. Hiện, dự thảo Luật đã cụ thể hóa theo hướng mở rộng thêm hai nhóm đối tượng đặc thù gồm: người thuộc hộ nghèo; hộ cận nghèo (quy định này tương đồng với Luật Trợ giúp pháp lý); đối tượng bị bạo lực (bạo lực nội hàm rộng hơn bạo lực gia đình). Bên cạnh đó, giảm bớt một số đối tượng không cần thiết và theo yêu cầu thực tế.
Một điểm mới so với Luật năm 2012 khi đã có các chính sách cụ thể và giao Chính phủ quy định chi tiết, cụ thể các chính sách này cho phù hợp với thực tiễn, bảo đảm đã là đặc thù phải có những chính sách đặc thù để tạo điều kiện, nguồn lực và con người, kinh phí cho công tác PBGDPL cho đối tượng này.
Về chính sách thứ tư: quy định rõ nội dung trách nhiệm giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Hiện, Luật năm 2012 (Mục 2 Chương II) đã quy định về công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường. Tuy nhiên, qua quá trình tổng kết thấy rằng trách nhiệm của Bộ, ngành Tư pháp và trách nhiệm của Bộ, ngành Giáo dục và Đào tạo chưa rõ nên trong thực tiễn cũng chưa rõ việc giáo dục pháp luật trong nhà trường, công tác PBGDPL trong nhà trường sẽ do cơ quan nào chủ trì, thực hiện và cơ chế kiểm tra, đánh giá, rà soát các nhiệm vụ này. Do đó, dự thảo Luật đã quy định rõ trách nhiệm của 2 bộ trong công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, kể cả trách nhiệm của các cơ sở giáo dục và đào tạo.
Về chính sách thứ 5: bổ sung quy định về truyền thông chính sách và các phương thức phổ biến pháp luật theo hướng hiện đại, tăng cường chuyển đổi số.
Tại dự thảo Luật có 03 điều quy định về việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội trong PBGDPL. Luật năm 2012 đã được ban hành trong bối cảnh chưa có yêu cầu thực tiễn về chuyển đổi số. Tuy nhiên, 05 năm gần đây, trước sự phát triển khoa học công nghệ hết sức mạnh mẽ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vấn đề chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có PBGDPL đặt ra với yêu cầu tất yếu và đòi hỏi thực tiễn.
Về chính sách thứ 6: bổ sung cơ chế, chính sách và nguồn lực tương xứng cho PBGDPL.
Thời gian vừa qua, khi đánh giá tổng kết cũng như là nắm bắt tình hình công tác PBGDPL ở địa phương, cơ sở cho thấy một trong những khó khăn, vướng mắc là nguồn lực làm sao để tương xứng với vị trí, vai trò, tính chất của công tác này. Mặc dù qua khảo sát nhận thấy việc bố trí nguồn lực đã rất tốt so với trước khi có Luật năm 2012. Tuy nhiên, để bảo đảm đáp ứng yêu cầu hiện nay thì còn phải có sự quan tâm và phát triển hơn nữa. Sau khi trao đổi đã thống nhất kinh phí dành cho công tác PBGDPL là do ngân sách nhà nước bảo đảm và từ nguồn hợp pháp khác là xã hội hóa; đồng thời, ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác PBGDPL cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số.
![]() |
| Hội thảo được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến |
Bổ sung nhóm đối tượng đặc thù
Từ gợi mở của Phó Cục trưởng Phan Hồng Nguyên, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luận về các vấn đề nêu trên. Các đại biểu đều bày tỏ thống nhất cao với sự cần thiết sửa đổi Luật lần này, đánh giá cao kết quả xây dựng, hoàn thiện dự thảo Luật của cơ quan chủ trì soạn thảo. Bên cạnh đó, các đại biểu kiến nghị, đề xuất một số ý kiến sửa đổi, bổ sung, tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật.
Trong đó, đồng chí Vũ Quang Trực, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ninh đề nghị dự thảo Luật tiếp tục bổ sung nhóm đối tượng đặc thù là người dân khu vực biên giới, hải đảo và ngư dân. Đồng chí mong muốn, nếu không quy định được rõ đối tượng này trong Luật thì có thể sẽ được Chính phủ quy định chi tiết thuộc “các đối tượng khác” nêu tại khoản 7 Điều 18 dự thảo Luật. Điều này để bảo đảm bao phủ được các đối tượng đặc thù.
Đồng chí Phó Chủ tịch thống nhất cao với hướng quy định về trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, bên cạnh đó, cũng làm rõ và nhấn mạnh hơn một số vấn đề liên quan đến các quy định này.
![]() |
| Đồng chí Vũ Quang Trực, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ninh chia sẻ tại Hội thảo |
Cần luật hóa “cứng” mô hình Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp xã
Tại Hội thảo, một số đại biểu bày tỏ quan điểm thống nhất với việc cần thiết thành lập Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp xã.
Trong đó, đồng chí Đào Ngọc Chuyền đề xuất về bộ máy, cần luật hóa “cứng” mô hình Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp xã. Đồng chí cho rằng, vì đây là điểm rất mới về thay đổi chính quyền địa phương không còn cấp huyện, chỉ có cấp tỉnh và cấp xã. Với việc cấp xã thực hiện phần lớn nhiệm vụ trực tiếp với người dân, thì đây phải là “cánh tay nối dài” hiệu quả nhất trong công tác PBGDPL.
Lượng hóa, phân định rõ nguồn lực thực hiện nhiệm vụ đặc thù
Về vấn đề nguồn lực, nhiều ý kiến cho rằng, dự thảo Luật cần quy định cụ thể kinh phí thực hiện cho công tác PBGDPL cho đối tượng đặc thù.
Trong đó, đồng chí Vũ Quang Trực đề nghị mong muốn nếu không thể định lượng nguồn lực kinh phí cho công tác PBGDPL đặc thù bằng bao nhiêu phần trăm kinh phí thường xuyên trong dự thảo Luật thì có thể thiết kế để thể hiện được rõ ràng hơn đối với chính sách này.
Đồng chí Đỗ Thuý Vân, Phó Giám đốc Sở Tư pháp Phú Thọ cho biết, địa phương còn gặp khó khăn trong bố trí nguồn lực do quy định hiện hành chưa lượng hóa rõ trách nhiệm bảo đảm ngân sách, chưa phân định rõ giữa kinh phí thường xuyên và kinh phí thực hiện nhiệm vụ đặc thù. Mặc dù dự thảo Luật đã quan tâm đến bảo đảm nguồn lực, song, để địa phương có đủ căn cứ pháp lý trong tham mưu và tổ chức thực hiện, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo cần nghiên cứu thể chế hóa theo hướng: (i) Xác định mức bảo đảm tối thiểu theo tiêu chí, định mức do Chính phủ quy định; (ii) Phân định rõ kinh phí thường xuyên, kinh phí thực hiện chương trình, đề án, nhiệm vụ đặc thù, kinh phí chuyển đổi số; (iii) Gắn trách nhiệm phân cấp nguồn lực với trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Ngoài ra, đồng chí Đào Ngọc Chuyền đề xuất, cần đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích luật sư, luật gia, chuyên gia tham gia PBGDPL thông qua các cơ chế ưu đãi rõ ràng. Theo đại biểu, chúng ta cần tận dụng tối đa chất xám từ xã hội để giảm tải cho bộ máy nhà nước và điều này cũng thể hiện được ý nghĩa “phối hợp” trong công tác PBGDPL.
![]() |
| Đồng chí Đỗ Thuý Vân, Phó Giám đốc Sở Tư pháp Phú Thọ chia sẻ khó khăn trong bố trí nguồn lực tại địa phương |
Bổ sung nguyên tắc PBGDPL nhằm nâng cao năng lực tiếp cận, hiểu, sử dụng và tuân thủ pháp luật
Từ thực tiễn quản lý thuế, đồng chí Lê Văn Hải, Phó Ban Pháp chế - Cục Thuế, Bộ Tài chính nhận định, gần như mọi công dân đều là người nộp thuế theo nghĩa rộng, vì vậy, giáo dục pháp luật thuế không chỉ là giáo dục cho kế toán, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh, mà ở tầng sâu hơn, đó là giáo dục công dân tài khóa.
Đại biểu cho biết, trên thực tế, ngành Thuế đã triển khai nhiều hình thức phổ biến, hỗ trợ pháp luật thuế. Tuy nhiên, một trong những hạn chế hiện nay là hoạt động phổ biến, hỗ trợ pháp luật không chỉ nằm ở số lượng hoạt động, mà nằm ở chất lượng hiểu và khả năng áp dụng của người dân, doanh nghiệp sau khi được hỗ trợ. Một số hoạt động vẫn còn nặng về phổ biến thông tin, chưa đủ chuyển hóa thành năng lực tuân thủ. Nói cách khác, chúng ta đã làm nhiều việc để “truyền đạt pháp luật”, nhưng cần làm mạnh hơn việc “giúp người dân hiểu, tin, sử dụng và tuân thủ pháp luật”.
![]() |
| Đồng chí Lê Văn Hải, Phó Ban Pháp chế - Cục Thuế, Bộ Tài chính cho rằng giáo dục pháp luật thuế không chỉ là giáo dục cho kế toán, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh mà ở tầng sâu hơn, đó là giáo dục công dân tài khóa |
Chính vì vậy, đồng chí Lê Văn Hải đề nghị cân nhắc bổ sung trong nguyên tắc hoặc chính sách của Nhà nước nội dung PBGDPL không chỉ nhằm truyền đạt thông tin pháp luật mà còn nhằm nâng cao năng lực tiếp cận, hiểu, sử dụng và tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung định hướng giáo dục các kiến thức pháp luật thiết yếu gắn với đời sống công dân, trong đó có kiến thức cơ bản về pháp luật thuế, ngân sách, hóa đơn, tiêu dùng minh bạch và trách nhiệm tài khóa. Nội dung này cần được thiết kế phù hợp với từng cấp học.