Thứ sáu 06/11/2026 21:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới

Ngày 25/5/2026, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phối hợp Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý tổ chức Hội thảo khoa học “Góp ý dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)”. Hội thảo được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến. Đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập và đồng chí Phan Hồng Nguyên, Phó Cục trưởng đồng chủ trì Hội thảo.

Hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực pháp lý; thành viên Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) Trung ương và Hội đồng phối hợp PBGDPL tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp; đại diện Cơ quan Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tổ chức pháp chế các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; đại diện Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đại diện Đoàn Luật sư, Hội Luật gia; một số Văn phòng Luật sư/Công ty Luật tại Quảng Ninh, Hà Nội và các tỉnh, thành phố lân cận; cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu...

Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới
Hội thảo khoa học “Góp ý dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)”

Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức PBGDPL theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả

Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật nhận định, một nhà nước pháp quyền vững mạnh không chỉ được đánh giá ở mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật mà còn được phản ánh ở trình độ văn hóa pháp lý, văn hóa tuân thủ, ý thức thượng tôn pháp luật và khả năng tiếp cận pháp luật của người dân. Vì vậy, PBGDPL không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhà nước mà còn là cầu nối quan trọng giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật; giữa ý chí của Nhà nước với nhận thức, hành động và văn hóa pháp lý của xã hội.

Qua hơn 10 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 (Luật năm 2012), công tác PBGDPL đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, việc sửa đổi Luật là hết sức cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy, phương thức, cách thức PBGDPL theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu quả; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; tăng cường ứng dụng công nghệ số, dữ liệu số, trí tuệ nhân tạo; xây dựng môi trường pháp lý và văn hóa tuân thủ pháp luật; góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật.

Tổng Biên tập nhấn mạnh, Hội thảo được tổ chức nhằm tạo diễn đàn để cho các cơ quan quản lý nhà nước, các chuyên gia, các nhà khoa học, nhà hoạt động thực tiễn cùng trao đổi, thảo luận, đánh giá toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật). Đồng chí Trương Thế Côn tin tưởng, với tinh thần trách nhiệm, trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn phong phú của các quý vị đại biểu, Hội thảo sẽ tiếp nhận được nhiều ý kiến sâu sắc, thiết thực, góp phần giúp cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật trước khi trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới
Đồng chí Trương Thế Côn, Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phát biểu khai mạc Hội thảo

06 nhóm chính sách của Luật bảo đảm đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới

Phát biểu dẫn đề Hội thảo, đồng chí Phan Hồng Nguyên, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý cho biết, dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật đã được đưa vào Chương trình lập pháp năm 2026 của Quốc hội và sẽ trình Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 2 vào tháng 10/2026. Để triển khai nhiệm vụ này, trong thời gian vừa qua, Bộ Tư pháp cũng đã tích cực xây dựng chính sách, trình Chính phủ thông qua và hiện nay đang xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), lấy ý kiến các bộ, ngành, địa phương. Phó Cục trưởng nêu rõ, công tác PBGDPL được đánh giá là khâu đầu tiên của tổ chức thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. Để đưa pháp luật vào cuộc sống có nhiều cách thức tổ chức triển khai thực hiện, trong đó, công tác PBGDPL là một trong các hoạt động, nhiệm vụ, giải pháp hết sức căn bản để đưa pháp luật vào cuộc sống.

Phó Cục trưởng cho biết, hiện nay, dự thảo Luật có thiết kế 05 chương, 49 điều, giữ nguyên số chương và tăng 08 điều so với Luật năm 2012. Để có định hướng để trao đổi thảo luận, Luật này đã cụ thể hóa, quy phạm hóa 6 nhóm chính sách đã được Chính phủ phê duyệt. Từ đó, đồng chí đề nghị các đại biểu góp ý tập trung vào 06 nhóm vấn đề của các chính sách đã được Chính phủ thông qua, đặc biệt từ thực tiễn vướng mắc tại địa phương, hiến kế để Ban soạn thảo tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật. Cụ thể:

Về chính sách thứ nhất: phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước cũng như là trong thực hiện công tác PBGDPL.

Hiện nay, theo quy định của Luật năm 2012 đã quy định về trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ ở Trung ương, Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương, kể cả của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể là thành viên của Mặt trận. Tuy nhiên, quy định của Luật chưa rõ trách nhiệm trong việc chủ trì tổ chức PBGDPL. Do đó, thời gian vừa qua, thực tế có quan điểm cho rằng, công tác PBGDPL là trách nhiệm của Bộ, ngành Tư pháp.

Do đó, hiện, dự thảo Luật quy định rõ hơn trách nhiệm chủ trì truyền thông chính sách cũng như PBGDPL là của cơ quan chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, bộ, ngành quản lý nhà nước nào, cơ quan, đơn vị cấp dưới ở địa phương quản lý nhà nước về lĩnh vực nào thì phải chủ trì PBGDPL về ngành và lĩnh vực đó.

Về chính sách thứ 2: quy định về cơ chế tổ chức, hoạt động của Hội đồng phối hợp PBGDPL để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp cũng như đặt ra yêu cầu thực tiễn về Hội đồng của các bộ, ngành và của cấp xã.

Theo chủ trương của Chính phủ phê duyệt, hiện nay, Chính phủ đồng ý chủ trương tiếp tục duy trì, phát triển Hội đồng phối hợp PBGDPL ở trung ương và Hội đồng cấp tỉnh. Đồng thời, quy định theo hướng mở là đối với các bộ, ngành ở trung ương, tùy từng điều kiện thực tiễn có thể thành lập Hội đồng ở bộ, ngành mình; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tùy theo tình hình công tác PBGDPL và điều kiện của địa phương sẽ quyết định việc thành lập Hội đồng cấp xã. Đây là điểm rất khác so với Điều 7 Luật năm 2012.

Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới
Đồng chí Phan Hồng Nguyên, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý phát biểu dẫn đề tại Hội thảo

Về chính sách thứ 3: mở rộng nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế và quy định rõ hơn trách nhiệm, chính sách bảo đảm PBGDPL cho đối tượng đặc thù.

Hiện nay, theo quy định của Luật năm 2012, có 06 nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế. Tuy nhiên, trong quá trình tổng kết, có một số bộ, ngành đề xuất nghiên cứu mở rộng thêm đối tượng đặc thù, đồng thời, giảm bớt một số đối tượng đặc thù. Hiện, dự thảo Luật đã cụ thể hóa theo hướng mở rộng thêm hai nhóm đối tượng đặc thù gồm: người thuộc hộ nghèo; hộ cận nghèo (quy định này tương đồng với Luật Trợ giúp pháp lý); đối tượng bị bạo lực (bạo lực nội hàm rộng hơn bạo lực gia đình). Bên cạnh đó, giảm bớt một số đối tượng không cần thiết và theo yêu cầu thực tế.

Một điểm mới so với Luật năm 2012 khi đã có các chính sách cụ thể và giao Chính phủ quy định chi tiết, cụ thể các chính sách này cho phù hợp với thực tiễn, bảo đảm đã là đặc thù phải có những chính sách đặc thù để tạo điều kiện, nguồn lực và con người, kinh phí cho công tác PBGDPL cho đối tượng này.

Về chính sách thứ tư: quy định rõ nội dung trách nhiệm giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Hiện, Luật năm 2012 (Mục 2 Chương II) đã quy định về công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường. Tuy nhiên, qua quá trình tổng kết thấy rằng trách nhiệm của Bộ, ngành Tư pháp và trách nhiệm của Bộ, ngành Giáo dục và Đào tạo chưa rõ nên trong thực tiễn cũng chưa rõ việc giáo dục pháp luật trong nhà trường, công tác PBGDPL trong nhà trường sẽ do cơ quan nào chủ trì, thực hiện và cơ chế kiểm tra, đánh giá, rà soát các nhiệm vụ này. Do đó, dự thảo Luật đã quy định rõ trách nhiệm của 2 bộ trong công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, kể cả trách nhiệm của các cơ sở giáo dục và đào tạo.

Về chính sách thứ 5: bổ sung quy định về truyền thông chính sách và các phương thức phổ biến pháp luật theo hướng hiện đại, tăng cường chuyển đổi số.

Tại dự thảo Luật có 03 điều quy định về việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội trong PBGDPL. Luật năm 2012 đã được ban hành trong bối cảnh chưa có yêu cầu thực tiễn về chuyển đổi số. Tuy nhiên, 05 năm gần đây, trước sự phát triển khoa học công nghệ hết sức mạnh mẽ, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vấn đề chuyển đổi số trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có PBGDPL đặt ra với yêu cầu tất yếu và đòi hỏi thực tiễn.

Về chính sách thứ 6: bổ sung cơ chế, chính sách và nguồn lực tương xứng cho PBGDPL.

Thời gian vừa qua, khi đánh giá tổng kết cũng như là nắm bắt tình hình công tác PBGDPL ở địa phương, cơ sở cho thấy một trong những khó khăn, vướng mắc là nguồn lực làm sao để tương xứng với vị trí, vai trò, tính chất của công tác này. Mặc dù qua khảo sát nhận thấy việc bố trí nguồn lực đã rất tốt so với trước khi có Luật năm 2012. Tuy nhiên, để bảo đảm đáp ứng yêu cầu hiện nay thì còn phải có sự quan tâm và phát triển hơn nữa. Sau khi trao đổi đã thống nhất kinh phí dành cho công tác PBGDPL là do ngân sách nhà nước bảo đảm và từ nguồn hợp pháp khác là xã hội hóa; đồng thời, ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác PBGDPL cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số.

Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới
Hội thảo được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến

Bổ sung nhóm đối tượng đặc thù

Từ gợi mở của Phó Cục trưởng Phan Hồng Nguyên, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luận về các vấn đề nêu trên. Các đại biểu đều bày tỏ thống nhất cao với sự cần thiết sửa đổi Luật lần này, đánh giá cao kết quả xây dựng, hoàn thiện dự thảo Luật của cơ quan chủ trì soạn thảo. Bên cạnh đó, các đại biểu kiến nghị, đề xuất một số ý kiến sửa đổi, bổ sung, tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật.

Trong đó, đồng chí Vũ Quang Trực, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ninh đề nghị dự thảo Luật tiếp tục bổ sung nhóm đối tượng đặc thù là người dân khu vực biên giới, hải đảo và ngư dân. Đồng chí mong muốn, nếu không quy định được rõ đối tượng này trong Luật thì có thể sẽ được Chính phủ quy định chi tiết thuộc “các đối tượng khác” nêu tại khoản 7 Điều 18 dự thảo Luật. Điều này để bảo đảm bao phủ được các đối tượng đặc thù.

Đồng chí Phó Chủ tịch thống nhất cao với hướng quy định về trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, bên cạnh đó, cũng làm rõ và nhấn mạnh hơn một số vấn đề liên quan đến các quy định này.

Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới
Đồng chí Vũ Quang Trực, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Ninh chia sẻ tại Hội thảo

Cần luật hóa “cứng” mô hình Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp xã

Tại Hội thảo, một số đại biểu bày tỏ quan điểm thống nhất với việc cần thiết thành lập Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp xã.

Trong đó, đồng chí Đào Ngọc Chuyền đề xuất về bộ máy, cần luật hóa “cứng” mô hình Hội đồng phối hợp PBGDPL cấp xã. Đồng chí cho rằng, vì đây là điểm rất mới về thay đổi chính quyền địa phương không còn cấp huyện, chỉ có cấp tỉnh và cấp xã. Với việc cấp xã thực hiện phần lớn nhiệm vụ trực tiếp với người dân, thì đây phải là “cánh tay nối dài” hiệu quả nhất trong công tác PBGDPL.

Lượng hóa, phân định rõ nguồn lực thực hiện nhiệm vụ đặc thù

Về vấn đề nguồn lực, nhiều ý kiến cho rằng, dự thảo Luật cần quy định cụ thể kinh phí thực hiện cho công tác PBGDPL cho đối tượng đặc thù.

Trong đó, đồng chí Vũ Quang Trực đề nghị mong muốn nếu không thể định lượng nguồn lực kinh phí cho công tác PBGDPL đặc thù bằng bao nhiêu phần trăm kinh phí thường xuyên trong dự thảo Luật thì có thể thiết kế để thể hiện được rõ ràng hơn đối với chính sách này.

Đồng chí Đỗ Thuý Vân, Phó Giám đốc Sở Tư pháp Phú Thọ cho biết, địa phương còn gặp khó khăn trong bố trí nguồn lực do quy định hiện hành chưa lượng hóa rõ trách nhiệm bảo đảm ngân sách, chưa phân định rõ giữa kinh phí thường xuyên và kinh phí thực hiện nhiệm vụ đặc thù. Mặc dù dự thảo Luật đã quan tâm đến bảo đảm nguồn lực, song, để địa phương có đủ căn cứ pháp lý trong tham mưu và tổ chức thực hiện, đại biểu đề nghị Ban soạn thảo cần nghiên cứu thể chế hóa theo hướng: (i) Xác định mức bảo đảm tối thiểu theo tiêu chí, định mức do Chính phủ quy định; (ii) Phân định rõ kinh phí thường xuyên, kinh phí thực hiện chương trình, đề án, nhiệm vụ đặc thù, kinh phí chuyển đổi số; (iii) Gắn trách nhiệm phân cấp nguồn lực với trách nhiệm tổ chức thực hiện.

Ngoài ra, đồng chí Đào Ngọc Chuyền đề xuất, cần đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích luật sư, luật gia, chuyên gia tham gia PBGDPL thông qua các cơ chế ưu đãi rõ ràng. Theo đại biểu, chúng ta cần tận dụng tối đa chất xám từ xã hội để giảm tải cho bộ máy nhà nước và điều này cũng thể hiện được ý nghĩa “phối hợp” trong công tác PBGDPL.

Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới
Đồng chí Đỗ Thuý Vân, Phó Giám đốc Sở Tư pháp Phú Thọ chia sẻ khó khăn trong bố trí nguồn lực tại địa phương

Bổ sung nguyên tắc PBGDPL nhằm nâng cao năng lực tiếp cận, hiểu, sử dụng và tuân thủ pháp luật

Từ thực tiễn quản lý thuế, đồng chí Lê Văn Hải, Phó Ban Pháp chế - Cục Thuế, Bộ Tài chính nhận định, gần như mọi công dân đều là người nộp thuế theo nghĩa rộng, vì vậy, giáo dục pháp luật thuế không chỉ là giáo dục cho kế toán, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh, mà ở tầng sâu hơn, đó là giáo dục công dân tài khóa.

Đại biểu cho biết, trên thực tế, ngành Thuế đã triển khai nhiều hình thức phổ biến, hỗ trợ pháp luật thuế. Tuy nhiên, một trong những hạn chế hiện nay là hoạt động phổ biến, hỗ trợ pháp luật không chỉ nằm ở số lượng hoạt động, mà nằm ở chất lượng hiểu và khả năng áp dụng của người dân, doanh nghiệp sau khi được hỗ trợ. Một số hoạt động vẫn còn nặng về phổ biến thông tin, chưa đủ chuyển hóa thành năng lực tuân thủ. Nói cách khác, chúng ta đã làm nhiều việc để “truyền đạt pháp luật”, nhưng cần làm mạnh hơn việc “giúp người dân hiểu, tin, sử dụng và tuân thủ pháp luật”.

Đổi mới tư duy, phương thức, cách thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đáp ứng yêu cầu, bối cảnh mới
Đồng chí Lê Văn Hải, Phó Ban Pháp chế - Cục Thuế, Bộ Tài chính cho rằng giáo dục pháp luật thuế không chỉ là giáo dục cho kế toán, doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh mà ở tầng sâu hơn, đó là giáo dục công dân tài khóa

Chính vì vậy, đồng chí Lê Văn Hải đề nghị cân nhắc bổ sung trong nguyên tắc hoặc chính sách của Nhà nước nội dung PBGDPL không chỉ nhằm truyền đạt thông tin pháp luật mà còn nhằm nâng cao năng lực tiếp cận, hiểu, sử dụng và tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung định hướng giáo dục các kiến thức pháp luật thiết yếu gắn với đời sống công dân, trong đó có kiến thức cơ bản về pháp luật thuế, ngân sách, hóa đơn, tiêu dùng minh bạch và trách nhiệm tài khóa. Nội dung này cần được thiết kế phù hợp với từng cấp học.

(Ảnh: Nguyễn Linh)

Uyên Nhi

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vấn đề lý luận về quyết định hành chính

Một số vấn đề lý luận về quyết định hành chính

Tóm tắt: Ban hành và thực thi quyết định hành chính là nội dung quan trọng trong áp dụng pháp luật. Nghiên cứu phân tích một số vấn đề lý luận về quyết định hành chính trong hoạt động quản lý nhà nước hiện nay. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò và các yêu cầu đối với quyết định hành chính, nghiên cứu khẳng định quyết định hành chính là công cụ quan trọng để cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành và tổ chức thi hành pháp luật.
Kinh nghiệm của một số quốc gia về luật Omnibus và kiến nghị hoàn thiện kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” tại Việt Nam

Kinh nghiệm của một số quốc gia về luật Omnibus và kiến nghị hoàn thiện kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh Nghị quyết số 27-NQ/TWI đặt ra yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, kịp thời, kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” ngày càng được áp dụng phổ biến nhưng chưa có khung lý luận và pháp lý tương xứng. Nghiên cứu phân tích một số vấn đề chung về kỹ thuật Omnibus, kinh nghiệm kiểm soát luật Omnibus tại Hoa Kỳ và Indonesia, đồng thời, đánh giá thực tiễn áp dụng kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật” tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc sửa đổi nhiều luật trong cùng một văn bản tại Việt Nam còn mang tính cơ học, thiếu nguyên tắc chung cho toàn bộ dự luật, trong khi quy trình đánh giá tác động của chính sách chưa được thực hiện đầy đủ. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật về kỹ thuật “một luật sửa nhiều luật”; cấu trúc luật sửa đổi, bổ sung nhiều luật bắt buộc phải có nguyên tắc chung; đồng thời, đổi mới quy trình đánh giá tác động của chính sách và cơ chế thẩm tra liên Ủy ban.
Bảo đảm tính tương xứng khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản và phong tỏa tài khoản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Bảo đảm tính tương xứng khi áp dụng biện pháp kê biên tài sản và phong tỏa tài khoản theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản là biện pháp cưỡng chế cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này có thể hạn chế đối với quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức có liên quan. Vì vậy, tính tương xứng có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm sự cân bằng hợp lý giữa mục tiêu tố tụng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Nghiên cứu phân tích mức độ thể hiện của tính tương xứng trong quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về kê biên tài sản và phong tỏa tài khoản, trên cơ sở đó, nhận diện một số hạn chế và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính tương xứng trong thực tiễn áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

Tóm tắt: Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính là một trong những nội dung quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[I] và các văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính còn một số bất cập, gồm: thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật; thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy tàu bay chưa được quy định đầy đủ; quy định về giao quyền xử phạt còn nhiều hạn chế. Vì vậy, nghiên cứu phân tích những bất cập này, từ đó, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của các quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp thay thế trong kinh doanh

Thúc đẩy phương thức giải quyết tranh chấp thay thế trong kinh doanh

Ngày 04/11, Trường Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo quốc tế "Giải quyết tranh chấp thay thế trong kinh doanh - Góc nhìn so sánh và thực tiễn ở Việt Nam và Pháp".
Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính, thường gọi là “bỏ cọc”, đang được xử lý chủ yếu bằng cách tăng mức tiền đặt trước và áp dụng chế tài cấm tham gia đấu giá. Từ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án, nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của khoản tiền đặt trước; tiêu chí phân định tranh chấp dân sự và hành chính; căn cứ xem xét quyết định hủy quyết định công nhận kết quả trúng đấu giá; yêu cầu kiểm soát tư pháp đối với quyết định cấm tham gia đấu giá và trách nhiệm tài sản của các bên. Trên cơ sở đánh giá dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) (dự thảo Luật), nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện xử lý hành vi không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau khi trúng đấu giá quyền sử dụng đất thông qua hoạt động xét xử của Tòa án theo hướng chế tài được áp dụng thống nhất và chịu sự kiểm soát của Tòa án.
Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động luật sư và những vấn đề pháp lý đặt ra

Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động luật sư và những vấn đề pháp lý đặt ra

Tóm tắt: Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động luật sư là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi để phát triển thị trường dịch vụ pháp lý. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật hiện hành và so sánh với dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi), nghiên cứu nhận diện 05 vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện gồm: cơ chế liên thông thủ tục gia nhập nghề, thành phần hồ sơ đăng ký hoạt động, phương thức công khai thông tin, nghĩa vụ cập nhật nội dung đăng ký và tính ổn định của các biện pháp cải cách; từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện nhằm góp phần phát triển thị trường dịch vụ pháp lý trong kỷ nguyên mới.
Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện Luật Đất đai

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 lần đầu định danh hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất nhưng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh tương ứng. Nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của quan hệ này; từ đó, chỉ ra 04 hạn chế của pháp luật hiện hành: (i) quyền hợp tác chưa rõ ràng, minh bạch cho cá nhân sử dụng đất; (ii) chưa xác định rõ phạm vi quyền sử dụng đất được đưa vào hợp tác; (iii) chưa có điều kiện thực hiện riêng; (iv) chưa xác định đầy đủ hệ quả pháp lý. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) (dự thảo Luật) đã có một số điều chỉnh, nhưng chưa khắc phục triệt để những bất cập này. Nghiên cứu đề xuất ghi nhận hợp tác sản xuất, kinh doanh bằng quyền sử dụng đất thành quyền độc lập kèm theo tiêu chí xác định quan hệ theo bản chất, xác định rõ nhóm người sử dụng đất được thực hiện quyền, bổ sung điều kiện thực hiện phù hợp với đặc điểm không làm chuyển dịch quyền sử dụng đất, thiết lập cơ chế đăng ký, công khai quan hệ hợp tác gắn với việc xác định hiệu lực đối với người thứ ba và nguyên tắc bảo vệ các quyền có liên quan.
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện quyền bề mặt trong khai thác

Tóm tắt: Quyền bề mặt được Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận là quyền khác đối với tài sản, cho phép chủ thể khai thác mặt đất, mặt nước, khoảng không gian trên mặt đất, mặt nước và lòng đất thuộc quyền sử dụng đất của chủ thể khác. Đây là thiết chế có tiềm năng phân tách quyền khai thác không gian khỏi quyền sử dụng đất, huy động vốn đầu tư và phát triển bất động sản theo chiều cao, chiều sâu và đa công năng. Tuy nhiên, hiện, các quy định pháp luật chủ yếu dừng ở mức khái quát, chưa hình thành cơ chế pháp lý đồng bộ về xác lập, đăng ký, công khai hóa, hiệu lực đối kháng, giao dịch, thế chấp, định giá, bảo vệ quyền và xử lý tài sản khi quyền bề mặt chấm dứt. Luật Đất đai năm 2024 và các văn bản hướng dẫn đã tạo nền tảng mới về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và hệ thống thông tin đất đai, nhưng chưa trực tiếp thiết lập thủ tục đăng ký quyền bề mặt. Nghiên cứu phân tích bản chất và vai trò của quyền bề mặt, đánh giá những khoảng trống của pháp luật Việt Nam, tham chiếu kinh nghiệm của một số quốc gia và đề xuất mô hình hoàn thiện theo hướng: thừa nhận đầy đủ tính chất vật quyền; kiến nghị sửa đổi Điều 269 Bộ luật Dân sự năm 2015 theo hướng lấy đăng ký làm điều kiện đối kháng, kèm theo quy định chuyển tiếp; mô tả đối tượng theo không gian ba chiều; bảo đảm khả năng chuyển giao, thế chấp và tài trợ dự án; đồng thời, cân bằng lợi ích giữa Nhà nước, người sử dụng đất, chủ thể quyền bề mặt, nhà đầu tư và người thứ ba.
Nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư trong tình hình mới

Nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư trong tình hình mới

Trong khuôn khổ chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, chiều ngày 02/11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật Luật sư (sửa đổi).
Luật sư tập sự: Mở rộng cơ hội thực hành, nâng cao chất lượng hành nghề

Luật sư tập sự: Mở rộng cơ hội thực hành, nâng cao chất lượng hành nghề

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được trình Quốc hội khóa XVI xem xét, cho ý kiến và thông qua tại Kỳ họp thứ 2 với nhiều nội dung đáng chú ý. Trong đó, dự thảo Luật đề xuất thay thế chế định "người tập sự hành nghề luật sư" bằng "luật sư tập sự", đồng thời bổ sung một số quyền nhằm tạo điều kiện cho người tập sự tham gia sâu hơn vào các hoạt động nghề nghiệp thực tiễn. Để làm rõ ý nghĩa của đề xuất này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Luật sư Huỳnh Phương Nam - Chủ nhiệm Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện

Tóm tắt: Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành án. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn một số bất cập, chồng chéo giữa các đạo luật về thẩm quyền, thủ tục, khiếu nại và kỹ thuật lập pháp. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện quy định theo hướng phân định rõ phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và khả thi của pháp luật. Nghiên cứu phân tích các quy định pháp luật hiện hành về thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện; chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng; từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành chế định này trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Hoàn thiện pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm thích ứng có kiểm soát từ góc nhìn lý luận chính sách

Tóm tắt: Dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật[1] (dự thảo Luật) tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, trong đó, chú trọng xác định vấn đề, mục tiêu, giải pháp, đánh giá tác động chính sách và bổ sung cơ chế đánh giá kết quả thực hiện sau khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích Chính sách 3 về đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật[2], đánh giá khả năng điều chỉnh kịp thời các quy định pháp luật trước những thay đổi của thực tiễn và việc sử dụng kết quả thi hành pháp luật để tiếp tục hoàn thiện chính sách. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật đã bổ sung nhiều quy định nhằm nâng cao tính linh hoạt và hiệu quả của quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên, cơ chế theo dõi, đánh giá và tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn thi hành chưa được quy định đầy đủ; bên cạnh đó, một số quy định còn thiếu thống nhất về phạm vi điều chỉnh, thuật ngữ và thẩm quyền. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế kiểm soát chất lượng và đánh giá hiệu quả thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm việc sửa đổi, bổ sung pháp luật được thực hiện kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn mà không làm gia tăng thủ tục.
Pháp luật về phòng vệ chính đáng của một số quốc gia và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Pháp luật về phòng vệ chính đáng của một số quốc gia và kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tóm tắt: Phòng vệ chính đáng là chế định quan trọng của pháp luật hình sự, phản ánh sự cân bằng giữa quyền tự vệ của cá nhân và yêu cầu bảo đảm trật tự pháp luật. Nghiên cứu phân tích, so sánh quy định về phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Trung Quốc, Đức, Hoa Kỳ, Việt Nam và chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phòng vệ chính đáng theo hướng cụ thể, minh bạch và bảo đảm tốt hơn quyền con người, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Nâng cao hiệu quả tổ chức vận hành hệ thống phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính

Nâng cao hiệu quả tổ chức vận hành hệ thống phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính

Ngày 23/10/2026, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 2322/QĐ-BTP ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện nhiệm vụ rà soát pháp luật, cơ chế, chính sách và tổ chức vận hành hệ thống phòng ngừa, giải quyết tranh chấp dân sự, hành chính (Kế hoạch).

Theo dõi chúng tôi trên: