Thứ tư 07/10/2026 17:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.

1. Vị trí việc làm trong quản lý và sử dụng viên chức

Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Viên chức năm 2025[1], vị trí việc làm là công việc gắn với chức vụ, chức danh viên chức trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL). Quy định mới xác định vị trí việc làm không chỉ là tên gọi công việc mà là cơ sở pháp lý cốt yếu để thực hiện tuyển dụng[2], bố trí, sử dụng và quản lý viên chức[3].

Để hướng dẫn chi tiết, Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm của viên chức (Nghị định số 232/2026/NĐ-CP) đã chuẩn hóa các khái niệm, bao gồm: Danh mục vị trí việc làm là hệ thống các vị trí được quy định thống nhất về tên gọi, làm cơ sở để ĐVSNCL xác định danh mục cụ thể phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của đơn vị (khoản 1). Danh mục này được phân loại cụ thể tại Điều 6 thành nhóm quản lý, chuyên môn nghiệp vụ và hỗ trợ. Bản mô tả công việc là văn bản xác định mục tiêu, công việc, kết quả, sản phẩm đầu ra, phạm vi trách nhiệm và các mối quan hệ công tác của từng vị trí[4]. Khung năng lực là tập hợp các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ và các năng lực cần thiết để thực hiện công việc của vị trí việc làm theo từng bậc nghề nghiệp[5]

Việc xác định vị trí việc làm bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch và gắn với sản phẩm đầu ra[6]. Cơ chế này nhằm cụ thể hóa chính sách của Nhà nước tại khoản 4 Điều 6 Luật Viên chức 2025 về việc tiền lương và thu nhập phải gắn với vị trí việc làm và hiệu quả công việc. Điều này giúp các đơn vị chuyển đổi triệt để mô hình quản lý theo thâm niên sang quản lý dựa trên năng lực và kết quả thực tế.

2. Phân loại vị trí việc làm viên chức

Để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong quản lý, sử dụng viên chức trên phạm vi cả nước, hệ thống vị trí việc làm được phân loại dựa trên tính chất, nội dung hoạt động nghề nghiệp. Theo khoản 3 Điều 23 Luật Viên chức năm 2025 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 6 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, vị trí việc làm được chia thành 03 nhóm:

Vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý gắn với chức vụ quản lý trong ĐVSNCL, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện, điều hành, phân công, kiểm soát và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị hoặc một bộ phận được giao[7]. Danh mục các vị trí được quy định tại Phụ lục I kèm theo Nghị định, bao gồm các chức danh từ người đứng đầu đơn vị đến cấp tổ trưởng, tổ phó chuyên môn.

Vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ trực tiếp thực hiện hoạt động chuyên môn cốt lõi của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ chính. Các vị trí này đòi hỏi áp dụng kiến thức, kỹ năng chuyên sâu của ngành, lĩnh vực và có vai trò quyết định đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ của ĐVSNCL[8]. Danh mục chi tiết các vị trí chuyên môn, nghiệp vụ theo từng ngành, lĩnh vực (như y tế, giáo dục, tư pháp, nông nghiệp...) được quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định.

Vị trí việc làm hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ phục vụ, bảo đảm điều kiện hoạt động của đơn vị nhưng không trực tiếp tạo ra sản phẩm chuyên môn cốt lõi[9]. Nhóm này bao gồm các vị trí như quản lý bến xe, hỗ trợ giáo dục, thư ký y khoa, hành chính, thủ quỹ... được liệt kê cụ thể tại Phụ lục III kèm theo Nghị định.

Việc phân loại là căn cứ pháp lý để ĐVSNCL xây dựng Đề án vị trí việc làm và thực hiện các nghiệp vụ quản lý viên chức sau này. Đặc biệt, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP nghiêm cấm việc làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục khung do Chính phủ ban hành hoặc tự ý thay đổi tên gọi vị trí việc làm đã được xác định. Điều này đảm bảo tính kỷ cương trong việc sử dụng biên chế và quản lý đội ngũ viên chức của Nhà nước.

3. Bậc nghề nghiệp và tỷ lệ cơ cấu viên chức

Một trong những điểm mới đột phá tại Nghị định số 232/2026/NĐ-CP là thiết lập hệ thống bậc nghề nghiệp để quản lý viên chức. Theo khoản 1 Điều 7, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm được quy định thống nhất trong phạm vi cả nước, gồm 05 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5.

Việc bố trí viên chức vào các bậc phải căn cứ vào năng lực và yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời, việc thay đổi bậc nghề nghiệp chỉ được thực hiện thông qua các quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức (khoản 2 Điều 7). Đặc biệt, quyền lợi về tiền lương của viên chức được gắn chặt với bậc nghề nghiệp này. Theo khoản 3 Điều 7, trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới, viên chức được tuyển dụng, tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức sẽ áp dụng bảng lương tương ứng với từng bậc.

Song song với việc xác định bậc, Nhà nước thực hiện quản lý chặt chẽ thông qua việc quy định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp tại Điều 10 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP. Mục đích đảm bảo cơ cấu đội ngũ hợp lý, tránh tình trạng mất cân đối trong ĐVSNCL. Cụ thể:

- Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5: Tỷ lệ ở bậc 5 không vượt quá 30%; tỷ lệ ở bậc thấp hơn gần nhất (bậc 4) không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được giao cho vị trí đó.

- Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4: Tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế được giao.

- Trường hợp vị trí việc làm chỉ xác định sử dụng 02 bậc nghề nghiệp: Tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50% tổng số biên chế được giao.

Cần lưu ý, theo khoản 4 Điều 10, tỷ lệ này không áp dụng đối với những vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc. Đối với các ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị có quyền tự quyết định tỷ lệ này phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính, thay vì áp dụng cứng nhắc các tỷ lệ nêu trên (khoản 3 Điều 10).

Quy định này cụ thể hóa chính sách của Nhà nước tại khoản 4 Điều 6 Luật Viên chức năm 2025 về việc tiền lương và thu nhập phải bảo đảm công bằng, gắn với vị trí việc làm và hiệu quả công việc.

4. Thẩm quyền và trình tự phê duyệt vị trí việc làm

Điều 11 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy định thẩm quyền phê duyệt nhằm phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước và tính tự chủ của ĐVSNCL.

Về thẩm quyền phê duyệt được xác định như sau: ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư có thẩm quyền tự quyết định phê duyệt vị trí việc làm đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý (điểm a khoản 1). Đối với các ĐVSNCL không thuộc trường hợp nêu trên, thẩm quyền phê duyệt thuộc về Bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Các cơ quan này có thể thực hiện phê duyệt trực tiếp hoặc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý ĐVSNCL cấp dưới thực hiện (điểm b khoản 1).

Về hồ sơ đề nghị phê duyệt bao gồm 05 nội dung bắt buộc: (1) Văn bản đề nghị; (2) Danh mục vị trí việc làm; (3) Bản mô tả công việc và khung năng lực; (4) Các bậc nghề nghiệp được sử dụng; (5) Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp (khoản 2).

Về trình tự thực hiện: Đối với đơn vị do cấp trên phê duyệt (hoặc phân cấp, ủy quyền): ĐVSNCL lập hồ sơ gửi cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan tham mưu phải hoàn thành việc rà soát, thẩm định và trình cấp có thẩm quyền xem xét (điểm c khoản 3). Cấp có thẩm quyền ban hành quyết định phê duyệt trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản báo cáo (điểm d khoản 3). Đối với đơn vị tự chủ (tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư): Đơn vị lập hồ sơ theo quy định, tổ chức thẩm định nội bộ và người đứng đầu đơn vị ban hành quyết định phê duyệt (khoản 4).

Theo quy định tại khoản 6 Điều 11, quyết định phê duyệt vị trí việc làm là căn cứ pháp lý bắt buộc để ĐVSNCL thực hiện tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý viên chức. Việc thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền không chỉ đảm bảo tính hợp pháp mà còn là cơ sở để bảo vệ quyền lợi về vị trí và bậc nghề nghiệp của viên chức tại đơn vị.

5. Phân cấp, phân quyền và trách nhiệm trong quản lý vị trí việc làm

Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước đối với đội ngũ viên chức[10], đồng thời đẩy mạnh cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý. Theo đó Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về viên chức[11], Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý, chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn về vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp trên phạm vi cả nước[12].

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc xác định vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp và xây dựng bản mô tả công việc, khung năng lực tại các đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp phê duyệt hoặc phân cấp, ủy quyền phê duyệt vị trí việc làm cho các ĐVSNCL thuộc thẩm quyền[13]

Người đứng đầu ĐVSNCL có nghĩa vụ lãnh đạo, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị[14]. Theo Điều 15 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, người đứng đầu có trách nhiệm xác định vị trí việc làm, xây dựng hồ sơ đề nghị phê duyệt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, thực tế của danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực tại đơn vị.

Việc ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP là bước đi cụ thể hóa Luật Viên chức năm 2025. Với tinh thần lấy vị trí việc làm làm trung tâm, quy định mới không chỉ giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ biên chế mà còn mở ra cơ hội phát triển công bằng cho mọi viên chức dựa trên thực lực. Các cơ quan, ĐVSNCL và mỗi viên chức cần chủ động nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực thi hiệu quả các quy định mới từ ngày 01/7/2026, góp phần xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, tinh gọn và hiệu quả.


[1] Luật số 129/2025/QH15 được thông qua ngày 10/12/2025 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV

[2] Điều 15 Luật Viên chức 2025.

[3] Khoản 2 Điều 3 Luật Viên chức 2025.

[4] Khoản 3 Điều 3 và Điều 8 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[5] Khoản 4 Điều 3 và Điều 8 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[6] Điều 5 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[7] Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[8] Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[9] Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[10] Điều 3 Luật Viên chức năm 2025.

[11] Điều 39 Luật Viên chức năm 2025.

[12] Điều 13 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[13] Điều 14 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[14] Điều 9 Luật Viên chức năm 2025.

(Ảnh: Internet)

Hoàng Lan

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: