Thứ bảy 22/08/2026 18:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.

1. Vị trí việc làm trong quản lý và sử dụng viên chức

Theo quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật Viên chức năm 2025[1], vị trí việc làm là công việc gắn với chức vụ, chức danh viên chức trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL). Quy định mới xác định vị trí việc làm không chỉ là tên gọi công việc mà là cơ sở pháp lý cốt yếu để thực hiện tuyển dụng[2], bố trí, sử dụng và quản lý viên chức[3].

Để hướng dẫn chi tiết, Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm của viên chức (Nghị định số 232/2026/NĐ-CP) đã chuẩn hóa các khái niệm, bao gồm: Danh mục vị trí việc làm là hệ thống các vị trí được quy định thống nhất về tên gọi, làm cơ sở để ĐVSNCL xác định danh mục cụ thể phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của đơn vị (khoản 1). Danh mục này được phân loại cụ thể tại Điều 6 thành nhóm quản lý, chuyên môn nghiệp vụ và hỗ trợ. Bản mô tả công việc là văn bản xác định mục tiêu, công việc, kết quả, sản phẩm đầu ra, phạm vi trách nhiệm và các mối quan hệ công tác của từng vị trí[4]. Khung năng lực là tập hợp các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ và các năng lực cần thiết để thực hiện công việc của vị trí việc làm theo từng bậc nghề nghiệp[5]

Việc xác định vị trí việc làm bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch và gắn với sản phẩm đầu ra[6]. Cơ chế này nhằm cụ thể hóa chính sách của Nhà nước tại khoản 4 Điều 6 Luật Viên chức 2025 về việc tiền lương và thu nhập phải gắn với vị trí việc làm và hiệu quả công việc. Điều này giúp các đơn vị chuyển đổi triệt để mô hình quản lý theo thâm niên sang quản lý dựa trên năng lực và kết quả thực tế.

2. Phân loại vị trí việc làm viên chức

Để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ trong quản lý, sử dụng viên chức trên phạm vi cả nước, hệ thống vị trí việc làm được phân loại dựa trên tính chất, nội dung hoạt động nghề nghiệp. Theo khoản 3 Điều 23 Luật Viên chức năm 2025 và được hướng dẫn chi tiết tại Điều 6 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, vị trí việc làm được chia thành 03 nhóm:

Vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý gắn với chức vụ quản lý trong ĐVSNCL, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện, điều hành, phân công, kiểm soát và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị hoặc một bộ phận được giao[7]. Danh mục các vị trí được quy định tại Phụ lục I kèm theo Nghị định, bao gồm các chức danh từ người đứng đầu đơn vị đến cấp tổ trưởng, tổ phó chuyên môn.

Vị trí việc làm chuyên môn, nghiệp vụ trực tiếp thực hiện hoạt động chuyên môn cốt lõi của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ chính. Các vị trí này đòi hỏi áp dụng kiến thức, kỹ năng chuyên sâu của ngành, lĩnh vực và có vai trò quyết định đến chất lượng thực hiện nhiệm vụ của ĐVSNCL[8]. Danh mục chi tiết các vị trí chuyên môn, nghiệp vụ theo từng ngành, lĩnh vực (như y tế, giáo dục, tư pháp, nông nghiệp...) được quy định tại Phụ lục II kèm theo Nghị định.

Vị trí việc làm hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ phục vụ, bảo đảm điều kiện hoạt động của đơn vị nhưng không trực tiếp tạo ra sản phẩm chuyên môn cốt lõi[9]. Nhóm này bao gồm các vị trí như quản lý bến xe, hỗ trợ giáo dục, thư ký y khoa, hành chính, thủ quỹ... được liệt kê cụ thể tại Phụ lục III kèm theo Nghị định.

Việc phân loại là căn cứ pháp lý để ĐVSNCL xây dựng Đề án vị trí việc làm và thực hiện các nghiệp vụ quản lý viên chức sau này. Đặc biệt, khoản 3 Điều 6 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP nghiêm cấm việc làm phát sinh vị trí việc làm ngoài danh mục khung do Chính phủ ban hành hoặc tự ý thay đổi tên gọi vị trí việc làm đã được xác định. Điều này đảm bảo tính kỷ cương trong việc sử dụng biên chế và quản lý đội ngũ viên chức của Nhà nước.

3. Bậc nghề nghiệp và tỷ lệ cơ cấu viên chức

Một trong những điểm mới đột phá tại Nghị định số 232/2026/NĐ-CP là thiết lập hệ thống bậc nghề nghiệp để quản lý viên chức. Theo khoản 1 Điều 7, bậc nghề nghiệp của vị trí việc làm được quy định thống nhất trong phạm vi cả nước, gồm 05 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5.

Việc bố trí viên chức vào các bậc phải căn cứ vào năng lực và yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời, việc thay đổi bậc nghề nghiệp chỉ được thực hiện thông qua các quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức (khoản 2 Điều 7). Đặc biệt, quyền lợi về tiền lương của viên chức được gắn chặt với bậc nghề nghiệp này. Theo khoản 3 Điều 7, trong thời gian chưa thực hiện chế độ tiền lương mới, viên chức được tuyển dụng, tiếp nhận theo quy định của Luật Viên chức sẽ áp dụng bảng lương tương ứng với từng bậc.

Song song với việc xác định bậc, Nhà nước thực hiện quản lý chặt chẽ thông qua việc quy định tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp tại Điều 10 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP. Mục đích đảm bảo cơ cấu đội ngũ hợp lý, tránh tình trạng mất cân đối trong ĐVSNCL. Cụ thể:

- Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 5: Tỷ lệ ở bậc 5 không vượt quá 30%; tỷ lệ ở bậc thấp hơn gần nhất (bậc 4) không vượt quá 40% tổng số biên chế viên chức được giao cho vị trí đó.

- Trường hợp vị trí việc làm có bậc sử dụng cao nhất là bậc 4: Tỷ lệ ở bậc 4 không vượt quá 40% tổng số biên chế được giao.

- Trường hợp vị trí việc làm chỉ xác định sử dụng 02 bậc nghề nghiệp: Tỷ lệ ở bậc cao hơn không vượt quá 50% tổng số biên chế được giao.

Cần lưu ý, theo khoản 4 Điều 10, tỷ lệ này không áp dụng đối với những vị trí việc làm không xác định bậc hoặc chỉ có duy nhất một bậc. Đối với các ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, đơn vị có quyền tự quyết định tỷ lệ này phù hợp với yêu cầu hoạt động và khả năng tài chính, thay vì áp dụng cứng nhắc các tỷ lệ nêu trên (khoản 3 Điều 10).

Quy định này cụ thể hóa chính sách của Nhà nước tại khoản 4 Điều 6 Luật Viên chức năm 2025 về việc tiền lương và thu nhập phải bảo đảm công bằng, gắn với vị trí việc làm và hiệu quả công việc.

4. Thẩm quyền và trình tự phê duyệt vị trí việc làm

Điều 11 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP quy định thẩm quyền phê duyệt nhằm phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước và tính tự chủ của ĐVSNCL.

Về thẩm quyền phê duyệt được xác định như sau: ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư có thẩm quyền tự quyết định phê duyệt vị trí việc làm đối với viên chức thuộc phạm vi quản lý (điểm a khoản 1). Đối với các ĐVSNCL không thuộc trường hợp nêu trên, thẩm quyền phê duyệt thuộc về Bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Các cơ quan này có thể thực hiện phê duyệt trực tiếp hoặc phân cấp, ủy quyền cho cơ quan quản lý ĐVSNCL cấp dưới thực hiện (điểm b khoản 1).

Về hồ sơ đề nghị phê duyệt bao gồm 05 nội dung bắt buộc: (1) Văn bản đề nghị; (2) Danh mục vị trí việc làm; (3) Bản mô tả công việc và khung năng lực; (4) Các bậc nghề nghiệp được sử dụng; (5) Tỷ lệ viên chức bố trí theo bậc nghề nghiệp (khoản 2).

Về trình tự thực hiện: Đối với đơn vị do cấp trên phê duyệt (hoặc phân cấp, ủy quyền): ĐVSNCL lập hồ sơ gửi cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan tham mưu phải hoàn thành việc rà soát, thẩm định và trình cấp có thẩm quyền xem xét (điểm c khoản 3). Cấp có thẩm quyền ban hành quyết định phê duyệt trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản báo cáo (điểm d khoản 3). Đối với đơn vị tự chủ (tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư): Đơn vị lập hồ sơ theo quy định, tổ chức thẩm định nội bộ và người đứng đầu đơn vị ban hành quyết định phê duyệt (khoản 4).

Theo quy định tại khoản 6 Điều 11, quyết định phê duyệt vị trí việc làm là căn cứ pháp lý bắt buộc để ĐVSNCL thực hiện tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và quản lý viên chức. Việc thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền không chỉ đảm bảo tính hợp pháp mà còn là cơ sở để bảo vệ quyền lợi về vị trí và bậc nghề nghiệp của viên chức tại đơn vị.

5. Phân cấp, phân quyền và trách nhiệm trong quản lý vị trí việc làm

Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước đối với đội ngũ viên chức[10], đồng thời đẩy mạnh cơ chế phân cấp, phân quyền trong quản lý. Theo đó Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về viên chức[11], Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý, chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn về vị trí việc làm và bậc nghề nghiệp trên phạm vi cả nước[12].

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc xác định vị trí việc làm, bậc nghề nghiệp và xây dựng bản mô tả công việc, khung năng lực tại các đơn vị thuộc phạm vi quản lý. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp phê duyệt hoặc phân cấp, ủy quyền phê duyệt vị trí việc làm cho các ĐVSNCL thuộc thẩm quyền[13]

Người đứng đầu ĐVSNCL có nghĩa vụ lãnh đạo, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của viên chức và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của đơn vị[14]. Theo Điều 15 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP, người đứng đầu có trách nhiệm xác định vị trí việc làm, xây dựng hồ sơ đề nghị phê duyệt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, thực tế của danh mục vị trí việc làm, bản mô tả công việc và khung năng lực tại đơn vị.

Việc ban hành Nghị định số 232/2026/NĐ-CP là bước đi cụ thể hóa Luật Viên chức năm 2025. Với tinh thần lấy vị trí việc làm làm trung tâm, quy định mới không chỉ giúp Nhà nước quản lý chặt chẽ biên chế mà còn mở ra cơ hội phát triển công bằng cho mọi viên chức dựa trên thực lực. Các cơ quan, ĐVSNCL và mỗi viên chức cần chủ động nghiên cứu, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực thi hiệu quả các quy định mới từ ngày 01/7/2026, góp phần xây dựng đội ngũ viên chức chuyên nghiệp, tinh gọn và hiệu quả.


[1] Luật số 129/2025/QH15 được thông qua ngày 10/12/2025 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV

[2] Điều 15 Luật Viên chức 2025.

[3] Khoản 2 Điều 3 Luật Viên chức 2025.

[4] Khoản 3 Điều 3 và Điều 8 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[5] Khoản 4 Điều 3 và Điều 8 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[6] Điều 5 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[7] Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[8] Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[9] Khoản 8 Điều 3 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[10] Điều 3 Luật Viên chức năm 2025.

[11] Điều 39 Luật Viên chức năm 2025.

[12] Điều 13 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[13] Điều 14 Nghị định số 232/2026/NĐ-CP.

[14] Điều 9 Luật Viên chức năm 2025.

(Ảnh: Internet)

Hoàng Lan

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: