![]() |
| Trụ cột chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo (Nguồn: Internet) |
Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong “kỷ nguyên số” là cần thiết, kịp thời khi Việt Nam đang đề ra phát triển bền vững, tăng trưởng kinh tế nhanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, vị thế trong khu vực và trên thế giới; việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số vào phục vụ cho phát triển kinh tế là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm đất nước tiến gần hơn với sự phát triển của khu vực và thế giới.
1. Bối cảnh, quan điểm của Đảng về phát triển khởi nghiệp sáng tạo trong kinh tế tư nhân
Sự bùng nổ của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã trở thành nguồn lực sản xuất trực tiếp, giữ vai trò quyết định năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Tại Việt Nam, sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về tăng trưởng GDP, hội nhập khu vực, nâng tầm vị thế quốc gia trong khu vực và quốc tế, góp phần cải thiện đời sống Nhân dân. Tuy nhiên, năng suất lao động còn thấp, năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp chưa cao, hoạt động nghiên cứu khoa học còn hạn chế và mức độ ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo còn chưa được ưu tiên quan tâm đúng với vị trí, vai trò vốn có.
Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước, đồng thời đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Sự thay đổi trong nhận thức về vai trò của đổi mới sáng tạo được thể hiện rõ nét trong Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của Đảng khi lần đầu tiên đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia, trở thành nền tảng, động lực và nguồn lực quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên số. Nội dung Nghị quyết khẳng định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “điều kiện tiên quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Lần đầu tiên, quan điểm “người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể, nguồn lực, động lực chính; nhà khoa học là nhân tố then chốt” được xác định là nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách. Đồng thời, Nghị quyết số 57-NQ/TW yêu cầu xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”, thay thế bằng phương thức quản lý linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của công nghệ mới và các mô hình kinh doanh mới. Nghị quyết chủ trương xây dựng cơ chế tiếp cận mở, cho phép thí điểm đối với những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, đồng thời nghiên cứu áp dụng chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với tổ chức, cá nhân thực hiện thử nghiệm công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới trong trường hợp phát sinh thiệt hại do nguyên nhân khách quan. Đây được xem là bước chuyển quan trọng từ tư duy “quản lý để kiểm soát” sang “quản trị để thúc đẩy đổi mới sáng tạo”, tạo tiền đề chính trị cho việc hình thành hành lang pháp lý phù hợp với sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.
Bên cạnh Nghị quyết 57-NQ/TW với những mục tiêu, chính sách về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững” “kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng”. Với mục tiêu đến năm 2030 “phấn đấu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, 20 doanh nghiệp hoạt động/nghìn dân. Có ít nhất 20 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu”; tiến xa hơn nữa, đến năm 2045 phấn đấu có “ít nhất 3 triệu doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế, đóng góp trên 60% GDP”, Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, bảo đảm đầy đủ quyền tự do kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm và tạo lập môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, ổn định và có khả năng dự báo. Nghị quyết nhất quán quan điểm “quyền kinh doanh chỉ có thể bị hạn chế vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, môi trường và sức khỏe của cộng đồng và phải được quy định trong luật”, “loại bỏ những điều kiện kinh doanh không cần thiết, quy định chồng chéo, không phù hợp, cản trở sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân”. Đặc biệt, “có cơ chế thử nghiệm với những ngành, lĩnh vực mới trên cơ sở hậu kiểm, phù hợp với thông lệ quốc tế”. Đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được ưu tiên về tiền thuê đất, hỗ trợ hạ tầng, chính sách ưu tiên một phần nguồn tín dụng thương mại để đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ mới, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tín dụng xuất khẩu, tín dụng theo chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, Nghị quyết đề ra yêu cầu “khẩn trương bổ sung chức năng, nhiệm vụ đầu tư và các quỹ đầu tư địa phương và các quỹ đầu tư tư nhân để tăng nguồn vốn cung cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo”. Vừa có những chính sách hỗ trợ cụ thể, tác động trực tiếp tới doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, vừa đặt ra yêu cầu tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các cơ sở giáo dục gắn với phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Nghị quyết số 68-NQ/TW cũng đặt ra yêu cầu phải triển khai quyết liệt Nghị quyết số 57-NQ/TW nhằm thúc đẩy đổi mới khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tư nhân. Lần đầu tiên yêu cầu “ban hành khung pháp lý thử nghiệm có kiểm soát” được đề cao mạnh mẽ, các chính sách thuế, nguồn lực đều nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển đột phá của khu vực kinh tế tư nhân.
2. Khởi nghiệp sáng tạo trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025
Quốc hội ban hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 (Luật số 93/2025/QH15) đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy lập pháp của Việt Nam, thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng, quy định “về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; chính sách, biện pháp bảo đảm khoa học, công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo” phản ánh rõ nét quá trình chuyển dịch từ tư duy “quản lý khoa học” sang “kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo”, phù hợp với xu hướng phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới.
Lần đầu tiên khái niệm “khởi nghiệp sáng tạo” được ghi nhận chính thức trong văn bản luật. Theo đó, “khởi nghiệp sáng tạo là quá trình hình thành, phát triển mô hình kinh doanh sáng tạo dựa trên công nghệ, ý tưởng đột phá hoặc mô hình kinh doanh mới do cá nhân, nhóm cá nhân hoặc tổ chức thực hiện, nhằm tạo ra giá trị mới, giải quyết vấn đề thị trường hoặc kinh tế - xã hội”. Việc luật hóa khái niệm bảo đảm thống nhất cách hiểu trong hoạt động quản lý nhà nước cũng như làm cơ sở xây dựng các chính sách ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Luật đã tiếp cận khởi nghiệp sáng tạo dưới góc độ một quá trình tạo lập giá trị mới thông qua đổi mới sáng tạo. Điều này có ý nghĩa quan trọng phân biệt việc doanh nghiệp có dựa trên công nghệ, tài sản trí tuệ, mô hình kinh doanh mới hoặc giải pháp đổi mới sáng tạo để tạo lợi thế cạnh tranh hay không. Cách tiếp cận này phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời tạo cơ sở để Nhà nước tập trung nguồn lực hỗ trợ đúng đối tượng cần được khuyến khích phát triển.
Điều 38 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 nêu rõ “Nhà nước thúc đẩy, phổ biến, lan tỏa văn hóa đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo thông qua chính sách, chương trình, nhiệm vụ, hoạt động hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức sự kiện, trình diễn, giải thưởng về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo”. Nhà nước đã mở rộng việc hình thành môi trường xã hội khuyến khích sáng tạo, coi văn hóa đổi mới sáng tạo là một trong những điều kiện nền tảng để phát triển kinh tế tri thức.
Lần đầu tiên Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương (Điều 40); quy định về tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán chuyên biệt cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (Điều 41); việc hình thành trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo (Điều 47) được ghi nhận trong Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cho thấy quyết tâm của Nhà nước trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi, ưu thế nhất, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp của mỗi cá nhân, tổ chức. Các chính sách này phản ánh sự thay đổi trong quan điểm xây dựng pháp luật khi không chỉ chú trọng hỗ trợ từng doanh nghiệp riêng lẻ mà hướng tới phát triển đồng bộ toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nơi Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học, quỹ đầu tư và các tổ chức trung gian cùng tham gia tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động khởi nghiệp sáng tạo.
Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 đã chuyển hóa một cách toàn diện các chủ trương lớn của Đảng thành các cơ chế pháp lý cụ thể, từ việc xác lập địa vị pháp lý của khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới phương thức hỗ trợ của Nhà nước, hình thành các thiết chế tài chính mới đến phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đồng bộ. Đây chính là nền tảng pháp lý quan trọng để Chính phủ tiếp tục cụ thể hóa bằng các chương trình, chiến lược và mô hình thí điểm nhằm đưa khởi nghiệp sáng tạo trở thành động lực phát triển của khu vực kinh tế tư nhân và của nền kinh tế quốc dân trong giai đoạn phát triển mới.
3. Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo tại Nghị quyết số 86/NQ-CP
Ngày 05/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 86/NQ-CP về Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo đánh dấu bước chuyển quan trọng từ xây dựng hành lang pháp lý sang kiến tạo hệ sinh thái phát triển khởi nghiệp sáng tạo ở quy mô quốc gia.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo phản ánh sự thay đổi căn bản trong tư duy hoạch định chính sách. Khởi nghiệp sáng tạo được xác định đóng vai trò quan trọng gắn trực tiếp với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy đổi mới công nghệ và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo đó, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu có khoảng 05 triệu chủ thể kinh doanh, trong đó phát triển tối thiểu 10.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, đồng thời hình thành ít nhất 05 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được định giá từ 01 tỷ USD trở lên. Xa hơn, tầm nhìn đến năm 2045 hướng tới việc xây dựng một xã hội đổi mới sáng tạo với mục tiêu 10 người dân có một người tham gia khởi nghiệp, 35 người dân có một doanh nghiệp và khoảng 5.000 người dân có một doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Các chỉ tiêu này không chỉ phản ánh kỳ vọng về sự gia tăng số lượng doanh nghiệp mà còn thể hiện định hướng xây dựng một nền kinh tế dựa trên tinh thần sáng tạo, đổi mới và khởi nghiệp như một giá trị văn hóa của xã hội hiện đại.
Việc đặt mục tiêu hình thành các doanh nghiệp có giá trị định giá từ một tỷ đô la Mỹ trở lên cho thấy định hướng của Chính phủ không chỉ là gia tăng số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mà hướng tới việc hình thành các doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế, có năng lực làm chủ công nghệ lõi, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao và dẫn dắt quá trình đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế. Đây là sự chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển, từ khuyến khích khởi nghiệp sang nuôi dưỡng các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có năng lực tăng trưởng nhanh và bền vững.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo không chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính mà xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ, tác động đến toàn bộ vòng đời của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Một trong những điểm đột phá là việc Nhà nước có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp trong 05 năm đầu kể từ khi thành lập, giai đoạn được xem là có tỷ lệ thất bại cao nhất đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp được hỗ trợ chi phí đăng ký thành lập; chi phí nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm sản phẩm; chi phí sử dụng không gian làm việc chung; chi phí tham gia các chương trình đào tạo, bồi dưỡng; chi phí thuê chuyên gia công nghệ và một số hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường. Có thể nhận thấy, các chính sách này được thiết kế theo hướng giảm thiểu những rào cản lớn nhất đối với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, bao gồm hạn chế về vốn, tri thức quản trị, nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng tiếp cận thị trường.
Nhà nước kiến tạo phát triển, trong đó trọng tâm không phải là thay doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh mà là tạo lập các điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể phát triển bằng chính năng lực cạnh tranh của mình. Điều này phù hợp với xu hướng quản trị hiện đại, theo đó Nhà nước không trực tiếp can thiệp vào thị trường nhưng có trách nhiệm khắc phục các thất bại của thị trường, giảm chi phí giao dịch, kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng cho hoạt động đổi mới sáng tạo.
Chiến lược không chỉ tập trung vào doanh nghiệp mà mở rộng phạm vi phát triển sang toàn bộ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Theo đó, cùng với doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, các chủ thể như cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu, quỹ đầu tư mạo hiểm, tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp, doanh nghiệp lớn, chuyên gia, nhà đầu tư thiên thần và cơ quan quản lý nhà nước đều được xác định là những thành tố không thể tách rời của hệ sinh thái “phát triển một số cơ sở giáo dục đại học theo mô hình “đại học khởi nghiệp”, “đại học đổi mới sáng tạo””. Xây dựng, triển khai Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia đến năm 2035 kèm theo đó là đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế thu hút nguồn lực, phát triển nội lực khởi nghiệp quốc gia. Đặc biệt, Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo tiếp tục khẳng định yêu cầu phát triển thị trường vốn và đầu tư mạo hiểm cho khởi nghiệp sáng tạo “vận hành hiệu quả Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia, các quỹ đầu tư mạo hiểm của địa phương... hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm của doanh nghiệp, cơ sở giáo dục đào tạo”. Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo chính là mắt xích hoàn thiện chuỗi chính sách phát triển, đưa các định hướng chính trị và quy định pháp luật vào thực tiễn thông qua những mục tiêu, giải pháp và cơ chế hỗ trợ cụ thể. Sự liên kết chặt chẽ giữa chủ trương của Đảng - thể chế pháp luật - chính sách tổ chức thực hiện đã tạo nên nền tảng quan trọng để hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo có khả năng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân và đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số.
Có thể khẳng định, trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, khởi nghiệp sáng tạo đã vượt ra ngoài phạm vi của một chính sách hỗ trợ doanh nghiệp để trở thành một cấu phần quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Việc hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo đồng bộ không chỉ góp phần thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ hơn mà còn tạo điều kiện để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng trong dài hạn. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao và hội nhập sâu rộng trong kỷ nguyên số.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo từ Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đến Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP của Chính phủ đã hình thành một chỉnh thể thống nhất về định hướng chính trị, khuôn khổ pháp lý và cơ chế thực thi nhằm thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo ở Việt Nam, thể hiện rõ tư duy phát triển mới của Đảng và Nhà nước, chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành những động lực cốt lõi của tăng trưởng quốc gia, đưa khởi nghiệp sáng tạo trở thành một trụ cột chiến lược trong phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.