Thứ tư 02/09/2026 00:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.

Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản. Vấn đề đặt ra không chỉ là giữ vững trận địa tư tưởng theo cách thức truyền thống, mà sâu xa hơn là tái cấu trúc năng lực lãnh đạo, năng lực thể chế hóa, quản trị và tổ chức thực tiễn của toàn hệ thống chính trị trong môi trường số. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vì thế không thể chỉ dừng ở lập luận đúng, mà phải được bảo đảm bằng thể chế đúng, quản trị tốt và kết quả phát triển có sức thuyết phục xã hội[1].

Từ đó đặt ra một yêu cầu có tính phương pháp: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tiếp tục vận hành chủ yếu theo logic tuyên truyền tuyến tính, mà phải chuyển sang logic bảo vệ bằng năng lực hệ thống, nơi tính đúng đắn của đường lối được thể hiện bằng khả năng thể chế hóa, tổ chức thực hiện và kết quả thực tiễn. Trong môi trường số, mọi khoảng trống thể chế, độ trễ thực thi, vùng xám trách nhiệm đều có thể bị khuếch đại thành hoài nghi xã hội, thậm chí bị các thế lực thù địch khai thác thành điểm công kích. Bởi vậy, nâng cao năng lực hệ thống cũng chính là củng cố nền tảng tư tưởng từ gốc.

1. Từ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đến yêu cầu đổi mới phương thức cầm quyền

Thực tiễn đổi mới cho thấy công tác chính trị, tư tưởng chỉ có sức thuyết phục bền vững khi gắn chặt với thực tiễn phát triển đất nước, với chất lượng tổ chức thực hiện và với những kết quả cụ thể mà xã hội có thể cảm nhận. Trong điều kiện hiện nay, môi trường tư tưởng - thông tin đã thay đổi sâu sắc. Không gian mạng tạo ra tốc độ lan truyền theo thời gian thực, mở rộng biên độ ảnh hưởng của các thông điệp chính trị - xã hội, đồng thời làm gia tăng tính phức tạp của nhận thức xã hội khi thông tin đúng và sai, phản biện và xuyên tạc, góp ý và dẫn dắt dư luận cùng tồn tại trong một không gian. Chính vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không còn có thể hiểu theo nghĩa hẹp là phản bác trực diện các quan điểm sai trái, thù địch, mà phải được đặt trong tổng thể năng lực lãnh đạo, quản trị và phản ứng chính sách của cả hệ thống chính trị.

Nói cách khác, niềm tin xã hội hôm nay không chỉ được xây dựng bằng lời nói đúng, mà bằng trải nghiệm thực tế rằng bộ máy đang vận hành hiệu quả hơn, chính sách đi vào cuộc sống nhanh hơn, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được bảo đảm tốt hơn. Vì vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số không chỉ được bảo vệ trên mặt trận lý luận, báo chí, tuyên truyền, mà còn được bảo vệ trong chính chất lượng thể chế, trong kỷ luật thực thi, trong tính minh bạch của quản trị và trong hiệu quả phục vụ Nhân dân. Đó là sự dịch chuyển rất quan trọng về nhận thức, đồng thời là tiền đề để tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới.

2. Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW: hai trục lớn của tái cấu trúc

Một điểm mới nổi bật của giai đoạn hiện nay là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng gắn chặt với chất lượng thể chế và năng lực quản trị quốc gia. Nếu trước đây nhiệm vụ này chủ yếu được nhấn mạnh ở phương diện tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thì nay yêu cầu đã mở rộng sang bình diện xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, kiểm soát quyền lực, quản trị dữ liệu và tổ chức phục vụ Nhân dân. Sự mở rộng đó không làm mờ đi nội dung cốt lõi của công tác tư tưởng; ngược lại, nó làm rõ hơn nền thực tiễn của công tác tư tưởng trong điều kiện Đảng cầm quyền và lãnh đạo phát triển đất nước.

Ở phương diện này, Nghị quyết số 66-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tinh thần cốt lõi của Nghị quyết không chỉ là hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hay siết chặt kỷ cương thực thi, mà là tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật, coi pháp luật là một động lực phát triển và một công cụ khơi thông nguồn lực cho đất nước. Vì thế, khơi thông nguồn lực phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW không chỉ là yêu cầu kinh tế - pháp lý, mà còn là yêu cầu chính trị - tư tưởng trực tiếp: thể chế càng minh bạch, thực thi càng nghiêm minh, trách nhiệm giải trình càng rõ, thì niềm tin xã hội càng được củng cố.

Nếu Nghị quyết số 66-NQ/TW tạo nền thể chế, thì Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo nền phương thức. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để đổi mới mô hình quản trị quốc gia, với các trụ cột cốt lõi là thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược. Trong chiều sâu của nó, nghị quyết này đặt ra yêu cầu tái cấu trúc phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và phục vụ nhân dân trên nền tảng dữ liệu. Khi dữ liệu trở thành hạ tầng của quản trị, phản hồi được rút ngắn theo thời gian thực, dấu vết số làm rõ trách nhiệm và hiệu quả xử lý có thể kiểm chứng, thì sức thuyết phục của đường lối không chỉ đến từ diễn giải bằng lời nói, mà đến từ khả năng chứng minh bằng thực tiễn vận hành.

Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW vì thế không phải hai tuyến nội dung tách rời. Một nghị quyết tạo nền thể chế để hệ thống vận hành đúng; một nghị quyết tạo nền công nghệ và quản trị để hệ thống vận hành nhanh, minh bạch và hiệu quả. Khi hai trục này gặp nhau, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mới có điều kiện chuyển từ thế phòng thủ sang thế chủ động kiến tạo; từ phản bác bị động sang xây dựng “sức đề kháng” chủ động; từ bảo vệ bằng diễn ngôn sang bảo vệ bằng năng lực cầm quyền, năng lực tổ chức thực tiễn và năng lực phục vụ Nhân dân[2].

Cùng với đó, yêu cầu xây dựng Chính phủ kiến tạo và hành động, “nói đi đôi với làm”, điều hành bằng tư duy quản trị hiện đại, chủ động, linh hoạt trong mọi tình huống đã đặt ra một chuẩn mực mới cho hiệu quả cầm quyền và quản trị quốc gia. Chuẩn mực ấy có ý nghĩa trực tiếp đối với chủ đề bài viết: trong điều kiện mới, sức thuyết phục của hệ thống chính trị không chỉ đến từ định hướng đúng, mà từ phong cách điều hành, từ năng lực phản ứng chính sách và từ chất lượng tổ chức thực hiện. Khi “nói đi đôi với làm” trở thành nguyên tắc vận hành, thì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không còn chỉ là bác bỏ điều sai, mà còn là chứng minh bằng thực tiễn rằng bộ máy đang hành động đúng, trúng và hiệu quả.

3. Chuyển đổi số không chỉ đổi công cụ, mà đổi phương thức bảo vệ

Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chuyển đổi số trước hết tạo điều kiện hình thành năng lực phát hiện sớm và cảnh báo sớm. Trong môi trường số, thông tin sai trái thường không xuất hiện dưới dạng công kích trực diện, mà ẩn dưới lớp vỏ phản biện, góp ý, đặt vấn đề, rồi được khuếch đại theo cơ chế lan truyền dây chuyền. Vì vậy, nếu bộ máy vẫn phản ứng theo nhịp hành chính truyền thống, thì sẽ luôn đi sau sự vận động của không gian mạng. Ngược lại, nếu hệ thống được trang bị năng lực quét dữ liệu, phân tích xu hướng, phát hiện bất thường và phối hợp phản ứng nhanh, thì sức chiến đấu tư tưởng sẽ được nâng lên về chất[3].

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng chuyển đổi số trong lĩnh vực này không thể bị giản lược thành việc bổ sung phần mềm hay số hóa tài liệu theo nghĩa hẹp. Trọng tâm không nằm ở số lượng nền tảng được triển khai, mà ở khả năng hình thành năng lực hệ thống mới: phát hiện sớm, phân tích đúng, phản ứng nhanh, phối hợp chặt và truy vết trách nhiệm rõ. Công nghệ có thể quét nhanh hơn, lọc sâu hơn, gợi ý tốt hơn; nhưng công nghệ không thể tự xác định đúng - sai về chính trị, không thể tự lựa chọn điểm rơi thông điệp, càng không thể tự chịu trách nhiệm về hệ quả xã hội của một phản ứng thiếu chuẩn xác. Chủ thể quyết định cuối cùng vẫn phải là con người có lập trường, có năng lực thẩm định, có bản lĩnh xử lý và có trách nhiệm chính trị.

Bởi vậy, tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện số hóa phải được đặt trên một nền quản trị mới. Trong môi trường mà thông tin sai lệch lan nhanh theo thuật toán, thì tốc độ phản ứng, độ chính xác của dữ liệu và khả năng chứng minh bằng sự thật có ý nghĩa quyết định. Muốn phản bác hiệu quả phải có dữ liệu đúng; muốn tạo đồng thuận bền vững phải có quản trị tốt. Công tác tư tưởng trong điều kiện mới vì vậy không thể giao theo lối “khoán trắng” cho một cơ quan hay một lực lượng riêng lẻ, mà phải được đặt trong mối liên hệ hữu cơ với công tác tổ chức, kiểm tra, giám sát, dân vận, nội chính, tư pháp, cải cách hành chính và chuyển đổi số.

4. Thực tiễn thi hành án dân sự: gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị

Thực tiễn thi hành án dân sự là một trường hợp điển hình cho thấy bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới không chỉ diễn ra trên mặt trận tuyên truyền, mà còn được kiểm chứng trực tiếp bằng chất lượng tổ chức thực hiện. Ngày 25/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 1898/QĐ-BTP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý Thi hành án dân sự; từ ngày 01/7/2025, Cục chính thức đi vào hoạt động. Đây không chỉ là một điều chỉnh về tổ chức, mà là bước chuyển từ tư duy quản lý phân tán sang tư duy quản trị hệ thống, từ cách điều hành thiên về phân tán đầu mối sang cách vận hành tập trung hơn, rõ trách nhiệm hơn và thống nhất hơn[4].

Ý nghĩa lý luận của sự chuyển đổi này nằm ở chỗ: tinh gọn bộ máy trong thi hành án dân sự không nhằm “giảm người, giảm đầu mối” theo nghĩa cơ học, mà nhằm tạo lập một cấu trúc điều hành rõ chức năng, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ đầu mối chịu trách nhiệm. Ở tầng sâu hơn, đây chính là sự cụ thể hóa tinh thần đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”. Thực tiễn đó cũng là một phản chứng trực tiếp đối với những luận điệu xuyên tạc cho rằng tinh gọn tất yếu dẫn tới xáo trộn, chồng chéo hoặc suy giảm hiệu lực quản lý. Vấn đề quyết định không phải là bộ máy lớn hay nhỏ, mà là bộ máy có được tổ chức lại trên nền tảng quản trị hiện đại hay không[5].

Từ góc độ Nghị quyết số 66-NQ/TW, trường hợp thi hành án dân sự còn cho thấy một yêu cầu rất rõ: muốn khơi thông nguồn lực phát triển thì phải khắc phục được những điểm nghẽn thể chế và điểm nghẽn thực thi ngay ở những lĩnh vực trực tiếp xử lý quyền tài sản, nghĩa vụ tài sản và hiệu lực của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Thi hành án dân sự là khâu cuối cùng của quá trình bảo vệ công lý; nếu bản án đúng nhưng thi hành chậm, thi hành không dứt điểm hoặc dữ liệu thi hành không minh bạch, thì niềm tin vào hiệu lực của pháp luật sẽ bị bào mòn. Bởi vậy, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, xét đến cùng, không chỉ là yêu cầu pháp lý hay kỹ thuật lập pháp, mà còn là yêu cầu chính trị nhằm thu hẹp khoảng cách giữa chủ trương và kết quả, giữa pháp luật trên giấy và pháp luật trong đời sống[6].

Điểm đáng chú ý là hệ thống thi hành án dân sự không dừng ở sắp xếp lại tổ chức, mà đang chuyển mạnh sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu. Việc khánh thành Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) và khai trương Nền tảng số, với thông điệp “Quy trình số - Dữ liệu số - Quản trị số - Động lực mới trong quản lý thi hành án dân sự”, trục phát triển được nhấn mạnh là xây dựng dữ liệu “Đúng - Đủ - Sạch - Sống”, qua đó hiện đại hóa phương thức quản lý, nâng cao tính minh bạch và chất lượng điều hành. Đây là điểm gặp nhau rất rõ giữa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW: một bên tạo động lực chuyển đổi số, một bên đặt yêu cầu nâng cao chất lượng thi hành pháp luật; còn trong thực tiễn thi hành án dân sự, hai trục ấy hội tụ thành một yêu cầu chung là quản trị số để bảo đảm thực thi pháp luật đến cùng[7].

Từ đó có thể rút ra một nhận định có ý nghĩa phương pháp: trong điều kiện hiện nay, sức mạnh của hệ thống thi hành án dân sự không còn được đo chủ yếu bằng quy mô tổ chức, mà bằng năng lực quản trị thực thi. Một bộ máy gọn hơn nhưng dữ liệu tốt hơn, chỉ huy tập trung hơn, quy trình minh bạch hơn, trách nhiệm truy vết rõ hơn và phản ứng chính sách nhanh hơn thì thực chất là một bộ máy mạnh hơn. Đó cũng chính là tinh thần của yêu cầu xây dựng Chính phủ kiến tạo và hành động, “nói đi đôi với làm”, điều hành bằng tư duy quản trị hiện đại, chủ động, linh hoạt trong mọi tình huống. Khi tinh thần ấy được cụ thể hóa trong lĩnh vực thi hành án dân sự, thì hiệu quả thi hành án không chỉ là kết quả nghiệp vụ, mà còn là bằng chứng thực tiễn cho năng lực cầm quyền, năng lực tổ chức thực hiện và năng lực phục vụ Nhân dân của Đảng và Nhà nước[8].

Ở bình diện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đây là điểm đặc biệt quan trọng. Các thế lực thù địch thường lợi dụng chính những độ trễ thực thi, những vướng mắc tổ chức, những bất cập phối hợp để xuyên tạc chủ trương tinh gọn bộ máy, phủ nhận hiệu quả quản lý nhà nước và khoét sâu tâm lý hoài nghi xã hội. Trái lại, khi một lĩnh vực đặc thù, phức tạp và nhạy cảm như thi hành án dân sự có thể vừa tinh gọn tổ chức, vừa tăng cường quản trị, vừa chuyển đổi số, vừa nâng cao tính minh bạch và năng lực điều hành, thì bản thân thực tiễn đó đã là một luận cứ phản bác giàu sức thuyết phục. Nói cách khác, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong trường hợp này không chỉ bằng lời bác bỏ, mà bằng một thực tiễn cải cách có kết quả, có dữ liệu, có khả năng kiểm chứng và có tác dụng củng cố niềm tin[9].

5. Một số vấn đề đặt ra

Từ các phân tích trên có thể thấy, tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tinh gọn bộ máy và chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở việc bổ sung công cụ truyền thông hay tăng tần suất đấu tranh phản bác trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi là phải đồng thời củng cố ba nền tảng: nền thể chế, nền quản trị và nền tổ chức thực tiễn. Nếu thể chế chậm hoàn thiện, nếu dữ liệu rời rạc, nếu cơ chế phối hợp thiếu đồng bộ, nếu trách nhiệm không rõ và nếu hiệu quả phục vụ Nhân dân không được nâng lên, thì ngay cả những thông điệp đúng về chính trị cũng khó tạo được sức thuyết phục bền vững.

Trong thời gian tới, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường số là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, nhưng phải được tổ chức theo phương thức mới. Phương thức ấy phải lấy dữ liệu làm hạ tầng, lấy thể chế làm khung bảo đảm, lấy phối hợp liên thông làm nguyên tắc vận hành, lấy chất lượng thực thi làm thước đo, và lấy niềm tin của cán bộ, đảng viên, Nhân dân làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm cuối cùng. Cùng với đó, phải đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ vừa vững bản lĩnh chính trị, vừa hiểu công nghệ, vừa có tư duy quản trị, vừa có khả năng xử lý các tình huống tư tưởng - truyền thông - pháp lý trong môi trường tích hợp.

Kết luận

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tinh gọn bộ máy và chuyển đổi số là một yêu cầu vừa cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài. Điểm mới căn bản của giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ này không còn có thể chỉ thực hiện chủ yếu bằng tuyên truyền, giáo dục và phản bác trực diện, mà phải được tái cấu trúc trên nền tảng của thể chế hiện đại, quản trị hiện đại và tổ chức thực tiễn hiện đại. Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo ra hai trục lớn cho quá trình chuyển đổi đó: một trục làm cho hệ thống vận hành đúng, một trục làm cho hệ thống vận hành nhanh, minh bạch và hiệu quả. Khi hai trục ấy được kết nối với nhau trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, thì công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được nâng từ thế phản ứng sang thế kiến tạo, từ bảo vệ bằng diễn ngôn sang bảo vệ bằng năng lực hệ thống.

Thực tiễn thi hành án dân sự cho thấy rất rõ điều đó. “Gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà đã trở thành một phương thức củng cố niềm tin chính trị và tăng sức đề kháng tư tưởng của hệ thống. Trong kỷ nguyên số, một bộ máy tinh gọn nhưng vận hành bằng dữ liệu, quản trị bằng trách nhiệm, kiểm chứng bằng kết quả và phục vụ Nhân dân bằng hiệu quả thực chất sẽ có sức thuyết phục chính trị lớn hơn rất nhiều so với một bộ máy cồng kềnh nhưng phản ứng chậm, quản trị phân tán và hiệu lực thấp. Vì vậy, tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xét đến cùng, chính là tái cấu trúc năng lực cầm quyền, năng lực quản trị quốc gia và năng lực tổ chức thực hiện đường lối của Đảng trong điều kiện phát triển mới của đất nước.


  1. Bộ Chính trị, “Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.

  2. Bộ Chính trị, “Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.

  3. Báo Công an nhân dân, “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch - nhìn từ dự thảo văn kiện Đại hội XIV”, ngày 17/11/2025; xem thêm Báo Khánh Hòa, “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác mọi luận điệu xuyên tạc về tinh gọn tổ chức bộ máy”, ngày 15/9/2025.

  4. Cổng Thông tin điện tử Thi hành án dân sự, “Cục Quản lý Thi hành án dân sự chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025: Cụ thể hóa chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy”, ngày 27/6/2025; xem thêm Quyết định số 1898/QĐ-BTP ngày 25/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

  5. Tạp chí Cộng sản, “Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ‘tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả’ theo tinh thần định hướng của đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm”, ngày 15/02/2025.

  6. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, “Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị”, ngày 21/5/2025; xem thêm Bộ Tư pháp, “Triển khai Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW”.

  7. Cổng Thông tin điện tử Thi hành án dân sự, “Khánh thành Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC), khai trương Nền tảng số,” ngày 30/3/2026; xem thêm “Cục Quản lý THADS tập huấn, hướng dẫn sử dụng IOC”.

  8. Tạp chí Cộng sản, “Chính phủ kiến tạo và hành động, ‘nói đi đôi với làm’, điều hành bằng tư duy quản trị hiện đại, chủ động, linh hoạt trong mọi tình huống để hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng và nhân dân”, ngày 07/4/2026.

  9. Tạp chí Cộng sản, “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, ngày 05/11/2024.

(Ảnh: Internet)

Nguyễn Thị Thu Hằng - Cục Quản lý Thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Đột phá thể chế trong phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV) xác định đột phá thể chế là nền tảng của mọi cải cách lớn nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước đến năm 2045. Tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh trực diện đến hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật như thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Trên cơ sở đó, bài viết phân tích những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV; làm rõ mối quan hệ giữa đột phá thể chế và phát triển kinh tế nhà nước; đồng thời luận giải vai trò trung tâm của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật trong giai đoạn phát triển mới.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Bộ Tư pháp lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Ngày 29/7, Đảng bộ Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị sơ kết công tác Đảng 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng
Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng

Ngày 11/6/2026, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi

Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài viết "Ánh sáng Hồ Chí Minh soi đường cho chúng ta đi" của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhân dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Phản ánh “chất thép” trong ngòi bút, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới

Phản ánh “chất thép” trong ngòi bút, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới

Đây là một trong những chỉ đạo của đồng chí Lại Xuân Lâm, Phó Bí thư Đảng ủy Chính phủ tại Hội nghị tập huấn chuyên đề “Kỹ năng và định hướng sáng tác tác phẩm dự thi cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Đảng bộ Chính phủ lần thứ 2, năm 2026” do Đảng ủy Chính phủ tổ chức sáng ngày 15/4. Hội nghị có sự tham dự của hơn 500 đại biểu bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: "Nói đi đôi với làm, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả cụ thể"

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: "Nói đi đôi với làm, làm đến nơi đến chốn, làm ra kết quả cụ thể"

Sáng 13/4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến kết nối tới các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương và điểm cầu các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, các cơ quan, đơn vị. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIV

Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa XIV

Sáng ngày 13/4, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.
Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả

Hành động đột phá, biến quyết sách thành kết quả

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đặt ra yêu cầu Nghị quyết không chỉ đúng mà phải được thực hiện bằng hành động quyết liệt, hiệu quả thực chất, kiên quyết chống hình thức, không để xảy ra “độ trễ” nghị quyết. Trao đổi với Báo Quân đội nhân dân, Tổng Bí thư-Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương nhấn mạnh tinh thần phải đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, siết chặt kỷ luật thực thi, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát và tổ chức hành động đến cùng để đưa Nghị quyết Đại hội XIV nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tại Lễ Khai mạc Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII

Phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tại Lễ Khai mạc Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của đồng chí Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương tại Lễ Khai mạc Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ XVII - Quảng Ninh năm 2026.

Theo dõi chúng tôi trên: