Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia, nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đang đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản. Vấn đề đặt ra không chỉ là giữ vững trận địa tư tưởng theo cách thức truyền thống, mà sâu xa hơn là tái cấu trúc năng lực lãnh đạo, năng lực thể chế hóa, quản trị và tổ chức thực tiễn của toàn hệ thống chính trị trong môi trường số. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vì thế không thể chỉ dừng ở lập luận đúng, mà phải được bảo đảm bằng thể chế đúng, quản trị tốt và kết quả phát triển có sức thuyết phục xã hội[1].
Từ đó đặt ra một yêu cầu có tính phương pháp: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tiếp tục vận hành chủ yếu theo logic tuyên truyền tuyến tính, mà phải chuyển sang logic bảo vệ bằng năng lực hệ thống, nơi tính đúng đắn của đường lối được thể hiện bằng khả năng thể chế hóa, tổ chức thực hiện và kết quả thực tiễn. Trong môi trường số, mọi khoảng trống thể chế, độ trễ thực thi, vùng xám trách nhiệm đều có thể bị khuếch đại thành hoài nghi xã hội, thậm chí bị các thế lực thù địch khai thác thành điểm công kích. Bởi vậy, nâng cao năng lực hệ thống cũng chính là củng cố nền tảng tư tưởng từ gốc.
1. Từ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đến yêu cầu đổi mới phương thức cầm quyền
Thực tiễn đổi mới cho thấy công tác chính trị, tư tưởng chỉ có sức thuyết phục bền vững khi gắn chặt với thực tiễn phát triển đất nước, với chất lượng tổ chức thực hiện và với những kết quả cụ thể mà xã hội có thể cảm nhận. Trong điều kiện hiện nay, môi trường tư tưởng - thông tin đã thay đổi sâu sắc. Không gian mạng tạo ra tốc độ lan truyền theo thời gian thực, mở rộng biên độ ảnh hưởng của các thông điệp chính trị - xã hội, đồng thời làm gia tăng tính phức tạp của nhận thức xã hội khi thông tin đúng và sai, phản biện và xuyên tạc, góp ý và dẫn dắt dư luận cùng tồn tại trong một không gian. Chính vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không còn có thể hiểu theo nghĩa hẹp là phản bác trực diện các quan điểm sai trái, thù địch, mà phải được đặt trong tổng thể năng lực lãnh đạo, quản trị và phản ứng chính sách của cả hệ thống chính trị.
Nói cách khác, niềm tin xã hội hôm nay không chỉ được xây dựng bằng lời nói đúng, mà bằng trải nghiệm thực tế rằng bộ máy đang vận hành hiệu quả hơn, chính sách đi vào cuộc sống nhanh hơn, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp được bảo đảm tốt hơn. Vì vậy, nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số không chỉ được bảo vệ trên mặt trận lý luận, báo chí, tuyên truyền, mà còn được bảo vệ trong chính chất lượng thể chế, trong kỷ luật thực thi, trong tính minh bạch của quản trị và trong hiệu quả phục vụ Nhân dân. Đó là sự dịch chuyển rất quan trọng về nhận thức, đồng thời là tiền đề để tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới.
2. Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW: hai trục lớn của tái cấu trúc
Một điểm mới nổi bật của giai đoạn hiện nay là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ngày càng gắn chặt với chất lượng thể chế và năng lực quản trị quốc gia. Nếu trước đây nhiệm vụ này chủ yếu được nhấn mạnh ở phương diện tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thì nay yêu cầu đã mở rộng sang bình diện xây dựng pháp luật, thi hành pháp luật, kiểm soát quyền lực, quản trị dữ liệu và tổ chức phục vụ Nhân dân. Sự mở rộng đó không làm mờ đi nội dung cốt lõi của công tác tư tưởng; ngược lại, nó làm rõ hơn nền thực tiễn của công tác tư tưởng trong điều kiện Đảng cầm quyền và lãnh đạo phát triển đất nước.
Ở phương diện này, Nghị quyết số 66-NQ/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tinh thần cốt lõi của Nghị quyết không chỉ là hoàn thiện kỹ thuật lập pháp hay siết chặt kỷ cương thực thi, mà là tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật, coi pháp luật là một động lực phát triển và một công cụ khơi thông nguồn lực cho đất nước. Vì thế, khơi thông nguồn lực phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW không chỉ là yêu cầu kinh tế - pháp lý, mà còn là yêu cầu chính trị - tư tưởng trực tiếp: thể chế càng minh bạch, thực thi càng nghiêm minh, trách nhiệm giải trình càng rõ, thì niềm tin xã hội càng được củng cố.
Nếu Nghị quyết số 66-NQ/TW tạo nền thể chế, thì Nghị quyết số 57-NQ/TW tạo nền phương thức. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để đổi mới mô hình quản trị quốc gia, với các trụ cột cốt lõi là thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược. Trong chiều sâu của nó, nghị quyết này đặt ra yêu cầu tái cấu trúc phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát và phục vụ nhân dân trên nền tảng dữ liệu. Khi dữ liệu trở thành hạ tầng của quản trị, phản hồi được rút ngắn theo thời gian thực, dấu vết số làm rõ trách nhiệm và hiệu quả xử lý có thể kiểm chứng, thì sức thuyết phục của đường lối không chỉ đến từ diễn giải bằng lời nói, mà đến từ khả năng chứng minh bằng thực tiễn vận hành.
Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW vì thế không phải hai tuyến nội dung tách rời. Một nghị quyết tạo nền thể chế để hệ thống vận hành đúng; một nghị quyết tạo nền công nghệ và quản trị để hệ thống vận hành nhanh, minh bạch và hiệu quả. Khi hai trục này gặp nhau, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mới có điều kiện chuyển từ thế phòng thủ sang thế chủ động kiến tạo; từ phản bác bị động sang xây dựng “sức đề kháng” chủ động; từ bảo vệ bằng diễn ngôn sang bảo vệ bằng năng lực cầm quyền, năng lực tổ chức thực tiễn và năng lực phục vụ Nhân dân[2].
Cùng với đó, yêu cầu xây dựng Chính phủ kiến tạo và hành động, “nói đi đôi với làm”, điều hành bằng tư duy quản trị hiện đại, chủ động, linh hoạt trong mọi tình huống đã đặt ra một chuẩn mực mới cho hiệu quả cầm quyền và quản trị quốc gia. Chuẩn mực ấy có ý nghĩa trực tiếp đối với chủ đề bài viết: trong điều kiện mới, sức thuyết phục của hệ thống chính trị không chỉ đến từ định hướng đúng, mà từ phong cách điều hành, từ năng lực phản ứng chính sách và từ chất lượng tổ chức thực hiện. Khi “nói đi đôi với làm” trở thành nguyên tắc vận hành, thì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không còn chỉ là bác bỏ điều sai, mà còn là chứng minh bằng thực tiễn rằng bộ máy đang hành động đúng, trúng và hiệu quả.
3. Chuyển đổi số không chỉ đổi công cụ, mà đổi phương thức bảo vệ
Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chuyển đổi số trước hết tạo điều kiện hình thành năng lực phát hiện sớm và cảnh báo sớm. Trong môi trường số, thông tin sai trái thường không xuất hiện dưới dạng công kích trực diện, mà ẩn dưới lớp vỏ phản biện, góp ý, đặt vấn đề, rồi được khuếch đại theo cơ chế lan truyền dây chuyền. Vì vậy, nếu bộ máy vẫn phản ứng theo nhịp hành chính truyền thống, thì sẽ luôn đi sau sự vận động của không gian mạng. Ngược lại, nếu hệ thống được trang bị năng lực quét dữ liệu, phân tích xu hướng, phát hiện bất thường và phối hợp phản ứng nhanh, thì sức chiến đấu tư tưởng sẽ được nâng lên về chất[3].
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng chuyển đổi số trong lĩnh vực này không thể bị giản lược thành việc bổ sung phần mềm hay số hóa tài liệu theo nghĩa hẹp. Trọng tâm không nằm ở số lượng nền tảng được triển khai, mà ở khả năng hình thành năng lực hệ thống mới: phát hiện sớm, phân tích đúng, phản ứng nhanh, phối hợp chặt và truy vết trách nhiệm rõ. Công nghệ có thể quét nhanh hơn, lọc sâu hơn, gợi ý tốt hơn; nhưng công nghệ không thể tự xác định đúng - sai về chính trị, không thể tự lựa chọn điểm rơi thông điệp, càng không thể tự chịu trách nhiệm về hệ quả xã hội của một phản ứng thiếu chuẩn xác. Chủ thể quyết định cuối cùng vẫn phải là con người có lập trường, có năng lực thẩm định, có bản lĩnh xử lý và có trách nhiệm chính trị.
Bởi vậy, tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện số hóa phải được đặt trên một nền quản trị mới. Trong môi trường mà thông tin sai lệch lan nhanh theo thuật toán, thì tốc độ phản ứng, độ chính xác của dữ liệu và khả năng chứng minh bằng sự thật có ý nghĩa quyết định. Muốn phản bác hiệu quả phải có dữ liệu đúng; muốn tạo đồng thuận bền vững phải có quản trị tốt. Công tác tư tưởng trong điều kiện mới vì vậy không thể giao theo lối “khoán trắng” cho một cơ quan hay một lực lượng riêng lẻ, mà phải được đặt trong mối liên hệ hữu cơ với công tác tổ chức, kiểm tra, giám sát, dân vận, nội chính, tư pháp, cải cách hành chính và chuyển đổi số.
4. Thực tiễn thi hành án dân sự: gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị
Thực tiễn thi hành án dân sự là một trường hợp điển hình cho thấy bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới không chỉ diễn ra trên mặt trận tuyên truyền, mà còn được kiểm chứng trực tiếp bằng chất lượng tổ chức thực hiện. Ngày 25/6/2025, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ký Quyết định số 1898/QĐ-BTP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý Thi hành án dân sự; từ ngày 01/7/2025, Cục chính thức đi vào hoạt động. Đây không chỉ là một điều chỉnh về tổ chức, mà là bước chuyển từ tư duy quản lý phân tán sang tư duy quản trị hệ thống, từ cách điều hành thiên về phân tán đầu mối sang cách vận hành tập trung hơn, rõ trách nhiệm hơn và thống nhất hơn[4].
Ý nghĩa lý luận của sự chuyển đổi này nằm ở chỗ: tinh gọn bộ máy trong thi hành án dân sự không nhằm “giảm người, giảm đầu mối” theo nghĩa cơ học, mà nhằm tạo lập một cấu trúc điều hành rõ chức năng, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ đầu mối chịu trách nhiệm. Ở tầng sâu hơn, đây chính là sự cụ thể hóa tinh thần đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng “tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”. Thực tiễn đó cũng là một phản chứng trực tiếp đối với những luận điệu xuyên tạc cho rằng tinh gọn tất yếu dẫn tới xáo trộn, chồng chéo hoặc suy giảm hiệu lực quản lý. Vấn đề quyết định không phải là bộ máy lớn hay nhỏ, mà là bộ máy có được tổ chức lại trên nền tảng quản trị hiện đại hay không[5].
Từ góc độ Nghị quyết số 66-NQ/TW, trường hợp thi hành án dân sự còn cho thấy một yêu cầu rất rõ: muốn khơi thông nguồn lực phát triển thì phải khắc phục được những điểm nghẽn thể chế và điểm nghẽn thực thi ngay ở những lĩnh vực trực tiếp xử lý quyền tài sản, nghĩa vụ tài sản và hiệu lực của các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Thi hành án dân sự là khâu cuối cùng của quá trình bảo vệ công lý; nếu bản án đúng nhưng thi hành chậm, thi hành không dứt điểm hoặc dữ liệu thi hành không minh bạch, thì niềm tin vào hiệu lực của pháp luật sẽ bị bào mòn. Bởi vậy, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW, xét đến cùng, không chỉ là yêu cầu pháp lý hay kỹ thuật lập pháp, mà còn là yêu cầu chính trị nhằm thu hẹp khoảng cách giữa chủ trương và kết quả, giữa pháp luật trên giấy và pháp luật trong đời sống[6].
Điểm đáng chú ý là hệ thống thi hành án dân sự không dừng ở sắp xếp lại tổ chức, mà đang chuyển mạnh sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu. Việc khánh thành Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC) và khai trương Nền tảng số, với thông điệp “Quy trình số - Dữ liệu số - Quản trị số - Động lực mới trong quản lý thi hành án dân sự”, trục phát triển được nhấn mạnh là xây dựng dữ liệu “Đúng - Đủ - Sạch - Sống”, qua đó hiện đại hóa phương thức quản lý, nâng cao tính minh bạch và chất lượng điều hành. Đây là điểm gặp nhau rất rõ giữa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW: một bên tạo động lực chuyển đổi số, một bên đặt yêu cầu nâng cao chất lượng thi hành pháp luật; còn trong thực tiễn thi hành án dân sự, hai trục ấy hội tụ thành một yêu cầu chung là quản trị số để bảo đảm thực thi pháp luật đến cùng[7].
Từ đó có thể rút ra một nhận định có ý nghĩa phương pháp: trong điều kiện hiện nay, sức mạnh của hệ thống thi hành án dân sự không còn được đo chủ yếu bằng quy mô tổ chức, mà bằng năng lực quản trị thực thi. Một bộ máy gọn hơn nhưng dữ liệu tốt hơn, chỉ huy tập trung hơn, quy trình minh bạch hơn, trách nhiệm truy vết rõ hơn và phản ứng chính sách nhanh hơn thì thực chất là một bộ máy mạnh hơn. Đó cũng chính là tinh thần của yêu cầu xây dựng Chính phủ kiến tạo và hành động, “nói đi đôi với làm”, điều hành bằng tư duy quản trị hiện đại, chủ động, linh hoạt trong mọi tình huống. Khi tinh thần ấy được cụ thể hóa trong lĩnh vực thi hành án dân sự, thì hiệu quả thi hành án không chỉ là kết quả nghiệp vụ, mà còn là bằng chứng thực tiễn cho năng lực cầm quyền, năng lực tổ chức thực hiện và năng lực phục vụ Nhân dân của Đảng và Nhà nước[8].
Ở bình diện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đây là điểm đặc biệt quan trọng. Các thế lực thù địch thường lợi dụng chính những độ trễ thực thi, những vướng mắc tổ chức, những bất cập phối hợp để xuyên tạc chủ trương tinh gọn bộ máy, phủ nhận hiệu quả quản lý nhà nước và khoét sâu tâm lý hoài nghi xã hội. Trái lại, khi một lĩnh vực đặc thù, phức tạp và nhạy cảm như thi hành án dân sự có thể vừa tinh gọn tổ chức, vừa tăng cường quản trị, vừa chuyển đổi số, vừa nâng cao tính minh bạch và năng lực điều hành, thì bản thân thực tiễn đó đã là một luận cứ phản bác giàu sức thuyết phục. Nói cách khác, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong trường hợp này không chỉ bằng lời bác bỏ, mà bằng một thực tiễn cải cách có kết quả, có dữ liệu, có khả năng kiểm chứng và có tác dụng củng cố niềm tin[9].
5. Một số vấn đề đặt ra
Từ các phân tích trên có thể thấy, tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tinh gọn bộ máy và chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở việc bổ sung công cụ truyền thông hay tăng tần suất đấu tranh phản bác trên không gian mạng. Vấn đề cốt lõi là phải đồng thời củng cố ba nền tảng: nền thể chế, nền quản trị và nền tổ chức thực tiễn. Nếu thể chế chậm hoàn thiện, nếu dữ liệu rời rạc, nếu cơ chế phối hợp thiếu đồng bộ, nếu trách nhiệm không rõ và nếu hiệu quả phục vụ Nhân dân không được nâng lên, thì ngay cả những thông điệp đúng về chính trị cũng khó tạo được sức thuyết phục bền vững.
Trong thời gian tới, cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường số là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, nhưng phải được tổ chức theo phương thức mới. Phương thức ấy phải lấy dữ liệu làm hạ tầng, lấy thể chế làm khung bảo đảm, lấy phối hợp liên thông làm nguyên tắc vận hành, lấy chất lượng thực thi làm thước đo, và lấy niềm tin của cán bộ, đảng viên, Nhân dân làm tiêu chuẩn kiểm nghiệm cuối cùng. Cùng với đó, phải đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ vừa vững bản lĩnh chính trị, vừa hiểu công nghệ, vừa có tư duy quản trị, vừa có khả năng xử lý các tình huống tư tưởng - truyền thông - pháp lý trong môi trường tích hợp.
Kết luận
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tinh gọn bộ máy và chuyển đổi số là một yêu cầu vừa cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài. Điểm mới căn bản của giai đoạn hiện nay là nhiệm vụ này không còn có thể chỉ thực hiện chủ yếu bằng tuyên truyền, giáo dục và phản bác trực diện, mà phải được tái cấu trúc trên nền tảng của thể chế hiện đại, quản trị hiện đại và tổ chức thực tiễn hiện đại. Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW đã tạo ra hai trục lớn cho quá trình chuyển đổi đó: một trục làm cho hệ thống vận hành đúng, một trục làm cho hệ thống vận hành nhanh, minh bạch và hiệu quả. Khi hai trục ấy được kết nối với nhau trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, thì công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ được nâng từ thế phản ứng sang thế kiến tạo, từ bảo vệ bằng diễn ngôn sang bảo vệ bằng năng lực hệ thống.
Thực tiễn thi hành án dân sự cho thấy rất rõ điều đó. “Gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà đã trở thành một phương thức củng cố niềm tin chính trị và tăng sức đề kháng tư tưởng của hệ thống. Trong kỷ nguyên số, một bộ máy tinh gọn nhưng vận hành bằng dữ liệu, quản trị bằng trách nhiệm, kiểm chứng bằng kết quả và phục vụ Nhân dân bằng hiệu quả thực chất sẽ có sức thuyết phục chính trị lớn hơn rất nhiều so với một bộ máy cồng kềnh nhưng phản ứng chậm, quản trị phân tán và hiệu lực thấp. Vì vậy, tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xét đến cùng, chính là tái cấu trúc năng lực cầm quyền, năng lực quản trị quốc gia và năng lực tổ chức thực hiện đường lối của Đảng trong điều kiện phát triển mới của đất nước.
Bộ Chính trị, “Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.
Bộ Chính trị, “Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”.
Báo Công an nhân dân, “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch - nhìn từ dự thảo văn kiện Đại hội XIV”, ngày 17/11/2025; xem thêm Báo Khánh Hòa, “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác mọi luận điệu xuyên tạc về tinh gọn tổ chức bộ máy”, ngày 15/9/2025.
Cổng Thông tin điện tử Thi hành án dân sự, “Cục Quản lý Thi hành án dân sự chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025: Cụ thể hóa chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy”, ngày 27/6/2025; xem thêm Quyết định số 1898/QĐ-BTP ngày 25/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Tạp chí Cộng sản, “Đổi mới tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ‘tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả’ theo tinh thần định hướng của đồng chí GS, TS, Tổng Bí thư Tô Lâm”, ngày 15/02/2025.
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, “Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị”, ngày 21/5/2025; xem thêm Bộ Tư pháp, “Triển khai Kế hoạch số 04-KH/BCĐTW thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW”.
Cổng Thông tin điện tử Thi hành án dân sự, “Khánh thành Trung tâm giám sát, điều hành thông minh (IOC), khai trương Nền tảng số,” ngày 30/3/2026; xem thêm “Cục Quản lý THADS tập huấn, hướng dẫn sử dụng IOC”.
Tạp chí Cộng sản, “Chính phủ kiến tạo và hành động, ‘nói đi đôi với làm’, điều hành bằng tư duy quản trị hiện đại, chủ động, linh hoạt trong mọi tình huống để hoàn thành xuất sắc trọng trách trước Đảng và nhân dân”, ngày 07/4/2026.
Tạp chí Cộng sản, “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, ngày 05/11/2024.
(Ảnh: Internet)