Đặt vấn đề
Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động nhanh chóng, phức tạp; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; các cú sốc kinh tế, tài chính, địa chính trị và công nghệ đan xen, tác động sâu sắc đến môi trường phát triển của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh đó, yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng gắn với khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là lựa chọn, mà trở thành đòi hỏi mang tính sống còn đối với năng lực cạnh tranh và tự chủ chiến lược của Việt Nam.
Thực tiễn phát triển cho thấy, thể chế ngày càng giữ vai trò quyết định đối với chất lượng quản trị quốc gia và hiệu quả huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực cho phát triển. Không ít chủ trương, chính sách đúng đắn đã được ban hành kịp thời, song hiệu quả triển khai trên thực tế còn hạn chế. Khoảng cách giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật chưa được thu hẹp tương xứng, làm suy giảm hiệu lực điều chỉnh của pháp luật và tạo ra những “điểm nghẽn thể chế” kéo dài.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu đột phá thể chế không chỉ trong xây dựng pháp luật, mà đặc biệt trong tổ chức thực thi, kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu lực pháp luật. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lãnh đạo của Đảng, thể hiện sự chuyển dịch từ cách tiếp cận coi trọng ban hành pháp luật sang coi hiệu quả thực thi là thước đo trung tâm.
1. Những điểm mới về tư duy thể chế trong Văn kiện Đại hội XIV
So với các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIV thể hiện bước phát triển mới, sâu sắc hơn trong tư duy của Đảng về thể chế phát triển. Nếu như Đại hội XIII nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, thì Đại hội XIV đặt trọng tâm trực diện vào chất lượng vận hành của thể chế trong thực tiễn, coi tổ chức thực hiện pháp luật là khâu quyết định giá trị của thể chế.
Điểm mới nổi bật là việc nâng cao vị trí của tổ chức thực hiện pháp luật trong tổng thể tư duy thể chế. Văn kiện khẳng định, thể chế chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi các chủ trương, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước được tổ chức thực hiện nghiêm túc, đồng bộ, nhất quán và đi vào cuộc sống. Cách tiếp cận này thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy hoàn thiện thể chế theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng thực thi theo chiều sâu.
Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật theo hướng kiến tạo phát triển, chuyển mạnh từ quản lý, kiểm soát sang quản trị, phục vụ; lấy hiệu quả thực thi và tác động thực chất đối với phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống nhân dân làm thước đo chủ yếu. Đây là bước tiến quan trọng trong nhận thức lý luận của Đảng về vai trò của thể chế trong giai đoạn phát triển mới.
2. Nghị quyết số 66-NQ/TW - khuôn khổ cải cách nền tảng về xây dựng và thi hành pháp luật
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới được ban hành trong bối cảnh yêu cầu cải cách thể chế đặt ra ngày càng cấp bách. Nghị quyết chỉ rõ những hạn chế mang tính hệ thống của công tác xây dựng và thi hành pháp luật, như tư duy làm luật còn nặng về quản lý, thiếu kiến tạo; chất lượng chính sách chưa cao; tổ chức thực hiện pháp luật còn yếu; kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm.
Điểm cốt lõi của Nghị quyết số 66-NQ/TW là yêu cầu đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng lấy thực tiễn làm thước đo, lấy hiệu quả tổ chức thực hiện làm mục tiêu. Theo đó, chất lượng pháp luật không chỉ được đánh giá ở khâu ban hành, mà chủ yếu ở mức độ được thực thi nghiêm túc và tạo tác động thực chất đối với phát triển.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn đổi mới công tác xây dựng pháp luật với đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức thi hành pháp luật; xác lập rõ trách nhiệm của từng chủ thể, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu; đồng thời tăng cường kiểm soát quyền lực trong xây dựng và thi hành pháp luật nhằm phòng, chống lợi ích cục bộ, tham nhũng, tiêu cực.
3. Đột phá thể chế trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2026 - 2045
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định yêu cầu hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, lấy pháp luật làm công cụ điều chỉnh chủ yếu các quan hệ xã hội, đồng thời đề cao kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm giải trình.
Giai đoạn 2026 - 2045, đột phá thể chế trong xây dựng Nhà nước pháp quyền cần tập trung vào hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi; đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức.
Đặc biệt, yêu cầu đặt ra là phải chuyển mạnh từ tư duy ban hành pháp luật sang tư duy tổ chức thực hiện pháp luật đến cùng, coi đây là khâu quyết định hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thực tiễn.
4. Đột phá thể chế, tổ chức thực hiện và trách nhiệm người đứng đầu - từ điểm nghẽn đến động lực phát triển
Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay trong phát triển đất nước là chất lượng tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật. Không ít trường hợp, pháp luật đã ban hành nhưng chậm đi vào cuộc sống; việc thực thi thiếu nghiêm túc, thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, tổ chức, dẫn đến hiệu quả thấp và làm suy giảm niềm tin của xã hội.
Văn kiện Đại hội XIV và Nghị quyết số 66-NQ/TW đều nhấn mạnh yêu cầu gắn đột phá thể chế với nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp về kết quả tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách và pháp luật trong phạm vi quản lý; đồng thời phải chủ động phát hiện, tháo gỡ những vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn.
Việc tăng cường trách nhiệm người đứng đầu, cùng với cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả sẽ tạo chuyển biến thực chất trong tổ chức thực hiện pháp luật, qua đó biến thể chế từ “điểm nghẽn” thành “động lực” phát triển bền vững.
5. Đột phá thể chế với phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là trụ cột vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và ổn định kinh tế vĩ mô. Trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với kinh tế nhà nước không chỉ là duy trì vai trò chủ đạo theo nghĩa truyền thống, mà phải nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và năng lực dẫn dắt.
Bước vào giai đoạn 2026 - 2045, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không còn được đánh giá chủ yếu bằng quy mô sở hữu hay tỷ trọng đóng góp, mà phải được đo lường bằng năng lực giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm an ninh kinh tế, cung ứng hiệu quả dịch vụ công thiết yếu và dẫn dắt phát triển các ngành, lĩnh vực then chốt.
Theo Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, kinh tế nhà nước được nhận diện như một chỉnh thể thống nhất các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối. Cách tiếp cận này cho thấy phát triển kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới không chỉ là cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, mà là hoàn thiện cơ chế quản trị tổng thể các nguồn lực công của quốc gia.
Đột phá thể chế vì vậy phải tập trung vào việc thiết lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ, minh bạch, khả thi cho phân bổ, quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà nước theo nguyên tắc hiệu quả, công khai, kiểm soát quyền lực và gắn với trách nhiệm giải trình.
6. Vai trò của Bộ Tư pháp trong thể chế hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV
Trong bối cảnh đột phá thể chế được xác định là nền tảng cải cách để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045, yêu cầu chuyển trọng tâm từ xây dựng pháp luật sang tổ chức thực hiện pháp luật đặt ra đòi hỏi ngày càng cao đối với hiệu lực thực thi của hệ thống pháp luật trong thực tiễn. Điều này không chỉ yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, mà quan trọng hơn là phải xác lập rõ trách nhiệm của các cơ quan tham mưu, quản lý nhà nước trong việc thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh, hiệu quả. Trong tổng thể đó, Bộ Tư pháp giữ vai trò trung tâm trong tham mưu hoàn thiện thể chế, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và theo dõi, đôn đốc việc tổ chức thi hành pháp luật, góp phần đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống.
Từ vị trí và vai trò đó, việc làm rõ chức năng, nhiệm vụ và phương thức tham mưu của Bộ Tư pháp trong công tác xây dựng pháp luật và thể chế hóa các nghị quyết của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn.
Thứ nhất, tham mưu xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật.
Trong tiến trình đột phá thể chế theo tinh thần Đại hội XIV, công tác tham mưu xây dựng và hoàn thiện thể chế pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng, bởi đây là khâu định hình chất lượng chính sách và tạo nền tảng pháp lý cho tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn. Với vị trí là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp có trách nhiệm bảo đảm việc thể chế hóa các nghị quyết, chủ trương của Đảng được thực hiện kịp thời, đầy đủ, đúng định hướng và phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn.
Trong bối cảnh yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng lấy hiệu quả thực thi làm thước đo trung tâm, vai trò tham mưu của Bộ Tư pháp không chỉ dừng ở việc đề xuất, thẩm định nội dung chính sách, mà còn thể hiện ở việc bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi của hệ thống pháp luật, hạn chế tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn và khoảng trống pháp lý. Đây là điều kiện tiên quyết để các đạo luật, văn bản dưới luật thực sự đi vào cuộc sống, tạo lập môi trường pháp lý ổn định, minh bạch cho phát triển kinh tế - xã hội.
Đồng thời, thông qua hoạt động thẩm định, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương trong công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm các quy định được ban hành phù hợp với Hiến pháp, thống nhất trong hệ thống pháp luật và gắn chặt với yêu cầu tổ chức thực hiện. Vai trò này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng mở rộng về phạm vi điều chỉnh và mức độ phức tạp.
Thứ hai, bảo đảm tổ chức thi hành pháp luật và tăng cường kỷ luật, kỷ cương pháp luật.
Nếu xây dựng pháp luật là khâu thiết kế thể chế, thì tổ chức thi hành pháp luật là khâu quyết định giá trị thực tiễn của thể chế đó, qua đó đặt ra yêu cầu tăng cường kỷ luật, kỷ cương và hiệu lực thực thi pháp luật trong toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước. Trong chuỗi này, Bộ Tư pháp giữ vai trò nòng cốt trong việc theo dõi, đôn đốc và đánh giá tình hình thi hành pháp luật, kịp thời phát hiện những vướng mắc, bất cập nảy sinh trong thực tiễn để kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật.
Thông qua cơ chế theo dõi thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp góp phần chuyển hóa yêu cầu “lấy kết quả thực thi làm tiêu chí đánh giá chất lượng thể chế” từ định hướng chính trị thành công cụ quản lý cụ thể. Việc tổng hợp, phân tích dữ liệu về thi hành pháp luật không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, mà còn tạo cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh, sửa đổi các quy định pháp luật chưa phù hợp, qua đó nâng cao tính thích ứng và bền vững của hệ thống pháp luật.
Bên cạnh đó, vai trò của Bộ Tư pháp trong tăng cường kỷ luật, kỷ cương pháp luật còn thể hiện ở việc tham mưu các giải pháp bảo đảm tuân thủ pháp luật trong hoạt động của bộ máy nhà nước, gắn trách nhiệm của người đứng đầu với kết quả tổ chức thực hiện pháp luật. Đây là yếu tố quan trọng để khắc phục tình trạng “luật trên giấy”, góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ, liêm chính và hiệu quả.
Thứ ba, hoàn thiện thể chế thi hành án dân sự - khâu then chốt bảo đảm hiệu lực của Nhà nước pháp quyền
Trong chuỗi tổ chức thực hiện pháp luật, thi hành án dân sự là khâu kiểm chứng trực tiếp nhất hiệu lực của pháp luật và quyền lực nhà nước, bởi kết quả thi hành án quyết định việc các bản án, quyết định của Tòa án có được hiện thực hóa trên thực tế hay không. Với chức năng quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và hiệu lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Việc hoàn thiện thể chế thi hành án dân sự không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án, mà còn góp phần củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp vào công lý và pháp luật. Trong bối cảnh các tranh chấp kinh tế, dân sự ngày càng gia tăng về số lượng và mức độ phức tạp, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thi hành án dân sự theo hướng rõ ràng, minh bạch, khả thi, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong quá trình tổ chức thi hành.
Thông qua việc hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp góp phần trực tiếp bảo đảm kỷ cương pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, qua đó khẳng định vai trò của thi hành án dân sự như một trụ cột không thể thiếu trong bảo đảm hiệu lực thực thi pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Kết luận
Đột phá thể chế, theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV, không chỉ là yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật về mặt hình thức, mà đòi hỏi chuyển biến thực chất trong tổ chức thực hiện pháp luật, lấy hiệu lực, hiệu quả thực thi làm thước đo trung tâm của chất lượng thể chế. Đây là sự chuyển dịch tư duy có ý nghĩa nền tảng, phản ánh yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới và đặt ra tiêu chuẩn cao hơn đối với toàn bộ quá trình xây dựng, hoàn thiện và vận hành thể chế.
Trong tiến trình đó, phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045 đặt ra yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế quản trị các nguồn lực công, bảo đảm kinh tế nhà nước thực sự phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong và dẫn dắt, qua đó giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm tự chủ chiến lược và ổn định phát triển bền vững. Hiệu quả phát triển kinh tế nhà nước nên không thể tách rời chất lượng thiết kế thể chế và mức độ nghiêm minh trong tổ chức thực hiện các quy định pháp luật liên quan.
Thực tiễn cũng cho thấy, thể chế chỉ thực sự phát huy giá trị khi được triển khai đồng bộ, nhất quán và được kiểm chứng bằng kết quả cụ thể trong đời sống kinh tế - xã hội. Trong tổng thể đó, vai trò của Bộ Tư pháp trong tham mưu hoàn thiện thể chế, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và theo dõi, đôn đốc việc tổ chức thi hành pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần đưa các nghị quyết, chủ trương của Đảng trở thành các chuẩn mực pháp lý có hiệu lực và hiệu quả trong thực tiễn.
Như vậy, đột phá thể chế gắn với tổ chức thực hiện pháp luật chính là điều kiện có tính quyết định để hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2045, đồng thời củng cố nền tảng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chỉ khi thể chế được xây dựng đồng bộ, được thực thi nghiêm minh và gắn với trách nhiệm giải trình rõ ràng, khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng đến năm 2045 mới có thể được hiện thực hóa một cách bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện Đại hội XIV.
2. Tổng Bí thư Tô Lâm, Diễn văn Bế mạc Đại hội XIV, 2026.
3. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
4. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước
5. Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp.
(Ảnh: Internet)