Thứ hai 16/03/2026 09:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn; phân tích những điểm mới, nội dung trọng tâm trong Văn kiện Đại hội XIV về xây dựng Nhà nước pháp quyền, xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm soát quyền lực nhà nước, cải cách tư pháp và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Nội dung nghiên cứu tập trung vào vai trò của pháp luật, mối quan hệ giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật, cũng như các yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo, phát triển. Kết quả nghiên cứu khẳng định: “Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là trụ cột của quản trị quốc gia hiện đại, là nền tảng căn bản để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới”[1].

Đặt vấn đề

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những định hướng chiến lược xuyên suốt của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt được nhấn mạnh từ Đại hội XI đến Đại hội XIII và tiếp tục phát triển toàn diện trong Văn kiện Đại hội XIV (Báo cáo chính trị). Đây không chỉ là yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, mà còn là vấn đề có ý nghĩa nền tảng, lâu dài, quyết định chất lượng phát triển của Nhà nước, xã hội và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của đất nước[2].

Thực tiễn hơn 40 năm đổi mới cho thấy, cùng với việc hoàn thiện đường lối phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã trở thành trụ cột quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đồng thời phòng, chống hiệu quả sự lạm quyền, quan liêu, tham nhũng, tiêu cực. Nhà nước pháp quyền không chỉ là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước, mà còn là biểu hiện sinh động của bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - nơi mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và được thực hiện vì lợi ích của Nhân dân.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước đứng trước những thời cơ, thuận lợi đan xen với nhiều khó khăn, thách thức lớn. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với chuyển đổi số quốc gia, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; yêu cầu hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; yêu cầu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; yêu cầu phát triển nhanh, bền vững, bao trùm, lấy con người làm trung tâm, đã và đang đặt ra những đòi hỏi ngày càng cao đối với Nhà nước, đặc biệt đối với thể chế pháp luật và hiệu quả thi hành pháp luật.

Trong bối cảnh đó, Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định và phát triển mạnh mẽ quan điểm: “Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn chặt với xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật là nền tảng căn bản của quản trị quốc gia hiện đại; là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước; đồng thời là công cụ hữu hiệu để bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”[3].

Điểm nhấn nổi bật của Văn kiện Đại hội XIV là yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “có luật là đủ” sang tư duy “luật phải tốt, được tổ chức thực hiện nghiêm minh, hiệu quả”; từ coi trọng chủ yếu khâu xây dựng pháp luật sang gắn chặt xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật; từ quản lý xã hội nặng về mệnh lệnh hành chính sang quản lý xã hội bằng pháp luật, trên cơ sở tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận và thực tiễn lãnh đạo của Đảng, phản ánh yêu cầu cấp thiết của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Bộ Chính trị yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện công tác xây dựng và thi hành pháp luật nhằm tạo đột phá chiến lược về thể chế, pháp luật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết số 66-NQ/TW nêu ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ và toàn diện công tác xây dựng, ban hành và thi hành pháp luật theo hướng gắn chặt với thực tiễn, thượng tôn pháp luật, nâng cao vai trò thi hành, tăng cường lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy pháp luật và bảo đảm nguồn lực và tổ chức thực hiện[4].

Việc nghiên cứu, phân tích và làm rõ những quan điểm, nội dung, nhiệm vụ và giải pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV không chỉ có ý nghĩa lý luận sâu sắc, mà còn có giá trị thực tiễn to lớn. Qua đó, góp phần thống nhất nhận thức, tạo sự đồng thuận cao trong hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp luật và tư pháp trong việc thực thi nhiệm vụ chính trị được giao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.1. Khái niệm và đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật; mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; bảo đảm sự thống nhất giữa quyền lực nhà nước với trách nhiệm pháp lý; tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam[5].

Khác với mô hình Nhà nước pháp quyền tư sản, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, đồng thời thể hiện sâu sắc tính nhân dân và tính dân tộc. Quyền lực nhà nước không bị phân lập đối lập, mà được tổ chức thống nhất, có phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau nhằm bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, đúng pháp luật, vì lợi ích chung của xã hội.

Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Quy định này không chỉ có ý nghĩa khẳng định về mặt chính trị - pháp lý, mà còn thể hiện bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng và Nhà nước ta về tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội và hội nhập quốc tế.

Các văn kiện Đại hội Đảng qua các nhiệm kỳ đều nhất quán xác định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới; là phương thức tổ chức quyền lực nhà nước phù hợp với bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa và yêu cầu phát triển của đất nước; là công cụ quan trọng để bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giữ vững kỷ cương, phép nước và phòng, chống lạm quyền, tham nhũng, tiêu cực. Sư thành công tốt đẹp của Đại hội XIV thể hiện niềm tin, ý chí, quyết tâm và tầm nhìn phát triển mới của Đảng và dân tộc ta. Đây là tiền đề vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự chủ chiến lược, tự tin, tự cường, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Đại hội kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân, khát vọng phát triển, quyết tâm thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đến năm 2030 hoàn thành thắng lợi mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc khắp năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và ước vọng của toàn thể dân tộc ta[6].

1.2. Vai trò của pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; mọi chủ thể trong xã hội, từ cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đến mỗi công dân, đều phải tôn trọng, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc này được khẳng định rõ tại Điều 8 Hiến pháp năm 2013, theo đó Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện nguyên tắc mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật.

Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý nhà nước, mà còn là chuẩn mực nền tảng để bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm công bằng xã hội; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, kỷ cương; đồng thời tạo môi trường pháp lý an toàn, minh bạch cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế[7]. Trong Nhà nước pháp quyền, pháp luật vừa là cơ sở giới hạn quyền lực nhà nước, vừa là công cụ kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền lực nhà nước được thực thi đúng thẩm quyền, đúng mục đích, không bị lạm dụng. Tuy nhiên, pháp luật chỉ thực sự phát huy đầy đủ giá trị khi được tổ chức thi hành nghiêm minh, thống nhất và hiệu quả trong thực tiễn. “Thực tiễn thời gian qua cho thấy, mặc dù công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng hệ thống pháp luật vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế: Một số văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu tính ổn định, tính đồng bộ; vẫn tồn tại tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất giữa các quy định pháp luật; chất lượng một số văn bản chưa theo kịp yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đặc biệt, kỷ luật, kỷ cương trong tổ chức thi hành pháp luật ở một số địa phương, lĩnh vực chưa nghiêm; trách nhiệm của người đứng đầu trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện pháp luật có nơi, có lúc chưa được đề cao đúng mức”[8].

Những hạn chế nêu trên không chỉ làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật, mà còn tác động trực tiếp đến niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước và pháp luật, ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XIV đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy lập pháp, đồng thời nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, coi đây là một trong những khâu đột phá then chốt nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

2. Những điểm mới, nội dung trọng tâm trong Văn kiện Đại hội XIV về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

2.1. Khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền là trụ cột của quản trị quốc gia hiện đại

Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có tính chất đột phá chiến lược nhằm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và chuyển đổi số toàn diện, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền không chỉ mang ý nghĩa chính trị - pháp lý, mà còn là điều kiện nền tảng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải thực sự là Nhà nước kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt và phục vụ Nhân dân; quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật; đề cao kỷ cương, phép nước; bảo đảm mọi quyền lực nhà nước đều được tổ chức, thực thi trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật[9]. Đây là sự phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về vai trò của Nhà nước trong quản trị quốc gia hiện đại, chuyển từ mô hình quản lý nặng về mệnh lệnh hành chính sang mô hình quản trị dựa trên pháp luật, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của Nhân dân.

Khẳng định xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là trụ cột của quản trị quốc gia hiện đại, Văn kiện Đại hội XIV đặt yêu cầu gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng Nhà nước pháp quyền với xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, bảo đảm hài hòa giữa hiệu quả quản lý với quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân và doanh nghiệp. Nhà nước không chỉ giữ vai trò điều tiết, kiểm soát, mà còn phải chủ động tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, minh bạch, ổn định, khơi thông các nguồn lực xã hội, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.

So với các kỳ Đại hội trước, Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh rõ hơn yêu cầu nâng cao hiệu quả thực chất của Nhà nước pháp quyền, không dừng lại ở việc hoàn thiện các thiết chế, cơ cấu tổ chức và khuôn khổ pháp lý, mà phải chuyển hóa thành hiệu lực, hiệu quả quản lý cụ thể trong đời sống xã hội. Nhà nước pháp quyền chỉ thực sự được hoàn thiện khi các nguyên tắc hiến định được hiện thực hóa trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; khi pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm minh; khi quyền lực nhà nước được kiểm soát hiệu quả và gắn chặt với trách nhiệm giải trình.

Việc khẳng định Nhà nước pháp quyền là trụ cột của quản trị quốc gia hiện đại trong Văn kiện Đại hội XIV, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với toàn bộ hệ thống chính trị trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành, nhằm xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực chất, hiệu lực, hiệu quả, vì Nhân dân và do Nhân dân, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

2.2. Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo, phát triển

Một trong những điểm mới có ý nghĩa đột phá được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XIV là yêu cầu đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo và phát triển, đáp ứng yêu cầu của quản trị quốc gia hiện đại trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Theo đó, pháp luật không chỉ dừng lại ở vai trò điều chỉnh, quản lý các quan hệ xã hội, mà phải thực sự trở thành công cụ kiến tạo môi trường phát triển, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.

Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo, phát triển đòi hỏi quá trình lập pháp phải xuất phát từ thực tiễn sinh động của đời sống xã hội, tôn trọng các quy luật khách quan của phát triển, bảo đảm tính ổn định, lâu dài của hệ thống pháp luật, đồng thời có đủ độ linh hoạt để kịp thời điều chỉnh, tháo gỡ những “điểm nghẽn” về thể chế đang cản trở sự phát triển. Pháp luật phải đồng hành cùng sự vận động của thực tiễn, không đi sau, không tạo thêm rào cản, mà phải mở đường, dẫn dắt và tạo động lực cho phát triển bền vững đất nước.

Văn kiện Đại hội XIV khẳng định rõ yêu cầu lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, là đối tượng phục vụ của pháp luật, coi đây là thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Mọi chính sách, quy định pháp luật khi ban hành đều phải hướng tới việc bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, bình đẳng, an toàn cho doanh nghiệp; giảm chi phí tuân thủ pháp luật; khắc phục tình trạng quy định pháp luật rườm rà, chồng chéo, thiếu khả thi. Yêu cầu này hoàn toàn thống nhất với tinh thần của Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW), đồng thời được cụ thể hóa rõ nét trong các định hướng lớn của Văn kiện Đại hội XIV[10].

Định hướng xây dựng pháp luật theo phương châm “dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện” không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật lập pháp, mà còn phản ánh sự chuyển biến quan trọng trong tư duy quản trị quốc gia, từ quản lý nặng về mệnh lệnh hành chính sang quản lý bằng pháp luật hiện đại, minh bạch và hiệu quả. Pháp luật chỉ thực sự phát huy giá trị khi được người dân, doanh nghiệp hiểu đúng, tin tưởng và tự giác tuân thủ; do đó, việc nâng cao chất lượng ngôn ngữ pháp lý, tính minh bạch, khả năng tiếp cận và tính dự báo của pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng kiến tạo, phát triển cũng đòi hỏi phải gắn chặt công tác lập pháp với tổ chức thi hành pháp luật ngay từ khâu xây dựng chính sách, coi trọng việc tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động chính sách, bảo đảm tính khả thi của quy định pháp luật khi đi vào cuộc sống. Đây là giải pháp căn cơ nhằm khắc phục tình trạng “luật khung, luật ống”, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực chất, hiệu quả và vì Nhân dân.

2.3. Tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật

Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát chặt chẽ quyền lực nhà nước bằng pháp luật, coi đây là nguyên tắc có ý nghĩa nền tảng trong tổ chức và vận hành Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Theo đó, mọi quyền lực nhà nước đều phải được phân công rõ ràng, ràng buộc bằng trách nhiệm pháp lý và được kiểm soát thông qua các cơ chế pháp lý chặt chẽ, hiệu quả, bảo đảm quyền lực được thực thi đúng mục đích, đúng thẩm quyền, vì lợi ích của Nhân dân. Nội dung này thể hiện sự kế thừa và phát triển nhất quán quan điểm của Đại hội XIII, đồng thời được đặt ra với yêu cầu cao hơn trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang quyết liệt đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với quyết tâm chính trị rất cao. Việc tăng cường kiểm soát quyền lực không chỉ nhằm ngăn ngừa lạm quyền, tha hóa quyền lực, mà còn góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, củng cố kỷ cương, phép nước và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

2.4 Xây dựng, hoàn thiện pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV

Văn kiện Đại hội XIV xác định tiếp tục hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, coi đây là điều kiện tiên quyết để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực chất. Pháp luật phải tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, bình đẳng, an toàn; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả[11]. Đặc biệt, nhấn mạnh yêu cầu gắn chặt xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật ngay từ khâu soạn thảo, coi đánh giá tác động chính sách và tổng kết thực tiễn là khâu bắt buộc, nhằm khắc phục tình trạng “luật khung, luật ống”, chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành - một hạn chế đã tồn tại trong thời gian dài.

2.5 Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thi hành pháp luật được xác định là khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước và sự thượng tôn pháp luật trong xã hội. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu coi trọng xây dựng, ban hành pháp luật sang tư duy coi trọng đồng thời cả tổ chức thi hành pháp luật, lấy kết quả thi hành pháp luật làm thước đo trực tiếp của năng lực quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động của bộ máy công quyền và mức độ phục vụ Nhân dân (Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV).

Theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật phải được triển khai đồng bộ với việc siết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính, đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện pháp luật; kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, lạm quyền, nhũng nhiễu, tiêu cực trong hoạt động công vụ, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Nhà nước và pháp luật. Đây cũng là yêu cầu xuyên suốt được đặt ra trong công tác xây dựng Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua.

Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIV xác định việc nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật phải gắn chặt với đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số, chính quyền số, xã hội số, nhằm bảo đảm công khai, minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước; qua đó tạo điều kiện thuận lợi để người dân, doanh nghiệp tiếp cận, thực hiện và giám sát việc thi hành pháp luật. Cách tiếp cận này thể hiện tư duy phát triển mới, toàn diện và hiện đại trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới.

Quan điểm này kế thừa và phát triển nhất quán đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đã được khẳng định tại Nghị quyết số 27-NQ/TW, theo đó: “Tăng cường tổ chức thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm minh, thống nhất, kịp thời; khắc phục triệt để tình trạng pháp luật ban hành nhưng chậm đi vào cuộc sống”.

2.6. Cải cách tư pháp, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIV

Cải cách tư pháp tiếp tục được xác định là một trong những trụ cột quan trọng của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, hoạt động vì công lý, lấy việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân làm mục tiêu trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được xét xử công bằng, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân đối với các cơ quan tư pháp (Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV).

Quan điểm này phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013, trong đó khẳng định rõ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 14), đồng thời bảo đảm các quyền tố tụng cơ bản như quyền được xét xử công bằng, công khai, kịp thời bởi Tòa án có thẩm quyền (Điều 102, Điều 103). Cải cách tư pháp theo tinh thần đó không chỉ hướng tới hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, mà còn nhằm nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo đảm mọi quyết định tư pháp đều được ban hành trên cơ sở pháp luật, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bảo đảm quyền con người, quyền công dân vừa là mục tiêu xuyên suốt, vừa là động lực quan trọng của sự phát triển, đồng thời là tiêu chí căn bản để đánh giá mức độ hoàn thiện của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu gắn cải cách tư pháp với xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp hiệu quả, tăng cường trách nhiệm giải trình, nâng cao đạo đức công vụ và bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ tư pháp; qua đó bảo đảm quyền con người, quyền công dân không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật, mà còn được bảo vệ thực chất, đầy đủ và hiệu quả trong thực tiễn đời sống xã hội.

3. Giải pháp và kiến nghị

Thực tiễn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Việc Hiến pháp năm 2013 được ban hành và triển khai thực hiện nghiêm túc tạo nền tảng chính trị - pháp lý - nghiệp vụ vững chắc cho quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước bằng pháp luật, đồng thời khẳng định rõ nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm. Hệ thống pháp luật từng bước được hoàn thiện theo hướng đồng bộ hơn, bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, cải cách hành chính, cải cách tư pháp được đẩy mạnh, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đạt được nhiều kết quả rõ nét, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn còn một số hạn chế, bất cập, như: Hệ thống pháp luật ở một số lĩnh vực chưa thực sự đồng bộ, thống nhất, còn tồn tại tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu ổn định; chất lượng một số văn bản quy phạm pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn; kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động công vụ có nơi, có lúc chưa nghiêm; còn tồn tại tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, sợ sai trong một bộ phận cán bộ, công chức. Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước tuy đã được quan tâm hoàn thiện, song trên thực tế chưa thực sự đồng bộ, toàn diện và hiệu quả; việc phát huy vai trò giám sát của Nhân dân trong một số lĩnh vực còn hình thức.

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc tinh thần và các định hướng lớn của Văn kiện Đại hội XIV, thời gian tới cần tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp trọng tâm nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, tạo bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực chất, hiệu lực, hiệu quả. Cụ thể:

Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi, ổn định và minh bạch, bảo đảm pháp luật thực sự trở thành công cụ quản lý xã hội hiệu quả và là chỗ dựa pháp lý tin cậy của Nhân dân và doanh nghiệp. Quá trình xây dựng pháp luật phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, coi trọng tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động chính sách, khắc phục triệt để tình trạng “luật khung, luật ống”, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết. Đặc biệt, cần gắn chặt giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật ngay từ khâu soạn thảo, coi khả năng thi hành và chi phí tuân thủ pháp luật là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng văn bản pháp luật.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật phải được xác định là nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cần chuyển mạnh từ tư duy “ban hành nhiều luật” sang tư duy “thi hành pháp luật hiệu quả”, lấy kết quả thực thi pháp luật làm thước đo trực tiếp của năng lực quản lý nhà nước. Việc siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động công vụ cần được thực hiện quyết liệt, gắn trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, lạm quyền, nhũng nhiễu, tiêu cực, bảo đảm mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp theo hướng xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, thực sự là chỗ dựa của công lý và bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Cần tăng cường chất lượng hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Cải cách tư pháp phải gắn chặt với việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp, nâng cao trách nhiệm giải trình và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ tư pháp.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật và bằng các cơ chế hiệu quả, đồng bộ, phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và báo chí. Việc bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận trong pháp luật, mà phải được hiện thực hóa thông qua các cơ chế để Nhân dân tham gia, giám sát và phản biện đối với hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thứ năm, xây dựng và thi hành pháp luật cần được gắn chặt với cải cách hành chính và chuyển đổi số quốc gia, xây dựng Chính phủ số, chính quyền số, xã hội số. Thông qua ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, cần nâng cao tính công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước, giảm chi phí tuân thủ pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận, thực hiện pháp luật. Đây là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, đồng thời tạo nền tảng vững chắc để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực chất, hiệu lực, hiệu quả trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Kết luận

Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Văn kiện Đại hội XIV đã tiếp tục khẳng định và phát triển toàn diện những quan điểm của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát triển trong giai đoạn mới[12]. Việc quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các định hướng của Đại hội XIV sẽ tạo nền tảng vững chắc để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực chất, hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đưa đất nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

(Ảnh: Internet)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thiếu tướng, PGS. TS. Nguyễn Văn Sáu (Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam), Điểm mới, sự bổ sung về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2026), https://www.qdnd.vn/tien-toi-dai-hoi-xiv-cua-dang/niem-tin-ky-vong/diem-moi-su-bo-sung-ve-tiep-tuc-day-manh-xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-1021975, truy cập ngày 08/02/2026).

2. PGS.TS. Trương Hồ Hải – TS. Đặng Viết Đạt (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Học viện Chính trị khu vực IV), Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (2023), https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-trong-giai-doan-moi, truy cập ngày 05/02/2026.

3. PGS.TS. Phạm Minh Tuấn (Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản), Đại hội XIV: Khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới với mô hình tăng trưởng nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo (2026), https://vass.gov.vn/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/dai-hoi-xiv-khoi-dau-ky-nguyen-phat-trien-moi-voi-mo-hinh-tang-truong-nhanh-va-ben-vung-dua-tren-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-554030, truy cập ngày 05/02/2026.

4. TS. Trần Công Phàn (Phó Bí thư Đảng ủy; Phó Chủ tịch thường trực Hội Luật gia Việt Nam), Nghị quyết 66-NQ/TW - Đột phá trong đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (2024), https://doanhtri.net/nghi-quyet-66-nqtw-dot-pha-trong-doi-moi-cong-tac-xay-dung-va-thi-hanh-phap-luat-dong-luc-phat-trien-dat-nuoc-trong-ky-nguyen-moi-a92791.html, truy cập ngày 05/02/2026.

5. PGS.TS. Nguyễn Tiến Đạt (Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (2025), https://lyluanchinhtri.vn/ban-chat-cua-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-cua-nhan-dan-do-nhan-dan-vi-nhan-dan-10273.html, truy cập ngày 05/02/2026.

6. PGS.TS. Đoàn Triệu Long - Nguyễn Thị Thu Trang (Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, Giám đốc Học viện Chính trị khu vực III, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và vận dụng vào quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay (2024), https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tu-tuong-ho-chi-minh-ve-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-va-van-dung-vao-quan-ly-phat-trien-xa-hoi-o-nuoc-ta-hien-nay, truy cập ngày 05/02/2026.

7. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII, XIII, XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

8. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

9. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

10. Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

11. Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW.

12. Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.

[1] https://www.qdnd.vn/tien-toi-dai-hoi-xiv-cua-dang/niem-tin-ky-vong/diem-moi-su-bo-sung-ve-tiep-tuc-day-manh-xay-dung-va-hoan-thien-nha-nuoc-phap-quyen-xa-hoi-chu-nghia-viet-nam-1021975.

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[3] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.

[4] Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[5] Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[6] https://chienthang.langson.gov.vn/tin-tuc-su-kien/kinh-te-chinh-tri/ket-qua-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-dang-cong-san-viet-nam.html.

[7] Hiến pháp năm 2013, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019.

[8] https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4519.

[9] Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị về định hướng chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV.

[10] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW.

[11] Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[12] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.

Nguyễn Văn Đức - Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Hà Tĩnh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Văn hóa kinh doanh Việt Nam - Hệ giá trị mới từ tư duy đột phá của Nghị quyết Đại hội Đảng XIV

Văn hóa kinh doanh Việt Nam - Hệ giá trị mới từ tư duy đột phá của Nghị quyết Đại hội Đảng XIV

Diễn đàn Quốc gia “Văn hóa với Doanh nghiệp” năm 2026 tổ chức nhằm góp phần cụ thể hóa tinh thần các nghị quyết chiến lược của Đảng, đặc biệt là việc định hình hệ giá trị văn hóa kinh doanh của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Bộ Tư pháp quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Bộ Tư pháp quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng

Dự thảo Chương trình hành động của Đảng ủy Bộ Tư pháp được xây dựng nhằm cụ thể hóa định hướng, nhiệm vụ, giải pháp được xác định trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, với tinh thần chung sức, đồng lòng, tự chủ, chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết 79 và Nghị quyết 80

Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết 79 và Nghị quyết 80

Sáng 25/2, tại Hà Nội, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu những chủ trương, định hướng lớn về công tác pháp luật và tư pháp trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - Điểm tựa vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội Đảng khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Đảng cùng đất nước vào Xuân - Vững tin bước vào kỷ nguyên mới

Đảng cùng đất nước vào Xuân - Vững tin bước vào kỷ nguyên mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trên con đường phát triển đất nước, khởi điểm lịch sử mới của dân tộc Việt Nam sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Để tạo nền tảng chính trị xác định tầm nhìn chiến lược và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Văn kiện Đại hội khóa XIV có nhiều điểm mới, đột phá.
Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Phát huy tinh thần, khí thế Đại hội XIV của Đảng, quyết tâm tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là nền tảng vững chắc để đẩy mạnh công tác chuẩn bị và tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, những điểm mới và yêu cầu đối với công tác bầu cử, làm rõ các nhiệm vụ trọng tâm về chuẩn bị nhân sự, công tác tuyên truyền, bảo đảm quyền của cử tri, cơ sở vật chất, hoạt động giám sát, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đồng chí Nguyễn Thị Thanh - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội khẳng định quyết tâm của Đảng ủy Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử là hành động thiết thực để triển khai kịp thời khí thế, tinh thần chỉ đạo mạnh mẽ của Nghị quyết Đại hội XIV và Chỉ thị số 01-CT/TW ngày 23/01/2026 của Bộ Chính trị.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước

Ngày 07/02/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Tổng Bí thư Tô Lâm tham dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.
Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, ngày 7/2.
Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chào mừng thành công Đại hội XIV

Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chào mừng thành công Đại hội XIV

Sáng ngày 03/02/2026, Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026) và chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Soi đường trong sự phát triển hùng cường, thịnh vượng dân tộc

Đảng Cộng sản Việt Nam: Soi đường trong sự phát triển hùng cường, thịnh vượng dân tộc

Trong 96 năm, Đảng ta nỗ lực không ngừng, bám sát tình hình thực tiễn trong nước và thế giới để ban hành các quyết sách, chiến lược đúng đắn, sáng tạo đưa cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, làm tiền đề cho những thắng lợi vĩ đại, vinh quang, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh, đời sống Nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc.
Vững bước dưới cờ Đảng

Vững bước dưới cờ Đảng

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm: "Vững bước dưới cờ Đảng"
Đồng chí Đoàn Minh Huấn giữ chức Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Đồng chí Đoàn Minh Huấn giữ chức Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao Quyết định của Bộ Chính trị phân công, bổ nhiệm đồng chí Đoàn Minh Huấn giữ chức Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
Bộ Chính trị phân công đồng chí Lê Minh Trí làm Trưởng ban Nội chính Trung ương

Bộ Chính trị phân công đồng chí Lê Minh Trí làm Trưởng ban Nội chính Trung ương

Đồng chí Lê Minh Trí, Ủy viên Bộ Chính trị khoá XIV, được phân công tham gia Bí thư Trung ương Đảng khóa XIV và phân công giữ chức Trưởng ban Nội chính Trung ương.
Bộ Chính trị phân công Ủy viên Bộ Chính trị khoá XIV tham gia Ban Bí thư khoá XIV

Bộ Chính trị phân công Ủy viên Bộ Chính trị khoá XIV tham gia Ban Bí thư khoá XIV

Ngày 30/1, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành Quyết định phân công Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIV tham gia Ban Bí thư khoá XIV (Quyết định số 05-QĐNS/TW).

Theo dõi chúng tôi trên: