Thứ năm 21/05/2026 03:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay
Đoàn Kiểm tra số 5 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội do đồng chí Vũ Đăng Định, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Hoàn Kiếm làm Trưởng đoàn làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Hạ Bằng

Vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy cấp xã hiện nay

Hoạt động lãnh đạo của Đảng không chỉ dừng ở việc đề ra nghị quyết, chỉ thị cho đúng, mà còn là tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị đó. Vì sao Đảng muốn lãnh đạo tốt thì nhất thiết phải kiểm tra, kiểm soát?

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích lý do phải thực hiện kiểm soát: “Vì ba điều mà cần phải có kiểm soát như thế: 1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu. 2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan. 3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết”[1].

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác xây dựng Đảng: “Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức"[2].

Mô hình hệ thống chính trị cấp xã, phường, đặc khu sau sáp nhập được tổ chức, sắp xếp theo hướng chuyên nghiệp, phát huy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền và sự giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Về cơ cấu tổ chức và số lượng ủy viên Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã, phường sau sáp nhập có từ 03 đến 07 ủy viên chuyên trách (do cấp ủy quyết định), Phó Bí thư hoặc Ủy viên Ban thường vụ Đảng ủy làm chủ nhiệm; từ 01 đến 02 phó chủ nhiệm (trong đó, 01 phó chủ nhiệm là cấp ủy viên)[3]. Đây là điểm mới và quan trọng trong hệ thống tổ chức bộ máy của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, vì trước đây (trước ngày 01/7/2025), Ủy ban kiểm tra cấp xã, phường hoạt động kiêm nhiệm, quy mô nhỏ, thẩm quyền hạn chế. Ủy ban kiểm tra cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp trở thành cấp kiểm tra nền tảng, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đối với các chi bộ, đảng viên, cán bộ, công chức thuộc diện Ban chấp hành, Ban thường vụ Đảng ủy xã, phường quản lý trong thực thi công vụ, “vai trò kiểm tra, giám sát của Đảng ở cấp xã trở nên vô cùng quan trọng”.

Có thể khẳng định chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã, phường, đặc khu trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp được hoàn thiện theo hướng đầy đủ, rõ về chức năng, nhiệm vụ. Nhiệm vụ mới của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã, phường thể hiện rõ tính hệ thống, đầy đủ trong tổ chức công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống kiểm tra của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Đặc biệt, cấp xã, phường mới là đơn vị hành chính gần dân, sát dân nhất, đồng thời phụ trách nhiều lĩnh vực công tác quan trọng, dễ phát sinh sai phạm, như kinh tế, đất đai, nông nghiệp, nông thôn, tài nguyên, môi trường… Do đó, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cần được thực hiện chặt chẽ, chủ động và nghiêm minh, tạo nền tảng vững chắc để mô hình chính quyền địa phương hai cấp tiếp tục vận hành nền nếp, thống nhất, hiệu quả. Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ ngành kiểm tra của Đảng tại cấp xã, phường trong giai đoạn mới.

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay
Đoàn giám sát số 15 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội do Trung tướng Nguyễn Thanh Tùng - Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Thường vụ Đảng ủy xã Sóc Sơn.

Một số quy định cơ bản về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy cấp xã hiện nay

Những văn bản mang tính đột phá về công tác kiểm tra, giám sát hiện nay như:

- Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Nghị quyết nhấn mạnh việc chuyển trọng tâm từ “xử lý hậu quả” sang “giám sát phòng ngừa” và “kiểm soát quyền lực” một cách chủ động

- Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đây là văn bản mới nhất của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, thay thế Quy định số 296-QĐ/TW ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Quy định số 21-QĐ/TW nhấn mạnh việc “giám sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm” và siết chặt kiểm soát quyền lực ngay tại cấp cơ sở. Điểm mới là tăng cường quyền hạn cho Ủy ban kiểm tra các cấp trong việc đình chỉ sinh hoạt Đảng đối với cán bộ có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng mà không cần đợi kết luận cuối cùng. Điều 3 Quy định số 21-QĐ/TW có nêu:

“1. Ủy ban kiểm tra là tổ chức đảng, được lập từ Đảng ủy cơ sở trở lên, do cấp ủy cung cấp bầu hoặc Ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định (trong trường hợp tổ chức đảng thành lập mới, do chia tách, hợp nhất, sáp nhập về tổ chức, thực hiện công tác luân chuyển cán bộ ngành kiểm tra đảng), gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy, các thành viên ủy ban hoạt động chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.

2. Cơ quan Ủy ban kiểm tra là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban kiểm tra cùng cấp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng và thực hiện các nhiệm vụ do cấp ủy, Ban thường vụ cấp ủy cùng cấp giao; đồng thời, là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của cấp ủy và Ủy ban kiểm tra.

3. Kiểm tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm (nếu có) của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

4. Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng quan sát, theo dõi, nắm bắt, xem xét, đánh giá, kết luận hoạt động nhằm kịp thời nhắc nhở để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm, vi phạm (nếu có). Hình thức giám sát bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề; giám sát chuyên đề khi cần thiết thì thực hiện thẩm tra, xác minh”.

- Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay
Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Trưởng đoàn kiểm tra số 12 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội chủ trì Hội nghị công bố Quyết định kiểm tra đối với Đảng ủy các phường Đống Đa và Kim Liên

Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát tại Hà Nội (đánh giá tại một số xã, phường)

Quan điểm: “Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng phải được tiến hành chủ động, kịp thời, toàn diện, đồng bộ, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh theo đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác đảng. Tăng cường giám sát thường xuyên, giám sát ngay từ đầu góp phần bảo đảm triển khai thực hiện các chủ trương, quyết sách... Kiểm tra, giám sát phải góp phần kiến tạo, thúc đẩy phát triển, phát hiện và bảo vệ những nhân tố mới tích cực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”[4]. Theo báo cáo từ đợt giám sát cuối năm 2025 của Thành ủy Hà Nội đối với 126 xã, phường (thực hiện bởi 20 đoàn giám sát), thực trạng cho thấy sự chuyển biến rõ rệt:

Về số lượng: Trong năm 2025, cấp ủy và Ủy ban kiểm tra các cấp tại Hà Nội đã tăng cường giám sát chuyên đề đối với các “điểm nóng”. Riêng tại cấp xã, tỷ lệ đảng viên được giám sát thường xuyên tăng khoảng 15% so với giai đoạn trước sáp nhập. Hiện nay, đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát khoảng 780 đồng chí. Cùng với đó là hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cũng như nhân dân.

Về nội dung: Tập trung vào 08 chuyên đề cấp bách:

- Giải ngân đầu tư công và giải phóng mặt bằng (chiếm tỷ trọng lớn trong các kết luận vi phạm). Giám sát các dự án đầu tư công quy mô nhỏ do cấp xã làm chủ đầu tư hoặc được ủy quyền quản lý. Giám sát chất lượng thi công, tiến độ các công trình, tính minh bạch trong đấu thầu...

- Trật tự đô thị và quản lý đất đai tại các xã đang lên phường (như các khu vực tại huyện Đông Anh, Gia Lâm cũ) đặc biệt là hoạt động xây dựng trên đất nông nghiệp. Nội dung kiểm tra, giám sát việc cấp giấy phép xây dựng, xử lý các công trình vi phạm trên đất nông nghiệp, đặc biệt là các dải đất ven sông Hồng, sông Đuống.

- Chuyển đổi số, triển khai Đề án 06 và cải cách hành chính qua ứng dụng iHanoi.

- Kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ: Tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; việc thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức.

- Công tác phòng cháy, chữa cháy đối với các chung cư mini, nhà trọ, nhà ở kết hợp sản xuất kinh doanh.

- Quản lý trật tự đô thị, lòng đường và vỉa hè. Nội dung giám sát là hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo 197 tại cấp xã, phường; việc xử lý dứt điểm các điểm trông giữ xe trái phép, lấn chiếm kinh doanh.

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân của người đứng đầu. Trách nhiệm trực tiếp tiếp dân của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã/phường; tỷ lệ giải quyết đơn thu đúng hạn, chất lượng, hiệu quả đối thoại với nhân dân.

- Thực hiện mô hình chính quyền đô thị và phân cấp, ủy quyền. Thực hiện giám sát những nhiệm vụ theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025. Ngoài ra còn thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại các văn bản pháp lý như: Hiến pháp năm 2013[5], Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, Luật Đất đai năm 2024… và các luật chuyên ngành quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực cụ thể tại địa phương, nghị định hướng dẫn thi hành.

Một số hạn chế còn tồn tại

Dù quy định đã rõ, nhưng tại các xã/phường sau sáp nhập, công tác này vẫn gặp “nút thắt” như:

- Áp lực “hậu sáp nhập”: Khi sáp nhập hai đơn vị, diện tích và dân số tăng gấp đôi nhưng bộ máy Ủy ban kiểm tra Đảng ủy vẫn giữ nguyên (thường là 03 - 05 người kiêm nhiệm). Điều này dẫn đến tình trạng “quá tải cơ học”.

- 70% cán bộ kiểm tra cấp xã mới chưa từng công tác hoặc được đào tạo liên quan đến công tác kiểm tra của Đảng, còn lúng túng trong thực hiện nhiệm vụ; một số cán bộ địa bàn chưa thật sự chủ động về phương pháp nắm tình hình, giám sát chưa sâu, chưa đề xuất được các kiến nghị, giải pháp đóng góp cho đơn vị.

- Khoảng trống giám sát tại các phường: Do không còn Hội đồng nhân dân phường, Đảng ủy là chủ thể giám sát duy nhất đối với Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên, năng lực phản biện của một bộ phận cấp ủy viên còn yếu, dẫn đến tình trạng “giám sát nhưng không thấy sai phạm” hoặc nể nang vì cùng là đồng nghiệp trong một đơn vị nhỏ.

- Một số nơi, công tác kiểm tra, giám sát chưa chủ động phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. Công tác nắm tình hình địa bàn có nơi có lúc còn hạn chế; tại một số đơn vị còn để xảy ra vi phạm về đất đai, lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp, vi phạm trật tự xây dựng, cá biệt có vụ việc cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ hình sự để xử lý.

- Số liệu kỷ luật vẫn tập trung vào lỗi đơn giản: Phần lớn các đảng viên bị kỷ luật ở cấp xã vẫn xoay quanh vi phạm chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình hoặc thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ (lỗi hành chính), chưa đi sâu vào các vi phạm phức tạp về kinh tế, đầu tư công hay tham nhũng vặt.

Một số giải pháp đặt ra

Để thích ứng với quy định mới, thành phố Hà Nội cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, chuyên môn hóa cán bộ kiểm tra cấp xã. Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra không chỉ có trình độ chuyên môn vững vàng, nghiệp vụ thuần thục mà cần phải có nhiều kỹ năng mềm khác theo yêu cầu phức tạp của công việc hiện nay như thành thạo công nghệ, khả năng giám sát trên môi trường số, kỹ năng dân vận. Cán bộ kiểm tra phải “vừa hồng vừa chuyên”, “bản lĩnh nghề nghiệp” phải được đặt ngang hàng với “sự liêm chính”.

Hai là, giám sát thông qua “dữ liệu số”. Tích hợp kết quả phản ánh từ ứng dụng iHanoi vào tiêu chí đánh giá cán bộ. Nếu một phường liên tục bị phản ánh về trật tự đô thị mà Đảng ủy không có cuộc kiểm tra nào, Ủy ban kiểm tra cấp trên cần truy cứu trách nhiệm “buông lỏng giám sát” của Đảng ủy đó.

Ba là, phát huy vai trò giám sát của cộng đồng. Xây dựng cơ chế phối hợp thực chất giữa Ủy ban kiểm tra Đảng ủy với Ban Thanh tra nhân dân. Xây dựng biên bản giám sát các công trình đầu tư tại cộng đồng.

Bốn là, áp dụng quy tắc “Bảo vệ cán bộ” theo Quy định số 117-QĐ/TW ngày 18/8/2023 của Ban Chấp hnahf Trung ương về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Khuyến khích các mô hình kiểm tra mới, đột xuất. Bảo vệ những cán bộ kiểm tra dám chỉ ra sai phạm của người đứng đầu địa phương mà không sợ bị “trù dập” trong quá trình quy hoạch cán bộ sau này. Việc đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ là để “xử lý vi phạm” mà quan trọng hơn là để cảnh báo, phòng ngừa, bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô sau khi tinh gọn vẫn hoạt động liêm chính và hiệu quả.

Năm là, thực hiện giám sát lại kết quả giám sát. Sau khi thực hiện giám sát, ban hành biên bản và đề xuất, kiến nghị thực hiện. Trong quá trình thực hiện tiếp tục giám sát để đạt hiệu quả tốt nhất./.


  1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.14, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.327.

  2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.14, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.362.

  3. Ban Chấp hành Trung ương: Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/04/2026, Điều 7, mục 2.6

  4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.

  5. Được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

ThS. Đặng Thị Loan - Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: