Thứ hai 05/10/2026 07:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay
Đoàn Kiểm tra số 5 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội do đồng chí Vũ Đăng Định, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân phường Hoàn Kiếm làm Trưởng đoàn làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy xã Hạ Bằng

Vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy cấp xã hiện nay

Hoạt động lãnh đạo của Đảng không chỉ dừng ở việc đề ra nghị quyết, chỉ thị cho đúng, mà còn là tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị đó. Vì sao Đảng muốn lãnh đạo tốt thì nhất thiết phải kiểm tra, kiểm soát?

Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích lý do phải thực hiện kiểm soát: “Vì ba điều mà cần phải có kiểm soát như thế: 1. Có kiểm soát như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu. 2. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các cơ quan. 3. Mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết”[1].

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác xây dựng Đảng: “Vì kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức"[2].

Mô hình hệ thống chính trị cấp xã, phường, đặc khu sau sáp nhập được tổ chức, sắp xếp theo hướng chuyên nghiệp, phát huy rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền và sự giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Về cơ cấu tổ chức và số lượng ủy viên Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã, phường sau sáp nhập có từ 03 đến 07 ủy viên chuyên trách (do cấp ủy quyết định), Phó Bí thư hoặc Ủy viên Ban thường vụ Đảng ủy làm chủ nhiệm; từ 01 đến 02 phó chủ nhiệm (trong đó, 01 phó chủ nhiệm là cấp ủy viên)[3]. Đây là điểm mới và quan trọng trong hệ thống tổ chức bộ máy của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, vì trước đây (trước ngày 01/7/2025), Ủy ban kiểm tra cấp xã, phường hoạt động kiêm nhiệm, quy mô nhỏ, thẩm quyền hạn chế. Ủy ban kiểm tra cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp trở thành cấp kiểm tra nền tảng, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát đối với các chi bộ, đảng viên, cán bộ, công chức thuộc diện Ban chấp hành, Ban thường vụ Đảng ủy xã, phường quản lý trong thực thi công vụ, “vai trò kiểm tra, giám sát của Đảng ở cấp xã trở nên vô cùng quan trọng”.

Có thể khẳng định chức năng, nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã, phường, đặc khu trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp được hoàn thiện theo hướng đầy đủ, rõ về chức năng, nhiệm vụ. Nhiệm vụ mới của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy xã, phường thể hiện rõ tính hệ thống, đầy đủ trong tổ chức công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống kiểm tra của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Đặc biệt, cấp xã, phường mới là đơn vị hành chính gần dân, sát dân nhất, đồng thời phụ trách nhiều lĩnh vực công tác quan trọng, dễ phát sinh sai phạm, như kinh tế, đất đai, nông nghiệp, nông thôn, tài nguyên, môi trường… Do đó, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cần được thực hiện chặt chẽ, chủ động và nghiêm minh, tạo nền tảng vững chắc để mô hình chính quyền địa phương hai cấp tiếp tục vận hành nền nếp, thống nhất, hiệu quả. Điều này cũng đặt ra yêu cầu đối với việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ ngành kiểm tra của Đảng tại cấp xã, phường trong giai đoạn mới.

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay
Đoàn giám sát số 15 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội do Trung tướng Nguyễn Thanh Tùng - Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Thường vụ Đảng ủy xã Sóc Sơn.

Một số quy định cơ bản về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ủy cấp xã hiện nay

Những văn bản mang tính đột phá về công tác kiểm tra, giám sát hiện nay như:

- Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng. Nghị quyết nhấn mạnh việc chuyển trọng tâm từ “xử lý hậu quả” sang “giám sát phòng ngừa” và “kiểm soát quyền lực” một cách chủ động

- Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Đây là văn bản mới nhất của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng, thay thế Quy định số 296-QĐ/TW ngày 30/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng. Quy định số 21-QĐ/TW nhấn mạnh việc “giám sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm” và siết chặt kiểm soát quyền lực ngay tại cấp cơ sở. Điểm mới là tăng cường quyền hạn cho Ủy ban kiểm tra các cấp trong việc đình chỉ sinh hoạt Đảng đối với cán bộ có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng mà không cần đợi kết luận cuối cùng. Điều 3 Quy định số 21-QĐ/TW có nêu:

“1. Ủy ban kiểm tra là tổ chức đảng, được lập từ Đảng ủy cơ sở trở lên, do cấp ủy cung cấp bầu hoặc Ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định (trong trường hợp tổ chức đảng thành lập mới, do chia tách, hợp nhất, sáp nhập về tổ chức, thực hiện công tác luân chuyển cán bộ ngành kiểm tra đảng), gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy, các thành viên ủy ban hoạt động chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.

2. Cơ quan Ủy ban kiểm tra là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban kiểm tra cùng cấp thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng theo quy định của Điều lệ Đảng và thực hiện các nhiệm vụ do cấp ủy, Ban thường vụ cấp ủy cùng cấp giao; đồng thời, là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của cấp ủy và Ủy ban kiểm tra.

3. Kiểm tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm (nếu có) của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

4. Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng quan sát, theo dõi, nắm bắt, xem xét, đánh giá, kết luận hoạt động nhằm kịp thời nhắc nhở để cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và khắc phục, sửa chữa hạn chế, khuyết điểm, vi phạm (nếu có). Hình thức giám sát bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề; giám sát chuyên đề khi cần thiết thì thực hiện thẩm tra, xác minh”.

- Quy định số 131-QĐ/TW ngày 27/10/2023 của Ban Chấp hành Trung ương về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán.

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay
Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Xuân Lưu, Trưởng đoàn kiểm tra số 12 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội chủ trì Hội nghị công bố Quyết định kiểm tra đối với Đảng ủy các phường Đống Đa và Kim Liên

Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát tại Hà Nội (đánh giá tại một số xã, phường)

Quan điểm: “Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng phải được tiến hành chủ động, kịp thời, toàn diện, đồng bộ, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh theo đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác đảng. Tăng cường giám sát thường xuyên, giám sát ngay từ đầu góp phần bảo đảm triển khai thực hiện các chủ trương, quyết sách... Kiểm tra, giám sát phải góp phần kiến tạo, thúc đẩy phát triển, phát hiện và bảo vệ những nhân tố mới tích cực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”[4]. Theo báo cáo từ đợt giám sát cuối năm 2025 của Thành ủy Hà Nội đối với 126 xã, phường (thực hiện bởi 20 đoàn giám sát), thực trạng cho thấy sự chuyển biến rõ rệt:

Về số lượng: Trong năm 2025, cấp ủy và Ủy ban kiểm tra các cấp tại Hà Nội đã tăng cường giám sát chuyên đề đối với các “điểm nóng”. Riêng tại cấp xã, tỷ lệ đảng viên được giám sát thường xuyên tăng khoảng 15% so với giai đoạn trước sáp nhập. Hiện nay, đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát khoảng 780 đồng chí. Cùng với đó là hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cũng như nhân dân.

Về nội dung: Tập trung vào 08 chuyên đề cấp bách:

- Giải ngân đầu tư công và giải phóng mặt bằng (chiếm tỷ trọng lớn trong các kết luận vi phạm). Giám sát các dự án đầu tư công quy mô nhỏ do cấp xã làm chủ đầu tư hoặc được ủy quyền quản lý. Giám sát chất lượng thi công, tiến độ các công trình, tính minh bạch trong đấu thầu...

- Trật tự đô thị và quản lý đất đai tại các xã đang lên phường (như các khu vực tại huyện Đông Anh, Gia Lâm cũ) đặc biệt là hoạt động xây dựng trên đất nông nghiệp. Nội dung kiểm tra, giám sát việc cấp giấy phép xây dựng, xử lý các công trình vi phạm trên đất nông nghiệp, đặc biệt là các dải đất ven sông Hồng, sông Đuống.

- Chuyển đổi số, triển khai Đề án 06 và cải cách hành chính qua ứng dụng iHanoi.

- Kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ: Tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm; việc thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức.

- Công tác phòng cháy, chữa cháy đối với các chung cư mini, nhà trọ, nhà ở kết hợp sản xuất kinh doanh.

- Quản lý trật tự đô thị, lòng đường và vỉa hè. Nội dung giám sát là hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo 197 tại cấp xã, phường; việc xử lý dứt điểm các điểm trông giữ xe trái phép, lấn chiếm kinh doanh.

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân của người đứng đầu. Trách nhiệm trực tiếp tiếp dân của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã/phường; tỷ lệ giải quyết đơn thu đúng hạn, chất lượng, hiệu quả đối thoại với nhân dân.

- Thực hiện mô hình chính quyền đô thị và phân cấp, ủy quyền. Thực hiện giám sát những nhiệm vụ theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025. Ngoài ra còn thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại các văn bản pháp lý như: Hiến pháp năm 2013[5], Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, Luật Đất đai năm 2024… và các luật chuyên ngành quy định nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực cụ thể tại địa phương, nghị định hướng dẫn thi hành.

Một số hạn chế còn tồn tại

Dù quy định đã rõ, nhưng tại các xã/phường sau sáp nhập, công tác này vẫn gặp “nút thắt” như:

- Áp lực “hậu sáp nhập”: Khi sáp nhập hai đơn vị, diện tích và dân số tăng gấp đôi nhưng bộ máy Ủy ban kiểm tra Đảng ủy vẫn giữ nguyên (thường là 03 - 05 người kiêm nhiệm). Điều này dẫn đến tình trạng “quá tải cơ học”.

- 70% cán bộ kiểm tra cấp xã mới chưa từng công tác hoặc được đào tạo liên quan đến công tác kiểm tra của Đảng, còn lúng túng trong thực hiện nhiệm vụ; một số cán bộ địa bàn chưa thật sự chủ động về phương pháp nắm tình hình, giám sát chưa sâu, chưa đề xuất được các kiến nghị, giải pháp đóng góp cho đơn vị.

- Khoảng trống giám sát tại các phường: Do không còn Hội đồng nhân dân phường, Đảng ủy là chủ thể giám sát duy nhất đối với Ủy ban nhân dân. Tuy nhiên, năng lực phản biện của một bộ phận cấp ủy viên còn yếu, dẫn đến tình trạng “giám sát nhưng không thấy sai phạm” hoặc nể nang vì cùng là đồng nghiệp trong một đơn vị nhỏ.

- Một số nơi, công tác kiểm tra, giám sát chưa chủ động phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. Công tác nắm tình hình địa bàn có nơi có lúc còn hạn chế; tại một số đơn vị còn để xảy ra vi phạm về đất đai, lấn chiếm đất công, xây dựng trái phép trên đất nông nghiệp, vi phạm trật tự xây dựng, cá biệt có vụ việc cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ hình sự để xử lý.

- Số liệu kỷ luật vẫn tập trung vào lỗi đơn giản: Phần lớn các đảng viên bị kỷ luật ở cấp xã vẫn xoay quanh vi phạm chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình hoặc thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ (lỗi hành chính), chưa đi sâu vào các vi phạm phức tạp về kinh tế, đầu tư công hay tham nhũng vặt.

Một số giải pháp đặt ra

Để thích ứng với quy định mới, thành phố Hà Nội cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Một là, chuyên môn hóa cán bộ kiểm tra cấp xã. Đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra không chỉ có trình độ chuyên môn vững vàng, nghiệp vụ thuần thục mà cần phải có nhiều kỹ năng mềm khác theo yêu cầu phức tạp của công việc hiện nay như thành thạo công nghệ, khả năng giám sát trên môi trường số, kỹ năng dân vận. Cán bộ kiểm tra phải “vừa hồng vừa chuyên”, “bản lĩnh nghề nghiệp” phải được đặt ngang hàng với “sự liêm chính”.

Hai là, giám sát thông qua “dữ liệu số”. Tích hợp kết quả phản ánh từ ứng dụng iHanoi vào tiêu chí đánh giá cán bộ. Nếu một phường liên tục bị phản ánh về trật tự đô thị mà Đảng ủy không có cuộc kiểm tra nào, Ủy ban kiểm tra cấp trên cần truy cứu trách nhiệm “buông lỏng giám sát” của Đảng ủy đó.

Ba là, phát huy vai trò giám sát của cộng đồng. Xây dựng cơ chế phối hợp thực chất giữa Ủy ban kiểm tra Đảng ủy với Ban Thanh tra nhân dân. Xây dựng biên bản giám sát các công trình đầu tư tại cộng đồng.

Bốn là, áp dụng quy tắc “Bảo vệ cán bộ” theo Quy định số 117-QĐ/TW ngày 18/8/2023 của Ban Chấp hnahf Trung ương về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan. Khuyến khích các mô hình kiểm tra mới, đột xuất. Bảo vệ những cán bộ kiểm tra dám chỉ ra sai phạm của người đứng đầu địa phương mà không sợ bị “trù dập” trong quá trình quy hoạch cán bộ sau này. Việc đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ là để “xử lý vi phạm” mà quan trọng hơn là để cảnh báo, phòng ngừa, bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô sau khi tinh gọn vẫn hoạt động liêm chính và hiệu quả.

Năm là, thực hiện giám sát lại kết quả giám sát. Sau khi thực hiện giám sát, ban hành biên bản và đề xuất, kiến nghị thực hiện. Trong quá trình thực hiện tiếp tục giám sát để đạt hiệu quả tốt nhất./.


  1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.14, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.327.

  2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.14, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.362.

  3. Ban Chấp hành Trung ương: Quy định số 21-QĐ/TW ngày 11/04/2026, Điều 7, mục 2.6

  4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV: Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.

  5. Được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

ThS. Đặng Thị Loan - Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.

Theo dõi chúng tôi trên: