Thứ tư 05/08/2026 11:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.

Từ khóa: phổ biến, giáo dục pháp luật; nhu cầu pháp lý; trợ giúp pháp lý; tiếp cận pháp luật; dự thảo luật.

Nhận bài: 23/5/2026 Hoàn thành biên tập: 30/7/2026 Duyệt đăng: 01/8/2026

IMPROVING THE LAW ON LEGAL DISSEMINATION AND EDUCATION - THE NEED TO SHIFT FROM FORMAL PROPAGANDA TO A NEEDS-BASED APPROACH FOR THE PEOPLE

Abstract: The amendment of the 2012 Law on Legal Dissemination and Education is necessary to address the issue of formal propaganda that is not closely linked to the legal issues that people actually need support with. This study analyzes the gap between the principle of relevance to needs and the mechanisms for identifying, reflecting, responding to, and measuring legal needs in the draft Law on Legal Dissemination and Education (the draft Law). Based on normative analysis, policy commentary, and an interdisciplinary approach to legal needs, legal capacity, and access to justice, the study focuses on regulations concerning the principles, content, form, guidance and legal explanations, specific target groups, legal education in educational institutions, responsibilities for implementation, mechanisms at the commune level, digital transformation, and effectiveness evaluation. The research results show that the draft Law has many positive directions but lacks mechanisms for surveying needs, designing content based on situations, referring legal support services, and assessing the ability to understand and apply the law. Based on this, the study proposes improvements to mechanisms that ensure a needscentered approach to the legal needs of citizens.

Keywords: Legal dissemination and education; legal needs; legal aid; access to law; draft law.

Article received: 23/5/2026 Editing completed: 30/7/2026 Approvedfor publication: 01/8/2026

Đặt vấn đề

Phổ biến, giáo dục pháp luật là phương thức quan trọng để đưa pháp luật vào đời sống, giúp cá nhân, tổ chức nhận biết, hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lựa chọn cách xử sự phù hợp, đúng quy định. Trong bối cảnh sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, yêu cầu đặt ra không chỉ cập nhật nội dung, hình thức và công nghệ truyền tải, mà cần phải khắc phục cách làm thiên về kế hoạch, số lượng hoạt động và văn bản cần tuyên truyền, chưa xuất phát đầy đủ từ nhu cầu pháp lý thực tế của người dân, doanh nghiệp và cộng đồng[2].

Dự thảo Luật đã ghi nhận yêu cầu phù hợp với nhu cầu, đặc điểm, văn hóa, ngôn ngữ của từng đối tượng. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa quy định đầy đủ phương thức xác định nhu cầu, trách nhiệm khảo sát, cách sử dụng kết quả khảo sát và tiêu chí đánh giá mức độ đáp ứng. Khoảng trống này có thể làm giảm hiệu quả của những định hướng đổi mới, bởi hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chỉ thực chất khi người dân tiếp cận được thông tin cần thiết, hiểu đúng và có khả năng vận dụng vào tình huống cụ thể.

Nghiên cứu đánh giá các quy định liên quan trực tiếp đến việc nhận diện, phản ánh, đáp ứng và đo lường nhu cầu pháp lý, gồm nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và lý thuyết về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện theo từng nhóm quy định[3].

1. Cơ sở của tiếp cận phổ biến, giáo dục pháp luật dựa trên nhu cầu

Nhu cầu pháp lý của người dân là căn cứ quan trọng để xác định nội dung, hình thức và nguồn lực phổ biến, giáo dục pháp luật. Tiếp cận dựa trên nhu cầu không đồng nghĩa với việc giải quyết mọi yêu cầu cá biệt trong khuôn khổ phổ biến, giáo dục pháp luật. Cách tiếp cận này đòi hỏi cơ quan có trách nhiệm phải nhận diện nhóm đối tượng, năng lực tiếp nhận thông tin, vấn đề pháp lý thường gặp và mức độ hỗ trợ cần thiết trước khi tổ chức hoạt động.

Các nghiên cứu về “năng lực pháp lý” cho thấy, việc cung cấp thông tin pháp luật chỉ có ý nghĩa khi người dân có khả năng nhận diện vấn đề của mình là vấn đề pháp lý, biết tìm nguồn hỗ trợ đáng tin cậy và có đủ kỹ năng tối thiểu để sử dụng thông tin đó trên thực tế[4].

Về lý luận và thực tiễn, cách tiếp cận này mang lại ba giá trị: (i) khắc phục tình trạng không cân xứng thông tin giữa cơ quan nhà nước và người dân, khi nội dung phổ biến không phải lúc nào cũng đáp ứng đúng nhu cầu pháp lý thực tế; (ii) nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công, tránh các hoạt động phổ biến ít khả năng ứng dụng trên thực tế; (iii) giảm chi phí tuân thủ, hạn chế rủi ro vi phạm và nâng cao văn hóa tuân thủ pháp luật cho người dân. Vì vậy, nội dung và cách thức phổ biến cần có trọng tâm, phù hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn, lĩnh vực và vấn đề pháp lý nổi cộm trong thực tiễn[5].

Do đó, nhu cầu pháp lý không nên chỉ là tiêu chí định hướng mà cần trở thành căn cứ xuyên suốt quá trình xây dựng kế hoạch, lựa chọn nội dung, hình thức, tổ chức thực hiện và đánh giá hiệu quả. Sự thay đổi này giúp chuyển trọng tâm từ cung cấp thông tin theo khả năng của cơ quan nhà nước sang hỗ trợ người dân tiếp cận và sử dụng pháp luật.

2. Một số vấn đề còn tồn tại của dự thảo Luật

Từ cách tiếp cận trên, nghiên cứu tập trung vào các quy định quyết định khả năng chuyển hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật từ truyền đạt văn bản sang hỗ trợ người dân tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật theo nhu cầu thực tế.

Thứ nhất, quy định về nguyên tắc, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự lấy nhu cầu pháp lý làm căn cứ xuyên suốt trong tổ chức thực hiện

Quyền của người dân và các nguyên tắc tổ chức thực hiện định hướng toàn bộ dự thảo Luật, do đó, cần được quy định cụ thể để có thể chuyển hóa thành trách nhiệm cụ thể của cơ quan, tổ chức. Điều 2 dự thảo Luật ghi nhận quyền của công dân được tiếp cận, thụ hưởng và tham gia các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách. Điều 5 quy định hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phải kịp thời, chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, công khai, minh bạch; đồng thời, yêu cầu nội dung, hình thức phải phù hợp với đặc điểm, nhu cầu, văn hóa, ngôn ngữ của từng đối tượng và vùng miền. Quy định này phù hợp với định hướng lấy người dân làm trung tâm nhưng chưa xác định phương thức nhận diện nhu cầu pháp lý, chủ thể có trách nhiệm khảo sát, cách sử dụng kết quả khảo sát và giá trị của kết quả đó trong xây dựng kế hoạch. Nếu thiếu cơ chế thực hiện, yêu cầu “phù hợp với nhu cầu” có nguy cơ dừng ở nguyên tắc chung, trong khi hoạt động thực tế chủ yếu bám theo văn bản mới và kế hoạch hành chính.

Về nội dung và hình thức phổ biến hiện còn thiên về liệt kê, chưa thiết kế theo tình huống pháp lý. Việc lấy nhu cầu pháp lý làm trung tâm phải được thể hiện trực tiếp trong cách lựa chọn nội dung và hình thức, bảo đảm thông tin pháp luật có thể được tiếp nhận và sử dụng trong những tình huống cụ thể. Điều 10 dự thảo Luật quy định nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật gồm Hiến pháp, bộ luật, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác; điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; thông tin về gương người tốt, việc tốt trong tổ chức thi hành pháp luật và các nội dung khác phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước. Điều 11 quy định các hình thức thực hiện, gồm cổng, trang thông tin điện tử, báo chí, phương tiện thông tin đại chúng; hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo; hướng dẫn, giải đáp pháp luật; hoạt động tố tụng, tổ chức thi hành pháp luật và các hình thức khác theo quy định. Như vậy, Điều 10 và Điều 11 xác định tương đối rộng nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, gồm cả môi trường số, mạng xã hội và công nghệ mới. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu xác định nguồn thông tin và kênh truyền tải, chưa đặt ra yêu cầu chuyển hóa quy phạm thành tình huống pháp lý thường gặp. Người dân thường tìm hiểu pháp luật từ những vấn đề cụ thể như nợ lương, thu hồi đất, xử phạt hành chính, lừa đảo trực tuyến hoặc tranh chấp hợp đồng. Vì vậy, nội dung phổ biến cần được tổ chức theo vấn đề, nhóm đối tượng và hành động pháp lý có thể thực hiện sau khi tiếp nhận thông tin. Kết quả về giáo dục pháp luật công cộng cho thấy, các chương trình phổ biến pháp luật sẽ hiệu quả hơn khi thông tin được cá thể hóa theo nhóm đối tượng, trình bày bằng ngôn ngữ dễ hiểu và gắn với hành động pháp lý mà người dân có thể thực hiện sau khi tiếp nhận thông tin[6]. Thực tiễn thi hành cho thấy, nhu cầu gắn nội dung phổ biến với từng nhóm đối tượng và tình huống xã hội, đồng thời, duy trì quy định mở để kịp thời bổ sung những vấn đề phát sinh. Đây là căn cứ thực tiễn cho việc chuyển từ phổ biến theo danh mục văn bản sang phổ biến theo vấn đề pháp lý mà người dân cần giải quyết[7].

Thứ hai, quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đối tượng đặc thù và trong cơ sở giáo dục chưa gắn đầy đủ với nhu cầu của từng nhóm đối tượng và yêu cầu kết nối với thực tiễn.

Đối với đối tượng đặc thù, việc xác định phạm vi đối tượng cần được gắn với yêu cầu đánh giá nhu cầu pháp lý và khả năng tiếp nhận thông tin pháp luật của từng nhóm. Điều 16 dự thảo Luật xác định tám nhóm đối tượng đặc thù, gồm người dân tộc thiểu số, người cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, một số nhóm người lao động, người bị bạo lực, nạn nhân mua bán người, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo, người cao tuổi, người đang chấp hành hình phạt hoặc biện pháp xử lý hành chính và các đối tượng khác gặp khó khăn trong tiếp cận pháp luật. Trên cơ sở đó, Điều 17 quy định nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phải được thiết kế phù hợp với nhu cầu, trình độ, hoàn cảnh và ngôn ngữ của từng nhóm đối tượng; Điều 18 quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức có liên quan và người sử dụng lao động trong tổ chức thực hiện.

Các quy định trên đã phản ánh sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng, tuy nhiên, tiêu chí phân loại vẫn chủ yếu dựa trên điều kiện xã hội, nơi cư trú hoặc mức độ dễ bị tổn thương mà chưa chú trọng đầy đủ đến nhu cầu pháp lý và năng lực tiếp nhận thông tin của từng nhóm. Trên thực tế, nhu cầu pháp lý còn chịu tác động của nhiều yếu tố như trình độ hiểu biết pháp luật, khả năng đọc hiểu, nghề nghiệp, điều kiện sử dụng công nghệ, ngôn ngữ và những rủi ro pháp lý thường gặp. Theo đó, có thể phân tầng nhu cầu tiếp nhận thông tin pháp luật thành các nhóm như: (i) người có chuyên môn cần cập nhật chính sách, kỹ thuật áp dụng pháp luật và thực tiễn thi hành; (ii) người có trình độ hiểu biết pháp luật ở mức trung bình cần được hướng dẫn theo vị trí việc làm và các tình huống nghiệp vụ; (iii) người có hiểu biết pháp luật còn hạn chế cần được cung cấp thông tin ngắn gọn, dễ hiểu, gắn với quyền, nghĩa vụ và thủ tục pháp lý cơ bản; (iv) người khó tự tiếp cận pháp luật cần được hỗ trợ trực tiếp thông qua ngôn ngữ đơn giản, tài liệu bằng hình ảnh, âm thanh, phiên dịch hoặc sự hỗ trợ của người có uy tín và các thiết chế cộng đồng. Ngay trong cùng một nhóm đối tượng, khả năng tiếp nhận thông tin pháp luật cũng không đồng nhất, chẳng hạn, công nhân trực tiếp sản xuất có nhu cầu pháp lý khác với cán bộ quản lý, người làm công tác nhân sự hoặc công đoàn; sinh viên luật có nhu cầu khác với sinh viên không chuyên luật; mỗi dạng khuyết tật cũng đòi hỏi phương thức tiếp cận thông tin khác nhau. Vì vậy, việc xác định đối tượng đặc thù cần được gắn với yêu cầu đánh giá nhu cầu pháp lý và năng lực tiếp nhận của từng nhóm để bảo đảm việc lựa chọn nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp hơn với thực tiễn.

Đối với giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, dự thảo Luật đã bước đầu tạo lập cơ sở pháp lý để gắn hoạt động giáo dục pháp luật với quá trình đào tạo. Cụ thể, Điều 19 xác định mục đích giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục là trang bị kiến thức, nâng cao kỹ năng sử dụng pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật; đồng thời, quy định việc giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua chương trình chính khóa và ngoại khóa phù hợp với từng cấp học, trình độ, ngành, nghề đào tạo. Điều 20 quy định trách nhiệm của cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý và các chủ thể có liên quan trong tổ chức thực hiện.

Tuy nhiên, các quy định này mới chủ yếu xác định trách nhiệm của các chủ thể mà chưa làm rõ cơ chế gắn nội dung giáo dục pháp luật với nhu cầu của người học và yêu cầu của thực tiễn. Nội dung giáo dục pháp luật cần được xây dựng trên cơ sở môi trường sống, ngành, nghề đào tạo, khả năng tham gia thị trường lao động, các rủi ro pháp lý trên không gian mạng và những giao dịch pháp lý phổ biến mà người học có thể gặp phải. Đồng thời, cơ chế phối hợp giữa cơ sở giáo dục với chính quyền cấp xã, gia đình, tổ chức tư vấn pháp luật, tổ chức trợ giúp pháp lý và các thiết chế cộng đồng cần được cụ thể hóa nhằm tăng cường sự gắn kết giữa hoạt động giáo dục pháp luật trong nhà trường với nhu cầu pháp lý phát sinh trong đời sống xã hội.

Thứ ba, cơ chế tổ chức thực hiện chưa hình thành quy trình thống nhất trong việc khảo sát, thu thập và phản ánh nhu cầu pháp lý từ cơ sở.

Các quy định của dự thảo Luật về tổ chức thực hiện tập trung xác định trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật. Đây là những chủ thể có vai trò tổ chức triển khai các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi cả nước và tại từng địa phương. Tuy nhiên, kế hoạch và trách nhiệm tổ chức thực hiện chỉ có thể phát huy hiệu quả khi được xây dựng trên cơ sở phản ánh đúng nhu cầu pháp lý của người dân, tổ chức và doanh nghiệp. Nếu thiếu đầu vào từ thực tiễn, các yêu cầu đổi mới về nội dung, hình thức và đánh giá hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ khó tạo ra chuyển biến thực chất[8].

Mặc dù dự thảo Luật đã hình thành một số kênh tiếp nhận phản hồi và quy định khung trách nhiệm tổ chức thực hiện, nhưng các cơ chế này còn phân tán, chưa tạo thành quy trình thống nhất từ thu thập, tổng hợp và phân tích nhu cầu pháp lý đến lựa chọn nội dung, hình thức, địa bàn, phân bổ nguồn lực và đánh giá kết quả[9]. Đồng thời, dự thảo Luật chưa thiết lập cơ chế thống nhất để nhu cầu pháp lý từ cơ sở trở thành đầu vào bắt buộc cho việc lựa chọn nội dung, hình thức, nguồn lực và đánh giá hiệu quả. Khoảng trống này có thể làm cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục chủ yếu thực hiện theo văn bản mới hoặc nhiệm vụ hành chính, trong khi nhu cầu pháp lý của người dân thường xuyên phát sinh từ các vấn đề kéo dài và có tính thực tiễn cao như đất đai, lao động, bảo hiểm, hộ tịch, cư trú, giao dịch điện tử, lừa đảo trực tuyến và khiếu nại, vốn không nhất thiết trùng với thời điểm ban hành văn bản mới[10].Thực tiễn cho thấy, hoạt động phối hợp, theo dõi và đánh giá ở một số nơi chưa thường xuyên, tiêu chí chưa thống nhất, kết quả chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm của từng đối tượng, địa bàn và lĩnh vực. Vì vậy, dữ liệu về nhu cầu pháp lý và vướng mắc trong thi hành pháp luật cần trở thành đầu vào chính thức của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Bên cạnh đó, khoản 4 Điều 7 dự thảo Luật quy định Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật có thể được thành lập ở cấp xã theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để địa phương chủ động lựa chọn mô hình phối hợp phù hợp với điều kiện thực tế. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa làm rõ tiêu chí thành lập Hội đồng, thành phần tham gia, trách nhiệm thu thập, tổng hợp và phản ánh nhu cầu pháp lý của người dân cũng như cơ chế phối hợp trong trường hợp địa phương không thành lập Hội đồng. Trong khi đó, cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp tiếp xúc với người dân, nắm bắt các tranh chấp, khiếu nại, vi phạm và những khó khăn trong tiếp cận pháp luật. Nếu chưa có cơ chế thu thập và phản ánh nhu cầu pháp lý được thực hiện thường xuyên, việc xác định nhu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật có thể phụ thuộc vào mức độ chủ động của từng địa phương, ảnh hưởng đến tính thống nhất và hiệu quả tổ chức thực hiện trên phạm vi cả nước[11].

Thứ tư, cơ chế bảo đảm hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua chuyển đổi số và đánh giá kết quả thực hiện chưa được hoàn thiện.

Chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi góp phần nâng cao khả năng tìm kiếm, tiếp cận, hiểu và vận dụng pháp luật của người dân, thay vì chỉ số hóa thông tin pháp luật. Dự thảo Luật đã có bước tiến quan trọng khi Điều 11 xác định cổng, trang thông tin điện tử, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo là các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; Điều 12 quy định về truyền thông chính sách trên môi trường số; Điều 13 đặt ra các nguyên tắc khi ứng dụng trí tuệ nhân tạo, gồm bảo đảm tính chính xác, minh bạch, khả năng kiểm soát và trách nhiệm của chủ thể sử dụng. Tuy nhiên, các quy định này chưa làm rõ vai trò của Cổng Pháp luật quốc gia như một hạ tầng số dùng chung được thiết kế theo nhóm người dùng, tình huống pháp lý và nhu cầu hỗ trợ pháp lý của từng đối tượng[12].

Trong bối cảnh chuyển đổi số, hạ tầng thông tin pháp luật cần được xây dựng theo hướng đáp ứng nhu cầu của nhiều nhóm người sử dụng khác nhau. Người làm công tác pháp luật và người có chuyên môn cần được tiếp cận văn bản gốc, tài liệu chính sách, án lệ và cơ sở dữ liệu chuyên sâu; người dân cần các bản tóm tắt dễ hiểu, nội dung hỏi đáp tình huống, biểu mẫu và hướng dẫn thực hiện thủ tục; trong khi những nhóm khó tiếp cận công nghệ cần được hỗ trợ bằng tài liệu âm thanh, hình ảnh, ngôn ngữ đơn giản hoặc thông qua các hình thức hỗ trợ trực tiếp. Đồng thời, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo không chỉ phải bảo đảm tính chính xác, minh bạch và an toàn dữ liệu cá nhân, mà còn cần hỗ trợ người sử dụng kết nối với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi phát sinh những vấn đề pháp lý vượt quá khả năng tự giải quyết.

Bên cạnh đó, cơ chế đánh giá hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật tuy đã được dự thảo Luật bổ sung nhưng chưa phản ánh đầy đủ chất lượng và tác động thực tế của hoạt động này. Điều 37 dự thảo luật quy định việc đánh giá được thực hiện định kỳ hoặc đột xuất, gắn với khả năng tiếp cận pháp luật, mức độ hài lòng của đối tượng thụ hưởng và các tiêu chí phù hợp khác. Đây là những tiêu chí cần thiết để đánh giá kết quả thực hiện, nhưng vẫn chưa làm rõ mức độ đáp ứng nhu cầu pháp lý của các nhóm đối tượng, khả năng hiểu và vận dụng pháp luật, khả năng nhận diện rủi ro pháp lý, tìm kiếm sự hỗ trợ pháp lý cũng như tác động của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong phòng ngừa vi phạm, hạn chế tranh chấp, khiếu nại, tố cáo. Trên thực tế, hiệu quả không chỉ thể hiện ở việc người dân tiếp cận được thông tin và hài lòng với hoạt động, mà còn ở khả năng nhận diện vấn đề pháp lý, hiểu đúng quyền và nghĩa vụ, lựa chọn hành vi phù hợp, tìm được kênh hỗ trợ và giảm rủi ro vi phạm hoặc tranh chấp[13]. Vì vậy, các tiêu chí về khả năng tiếp cận pháp luật và mức độ hài lòng là cần thiết nhưng chưa đủ để đánh giá toàn diện hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số[14].

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật

Trên cơ sở phân tích, đánh giá một số quy định của dự thảo Luật, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến và giáo dục pháp luật như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về nguyên tắc, nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật theo nhu cầu pháp lý của người học, người dân và doanh nghiệp.

Từ những hạn chế của dự thảo Luật quy định về việc chuyển yêu cầu đáp ứng nhu cầu pháp lý thành trách nhiệm cụ thể của các chủ thể thực hiện, việc hoàn thiện pháp luật cần xác lập nhu cầu pháp lý là căn cứ xuyên suốt trong tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Theo đó, trong quá trình xây dựng văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (sau khi được Quốc hội thông qua) (văn bản hướng dẫn thi hành) cần quy định nội dung: “Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phải lấy nhu cầu pháp lý của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trung tâm; được xây dựng trên cơ sở khảo sát, phân tích nhu cầu pháp lý, mức độ hiểu biết pháp luật, khả năng tiếp cận thông tin và rủi ro pháp lý thường gặp của từng nhóm đối tượng; bảo đảm người được phổ biến, giáo dục pháp luật có khả năng hiểu, vận dụng và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để cơ quan trung ương và địa phương xây dựng công cụ khảo sát, cơ chế phản hồi và bộ tiêu chí đánh giá phù hợp, không nhất thiết làm phát sinh thủ tục hành chính mới. Quan trọng hơn, quy định này xác lập rõ trách nhiệm phổ biến những nội dung pháp luật mà người dân cần biết, cần hiểu và có thể sử dụng trên thực tế.

Bên cạnh đó, từ những hạn chế trong việc xác định nội dung và hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, việc hướng dẫn thi hành Luật cần chuyển từ cách tiếp cận theo nguồn văn bản và kênh truyền tải sang cách tiếp cận theo nhóm đối tượng và tình huống pháp lý. Theo đó, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định nội dung: “Nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật phải được lựa chọn, biên soạn theo nhóm đối tượng, tình huống pháp lý thường gặp và mức độ hiểu biết pháp luật của người được phổ biến; ưu tiên các nội dung liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp, thủ tục thực hiện quyền, phương thức phòng ngừa rủi ro pháp lý, cơ chế yêu cầu hỗ trợ, tư vấn, trợ giúp pháp lý, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và các biện pháp bảo vệ quyền hợp pháp của cá nhân, tổ chức”. Đồng thời, việc hướng dẫn thi hành Điều 11 dự thảo Luật cần làm rõ nguyên tắc lựa chọn hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật trên cơ sở trình độ hiểu biết pháp luật, khả năng tiếp cận thông tin, đặc điểm nghề nghiệp, độ tuổi, ngôn ngữ, văn hóa và nhu cầu pháp lý của từng nhóm đối tượng, bảo đảm kết hợp giữa cung cấp thông tin, giải thích pháp luật, hướng dẫn xử lý tình huống, tư vấn ban đầu và kết nối với cơ chế trợ giúp pháp lý khi cần thiết. Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật truyền thống vẫn cần được duy trì nhưng phải được lựa chọn linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng; trong đó, người có chuyên môn cần được tiếp cận thông tin chuyên sâu và cơ sở dữ liệu pháp luật, người dân phổ thông cần các hình thức hỏi đáp tình huống, video ngắn, biểu mẫu dễ hiểu, còn những nhóm khó tiếp cận pháp luật cần được hỗ trợ bằng hình thức giải thích trực tiếp, tài liệu âm thanh, hình ảnh, ngôn ngữ phù hợp hoặc kết nối với dịch vụ trợ giúp pháp lý.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đối tượng đặc thù và trong cơ sở giáo dục.

Từ sự khác biệt về khả năng tiếp nhận và sử dụng thông tin trong từng nhóm đối tượng đặc thù, việc hoàn thiện quy định cần vượt ra ngoài cách liệt kê nhóm thụ hưởng và hướng đến đánh giá nhu cầu cụ thể. Do đó, cần hướng dẫn Điều 17, Điều 18 dự thảo Luật theo hướng: “Nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù phải được thiết kế trên cơ sở đánh giá nhu cầu pháp lý, mức độ hiểu biết pháp luật, khả năng tiếp cận thông tin, ngôn ngữ, điều kiện sử dụng công nghệ, mức độ dễ bị tổn thương và nguy cơ bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của từng nhóm; đồng thời phải có cơ chế giới thiệu, chuyển tiếp sang trợ giúp pháp lý đối với người thuộc diện được trợ giúp pháp lý khi phát sinh vụ việc cụ thể”.

Đồng thời, để giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục gắn thực chất với người học và đời sống cộng đồng, trách nhiệm nắm bắt nhu cầu và phối hợp tổ chức thực hiện cần được quy định rõ hơn. Cụ thể hóa Điều 20 dự thảo Luật, văn bản hướng dẫn thi hành cần quy định nội dung: “Cơ sở giáo dục có trách nhiệm định kỳ nắm bắt nhu cầu giáo dục pháp luật của người học; căn cứ vào độ tuổi, cấp học, ngành, nghề đào tạo, môi trường sống, rủi ro pháp lý phổ biến và khả năng tiếp cận thông tin để lựa chọn nội dung, hình thức giáo dục pháp luật phù hợp; chủ động phối hợp với chính quyền cấp xã, gia đình, tổ chức tư vấn pháp luật, cơ sở trợ giúp pháp lý và các thiết chế cộng đồng để tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật, thực hành pháp luật và phục vụ cộng đồng”. Quy định này giúp cơ sở giáo dục lựa chọn nội dung sát với người học và tạo cơ sở cho hoạt động thực hành, tư vấn, câu lạc bộ pháp luật, phiên tòa giả định, phục vụ cộng đồng. Đối với cơ sở đào tạo luật, đây là phương thức gắn đào tạo với trách nhiệm xã hội và rèn luyện kỹ năng truyền đạt pháp luật bằng ngôn ngữ dễ hiểu.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế khảo sát, thu thập và phản ánh nhu cầu pháp lý từ cơ sở trong văn bản quy định chi tiết thi hành Luật.

Xuất phát từ sự khác biệt về khả năng tiếp nhận và sử dụng thông tin pháp luật của từng nhóm đối tượng đặc thù, việc hướng dẫn thi hành Luật cần vượt ra ngoài cách tiếp cận chủ yếu dựa trên việc liệt kê các nhóm thụ hưởng, đồng thời, chú trọng đánh giá nhu cầu pháp lý cụ thể của từng nhóm. Theo đó, văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần nghiên cứu hướng dẫn Điều 17 và Điều 18 dự thảo Luật theo hướng: việc xác định nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phải căn cứ vào nhu cầu pháp lý, mức độ hiểu biết pháp luật, khả năng tiếp cận thông tin, ngôn ngữ, điều kiện sử dụng công nghệ, mức độ dễ bị tổn thương và nguy cơ bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của từng nhóm đối tượng. Đồng thời, cần làm rõ cơ chế kết nối, giới thiệu người thuộc diện được trợ giúp pháp lý đến các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý khi phát sinh vụ việc cụ thể. Quy định theo hướng này sẽ góp phần bảo đảm hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đặc điểm và nhu cầu của từng nhóm đối tượng, qua đó, nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng pháp luật trong thực tiễn.

Bên cạnh đó, để giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục thực sự gắn với người học và yêu cầu của đời sống xã hội, văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần làm rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục trong việc định kỳ nắm bắt nhu cầu giáo dục pháp luật của người học, trên cơ sở độ tuổi, cấp học, ngành, nghề đào tạo, môi trường sống, những rủi ro pháp lý phổ biến và khả năng tiếp cận thông tin để lựa chọn nội dung, hình thức giáo dục pháp luật phù hợp. Đồng thời, cần khuyến khích cơ sở giáo dục tăng cường phối hợp với chính quyền cấp xã, gia đình, tổ chức tư vấn pháp luật, tổ chức trợ giúp pháp lý và các thiết chế cộng đồng trong tổ chức các hoạt động giáo dục pháp luật, thực hành pháp luật và phục vụ cộng đồng. Việc hướng dẫn theo định hướng này không chỉ giúp cơ sở giáo dục lựa chọn nội dung sát với nhu cầu của người học, mà còn tạo cơ sở phát triển các mô hình thực hành như câu lạc bộ pháp luật, phiên tòa giả định, hoạt động tư vấn pháp luật và phục vụ cộng đồng. Đối với các cơ sở đào tạo luật, đây là giải pháp gắn kết hoạt động đào tạo với trách nhiệm xã hội, đồng thời, góp phần rèn luyện kỹ năng truyền đạt và phổ biến pháp luật bằng ngôn ngữ dễ hiểu, phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế bảo đảm hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua chuyển đổi số và đổi mới công tác đánh giá.

Để chuyển đổi số thực sự nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật, việc xây dựng hạ tầng số cần được định hướng từ nhu cầu và năng lực sử dụng của từng nhóm người dùng, thay vì chỉ tập trung vào số hóa thông tin pháp luật. Theo đó, văn bản hướng dẫn thi hành Luật cần nghiên cứu hướng dẫn việc phát triển Cổng Pháp luật quốc gia theo hướng: “Cổng Pháp luật quốc gia được thiết kế theo hướng thân thiện, dễ tiếp cận, cho phép người sử dụng tra cứu thông tin pháp luật theo lĩnh vực, nhóm đối tượng, tình huống pháp lý, cấp độ hiểu biết pháp luật và nhu cầu hỗ trợ pháp lý; thông tin pháp luật cần được cung cấp ở nhiều cấp độ, gồm văn bản gốc, bản tóm tắt dễ hiểu, hỏi đáp tình huống, hướng dẫn thủ tục, biểu mẫu, video, infographic và kênh kết nối với cơ quan, tổ chức có trách nhiệm hỗ trợ pháp lý”. Việc hoàn thiện theo hướng này sẽ góp phần đưa Cổng Pháp luật quốc gia trở thành nền tảng hỗ trợ tiếp cận pháp luật theo nhu cầu, phục vụ hiệu quả cơ quan quản lý nhà nước, người làm công tác pháp luật, doanh nghiệp và người dân.

Bên cạnh đó, từ những hạn chế của hệ thống tiêu chí đánh giá hiện hành, việc hướng dẫn thi hành Luật cần nghiên cứu hoàn thiện tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng: “Việc đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật phải căn cứ vào mức độ phù hợp với nhu cầu pháp lý của đối tượng được phổ biến; mức độ tiếp cận, hiểu biết, hài lòng và khả năng vận dụng pháp luật; khả năng nhận diện rủi ro và tìm kiếm hỗ trợ pháp lý; mức độ góp phần phòng ngừa vi phạm, giảm tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và nâng cao văn hóa tuân thủ pháp luật trong lĩnh vực, địa bàn, nhóm đối tượng có liên quan”. Việc hoàn thiện tiêu chí đánh giá theo định hướng này sẽ góp phần chuyển trọng tâm từ đánh giá số lượng hoạt động sang chất lượng và hiệu quả thực chất của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đồng thời, đây là cơ sở để đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu pháp lý của các nhóm đối tượng và hiệu quả của các giải pháp về khảo sát nhu cầu, phân nhóm đối tượng, thiết kế nội dung cũng như chuyển đổi số trong lĩnh vực phổ biến, giáo dục pháp luật.

Kết luận

Dự thảo Luật đã ghi nhận nhiều nội dung quan trọng như nguyên tắc phù hợp với nhu cầu, văn hóa và ngôn ngữ của từng đối tượng; chính sách cho đối tượng đặc thù; hướng dẫn, giải đáp pháp luật; Hội đồng phối hợp cấp xã; ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo; tiêu chí tiếp cận pháp luật và sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng. Tuy nhiên, để khắc phục tình trạng phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức, dự thảo Luật và văn bản hướng dẫn thi hành cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng và đo lường nhu cầu pháp lý của người dân.

Trọng tâm hoàn thiện không phải là biến phổ biến, giáo dục pháp luật thành tư vấn hoặc trợ giúp pháp lý theo vụ việc, mà là xác lập đúng vị trí của hoạt động này trong chuỗi hỗ trợ pháp lý. Dự thảo Luật và văn bản hướng dẫn thi hành cần bổ sung cơ chế khảo sát và sử dụng kết quả khảo sát; thiết kế nội dung theo tình huống; lựa chọn hình thức theo năng lực tiếp nhận; chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý; trách nhiệm của cấp xã trong thu thập nhu cầu; thiết kế hạ tầng số theo nhóm người dùng; tiêu chí đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Những bổ sung này sẽ góp phần chuyển hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật từ chú trọng đầu việc sang đáp ứng đúng nhu cầu và tạo hiệu quả thực chất trong đời sống.

TS. Khúc Thị Trang Nhung & TS. Phạm Thị Hạnh

Giảng viên chính, Khoa Luật, Trường Đại học Tài chính Marketing

Ảnh: Internet

[1]. Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.

[2]. Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (Báo cáo số 400/BC-BTP); Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[3]. Các điều 2, 5, 10-14, 16-20, 23-24, 29, 32 và 37 dự thảo Luật.

[4]. Lisa Wintersteiger, Legal Needs, Legal Capability and the Role of Public Legal Education, Law for Life: The Foundation for Public Legal Education, 2015; A.K. Habbig, Legal Capabilities, Journal of Human Development and Capabilities, Vol. 23, No. 4, 2022.

[5]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.34-35.

[6]. Lisa Wintersteiger, Effectiveness of Public Legal Education Initiatives: A Systematic Review, Legal Services Board, 2021.

[7]. Bộ Tư pháp (2026), Phụ lục 8 Những vướng mắc, bất cập trong thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, tr.17-18.

[8]. Điều 23, Điều 24, khoản 2 Điều 29 và khoản 4 Điều 32 dự thảo Luật.

[9]. Hazel Genn (1999), Paths to Justice: What People Do and Think about Going to Law, Hart Publishing World Justice Project (2019), Global Insights on Access to Justice 2019, Washington, DC.

[10]. Bộ Tư pháp (2026), Phụ lục 8 Những vướng mắc, bất cập trong thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, tr.1, 13; Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.30.

[11]. Bộ Tư pháp (2026), Phụ lục 8 Những vướng mắc, bất cập trong thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, tr.3, 6, 19.

[12]. Báo cáo số 400/BC-BTP, tr.29, 33-35.

[13]. OECD (2025), Making Justice Systems More Effective and PeopleCentred, OECD Publishing; OECD/Open Society Foundations (2019), Legal Needs Surveys and Access to Justice, OECD Publishing.

[14]. Bộ Tư pháp (2026), Phụ lục 8 Những vướng mắc, bất cập trong thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, tr.1, 13.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Tư pháp (2026), Bản đánh giá về thủ tục hành chính, phân quyền, phân cấp, chuyển đổi số trong dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

2. Bộ Tư pháp (2026), Bản so sánh dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) và Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012.

3. Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 của Bộ Tư pháp tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

4. Bộ Tư pháp (2026), Phụ lục 8 Những vướng mắc, bất cập trong thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

5. Genn, H. (1999), Paths to Justice: What People Do and Think about Going to Law, Hart Publishing, Oxford.

6. Habbig, A.K. (2022), Legal Capabilities”, Journal of Human Development and Capabilities, Vol. 23, No. 4.

7. OECD/Open Society Foundations (2019), Legal Needs Surveys and Access to Justice, OECD Publishing, Paris.

8. Olatokun, A.M. (2022), Challenges for Public Law from Public Legal Education, International Journal of Public Legal Education, Vol. 6, No. 1.

9. Wintersteiger, L. (2015), Legal Needs, Legal Capability and the Role of Public Legal Education, Law for Life: The Foundation for Public Legal Education, London.

10. Wintersteiger, L. (2021), Effectiveness of Public Legal Education Initiatives: A Systematic Review, Legal Services Board, London.

11. World Justice Project (2019), Global Insights on Access to Justice 2019: Findings from the World Justice Project General Population Poll in 101 Countries, Washington, DC.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (458) tháng 8/2026)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.
Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.

Theo dõi chúng tôi trên: