Từ khóa: Phổ biến, giáo dục pháp luật; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi); truyền thông chính sách; chuyển đổi số; tổ chức thi hành pháp luật; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Đặt vấn đề
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên trong quy trình tổ chức thi hành pháp luật, đóng vai trò then chốt trong kiến tạo văn hóa tuân thủ pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 được ban hành đã tạo khung thể chế quan trọng, đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đi vào nền nếp và thực chất. Tuy nhiên, trước những đòi hỏi khách quan từ công cuộc đổi mới tư duy xây dựng, thi hành pháp luật, quá trình chuyển đổi số quốc gia, cũng như yêu cầu hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy nhà nước trong kỷ nguyên mới, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã bộc lộ sự bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Nghiên cứu tập trung làm rõ các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn, qua đó, khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý đồng bộ, hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
1. Cơ sở chính trị, pháp lý
Để có cơ sở luận chứng cho sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, cần thiết lập hệ quy chiếu dựa trên các định hướng chính trị của Đảng và khung pháp lý hiện hành.
1.1. Cơ sở chính trị
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian qua luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước. Ngày 09/12/2003, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ Nhân dân (Chỉ thị số 32-CT/TW), trong đó, yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các ngành xác định rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Để lãnh đạo tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, tại Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020[1], Ban Bí thư tiếp tục nhấn mạnh về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó, khẳng định Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, phát huy sự tham gia chủ động, tích cực của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp và của mọi người dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật; đồng thời, yêu cầu: “kịp thời thông tin đầy đủ, ngay từ khi soạn thảo các vấn đề có tác động lớn đến xã hội, các vấn đề được xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội để tạo sự đồng thuận cao trong thực thi chính sách, pháp luật. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật số, mạng xã hội trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; phát huy sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng…”, “bảo đảm tính đồng bộ, xuyên suốt, hiệu quả giữa phổ biến, giáo dục pháp luật với xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật”.
Nghị quyết số 27-NQ/TW[2] nhấn mạnh “tiếp tục đổi mới công tác công tác phổ biến, giáo dục pháp luật... Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Xây dựng ý thức và lối sống thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trong hệ thống chính trị và toàn xã hội”.
Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành các nghị quyết trụ cột, đề ra nhiều chủ trương, định hướng mới về phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; trong đó, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được yêu cầu đổi mới để góp phần khắc phục hạn chế đã được Đảng ta chỉ ra “tổ chức thực thi pháp luật vẫn là khâu yếu”, thúc đẩy xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nghị quyết số 66-NQ/TW[3] của Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ, giải pháp “tạo đột phá trong công tác thi hành pháp luật, bảo đảm pháp luật được thực hiện công bằng, nghiêm minh, nhất quán, kịp thời, hiệu lực và hiệu quả; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật”; đồng thời, nhấn mạnh: “tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Đa dạng hóa phương thức truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là thông qua ứng dụng công nghệ số; ưu tiên những nội dung quan trọng được phát trên khung giờ thu hút đông đảo khán, thính giả trên hệ thống phát thanh, truyền thông quốc gia”; “ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số đồng bộ trong phổ biến, giáo dục pháp luật; lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật vào phong trào học tập số”; “ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý cho đối tượng đặc thù, yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số”.
Kết luận số 09-KL/TW[4] của Bộ Chính trị nhấn mạnh: “gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; đẩy mạnh truyền thông chính sách, pháp luật;… đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật”, “thực hiện nghiêm nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp và pháp luật”.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định rõ về phát triển toàn diện con người Việt Nam trong thời đại mới. Trong đó thượng tôn pháp luật được đặt ngang tầm với đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân. Đồng thời, Đảng cũng yêu cầu thực hiện “giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, coi trọng danh dự của cán bộ, đảng viên”, “tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật”.
Bên cạnh đó, các Nghị quyết của Bộ Chính trị như: Nghị quyết số 57-NQ/TW[5], Nghị quyết số 59-NQ/TW[6], Nghị quyết số 68-NQ/TW[7], Nghị quyết số 71-NQ/TW[8], Nghị quyết số 80-NQ/TW[9] có nhiều chủ trương, yêu cầu liên quan đến đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đồng thời, thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp theo Kết luận số 130-KL/TW[10] của Bộ Chính trị, Kết luận số 226-KL/TW[11] của Ban Bí thư, đặt ra yêu cầu đổi mới từ việc quản lý đến cách thức triển khai hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, doanh nghiệp.
1.2. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp năm 2013[12] quy định: công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định (Điều 25); đồng thời, công dân có quyền và nghĩa vụ học tập (Điều 39); công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật…(Điều 46).
Để thể chế hóa và triển khai kịp thời các chủ trương mới của Đảng, Quốc hội đã ban hành nhiều Luật quan trọng, trong đó, có nội dung về tổ chức bộ máy, xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, như: Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, Luật Báo chí năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Luật Giáo dục năm 2019 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025, Luật Giáo dục đại học năm 2025, Luật Tiếp cận thông tin năm 2026…
Trên cơ sở đó, tại Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 ngày 26/9/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026, Chính phủ được giao trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XVI.
2. Cơ sở thực tiễn
Cùng với yêu cầu cấp thiết phải sửa đổi Luật từ hệ thống cơ sở chính trị và pháp lý, kết quả thực tiễn sau 13 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 phản ánh khách quan những kết quả đạt được và điểm nghẽn cần được tháo gỡ. Cụ thể:
2.1. Kết quả đạt được
Sau 13 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp từ trung ương đến cơ sở và đạt được một số kết quả tích cực.
Thứ nhất, việc tổ chức thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng được chú trọng, đi vào nền nếp, qua đó, đưa chính sách, pháp luật đi vào đời sống thực tiễn; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật đa dạng, cơ bản phù hợp với đối tượng, địa bàn; hoạt động họp báo, ra thông cáo báo chí, xây dựng tài liệu giới thiệu mục đích, ý nghĩa và nội dung cơ bản, điểm mới của luật, pháp lệnh, văn bản quy phạm pháp luật được triển khai kịp thời, bám sát từng kỳ họp của Quốc hội; công tác xây dựng, ban hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo, định hướng truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là các chính sách, văn bản quan trọng, có tác động lớn đến xã hội, liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp, những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận xã hội từng bước được quan tâm và đẩy mạnh.
Thứ hai, việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật được chú trọng; đã triển khai trả lời các vấn đề pháp luật mà người dân, doanh nghiệp quan tâm và tổng hợp, xử lý phản ánh, kiến nghị về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.
Thứ ba, ngân sách nhà nước bố trí kinh phí hằng năm bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; một số cơ quan, tổ chức bước đầu thực hiện xã hội hóa, huy động nguồn lực xã hội hỗ trợ, đóng góp của tổ chức, doanh nghiệp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là trong triển khai các hoạt động hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam.
Thứ tư, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
2.2. Bất cập, tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 còn một số bất cập, tồn tại, hạn chế sau:
2.2.1. Bất cập từ quy định của Luật
Một số quy định của Luật không còn phù hợp với thực tế, nhất là trong bối cảnh nhiều chủ trương, định hướng mới của Đảng được ban hành cần thể chế hóa, triển khai kịp thời, hiệu quả, cụ thể:
Thứ nhất, chưa quy định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với chức năng, tính chất và vai trò của từng cơ quan, góp phần cho công tác này triển khai kịp thời, hiệu quả. Đồng thời, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa quy định rõ trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật của các cơ quan quản lý nhà nước; chưa phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức khác trong phổ biến, giáo dục pháp luật. Trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội không do Chính phủ trình hoặc ban hành, không do Thủ tướng Chính phủ ban hành, không do bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo hoặc ban hành và điều ước quốc tế không do bộ, cơ quan ngang bộ đề xuất chưa được quy định rõ để tạo cơ sở pháp lý nhằm xác định và nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan. Quy định về các nội dung quản lý nhà nước trong Luật chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật. Một số quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương về phổ biến, giáo dục pháp luật không còn phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Công tác truyền thông chính sách từ giai đoạn đề xuất chính sách, soạn thảo văn bản có vai trò quan trọng trong việc gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật, góp phần tạo đồng thuận xã hội, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, hiệu quả thực thi pháp luật. Tuy nhiên, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa quy định rõ nguyên tắc, mục đích thực hiện truyền thông chính sách, do đó, thực tiễn tổ chức thực hiện truyền thông chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế, chưa được chú trọng, nhất là đối với chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có tác động lớn đến xã hội.
Thứ hai, quy định về các đối tượng đặc thù cần ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật chưa bao quát, chưa phù hợp với các chủ trương mới của Đảng và chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
Ngoài 06 nhóm đặc thù được quy định tại Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012[13], còn có một số đối tượng khác cũng thuộc nhóm dễ bị tổn thương, yếu thế, hạn chế khả năng tiếp cận pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật, rất cần sự quan tâm và xác định rõ là đối tượng đặc thù như người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo, người cao tuổi, người có hành vi bạo lực, nạn nhân của hành vi mua bán người, người bị phạt cải tạo không giam giữ, người chấp hành xong hình phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng… Việc tiếp tục quan tâm, điều chỉnh các đối tượng đặc thù cần được ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật là cần thiết, bảo đảm tính toàn diện, tạo điều kiện cho việc tiếp cận, học tập, nâng cao hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật của Nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Bên cạnh đó, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa quy định rõ và đầy đủ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức có liên quan, nhất là các cơ quan nhà nước có liên quan đến các đối tượng đặc thù, chính quyền địa phương, nhằm bảo đảm nguồn lực, bố trí kinh phí, xây dựng nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp và tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù thuộc phạm vi quản lý; chưa quy định về huy động sự tham gia, phối hợp của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức khác có liên quan trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù. Đặc biệt, Luật chưa có chính sách ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật cụ thể, dẫn đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù thời gian qua chưa thực sự rõ nét. đặc thù thời gian qua chưa thực sự rõ nét.
Thứ ba, việc bồi dưỡng pháp luật cho công chức, viên chức hiện nay đang được thực hiện lồng ghép trong chương trình bồi dưỡng chung hằng năm theo quy định của pháp luật về công chức, viên chức. Mặc dù, công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức quản lý đã được quan tâm, tuy nhiên, năng lực chuyên môn, kiến thức pháp luật của công chức, viên chức, nhất là cấp cơ sở còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Do đó cần có quy định đẩy mạnh bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức, nhất là các lĩnh vực tài chính, pháp luật, công nghệ thông tin và quy hoạch[14], góp phần thể chế hóa và thực hiện yêu cầu đề ra trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Thứ tư, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác giáo dục pháp luật, từ các cơ sở giáo dục, giáo dục nghề nghiệp đến các cơ quan quản lý có liên quan; yêu cầu trang bị kiến thức liên quan đến ngành, nghề đào tạo trong cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp đã được thể hiện trong Luật nhưng được chú trọng; quy định về nội dung và hình thức giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng thực chất, lấy người học làm trung tâm, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong học sinh, sinh viên, học viên, hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thời đại mới mà Đảng đặt ra tại Nghị quyết số 71-NQ/TW[15] của Bộ Chính trị[16].
Thứ năm, quy định về báo cáo viên pháp luật tại Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 còn giới hạn trong phạm vi lực lượng cán bộ, công chức, viên chức và sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân, dẫn đến chưa thu hút rộng rãi nguồn lực xã hội, nhất là đội ngũ chuyên gia, người có trình độ chuyên môn, nhà khoa học có kiến thức pháp lý chuyên sâu, có kinh nghiệm, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật, luật sư, luật gia, người có uy tín tại cộng đồng... Cùng với đó, thẩm quyền công nhận, miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật chưa phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và vận hành chính quyền địa phương hai cấp; chưa quy định thù lao tương xứng để động viên, khuyến khích lực lượng này tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ sáu, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 chưa quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật, trong khi thực tế hiện nay đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong mọi mặt của đời sống xã hội theo Nghị quyết số 57-NQ/TW[17], Nghị quyết số 66-NQ/TW[18], Nghị quyết số 68-NQ/TW[19], Kết luận số 09-KL/TW[20]. Thực tiễn cho thấy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số[21] đã và đang được các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, tổ chức triển khai để đáp ứng nhu cầu tiếp cận, tìm hiểu pháp luật của người dân trên môi trường số; người dân, doanh nghiệp từng bước chủ động hơn trong tìm hiểu, tiếp cận pháp luật theo nhu cầu mà không bị động, chờ được cung cấp thông tin pháp luật. Thực tế này đặt ra yêu cầu hoàn thiện các quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 theo hướng kết hợp hình thức truyền thống đang thực hiện hiệu quả với hình thức hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật kịp thời, hiệu quả.
Thứ bảy, tổ chức và hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật (Hội đồng), trong đó, có cấp huyện không phù hợp với vận hành chính quyền địa phương hai cấp, chưa có quy định tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập và triển khai các hoạt động của Hội đồng tại các bộ, cơ quan trung ương và ở cấp xã khi các cơ quan, địa phương thực sự cần thiết để phát huy vai trò của tổ chức phối hợp liên ngành ở cấp mình trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương và chính quyền cấp xã trong lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý.
Hiện, cấp xã được giao nhiều nhiệm vụ, nhất là các nhiệm vụ phân cấp, phân quyền được đẩy mạnh cho cấp xã, mặc dù Luật chưa quy định về Hội đồng cấp xã trong Luật, nhưng xuất phát từ nhu cầu thực tế[22] và quy định tại Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 04/8/2025 quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật[23], có 1.293/3.321 đơn vị cấp xã đã thành lập Hội đồng (chiếm gần 40% tổng số đơn vị cấp xã). Một số địa phương đã thành lập Hội đồng tại 100% đơn vị cấp xã[24]. Với quy mô quản lý, lãnh thổ, dân cư được mở rộng và khối lượng nhiệm vụ hiện nay của cấp xã, yêu cầu tăng cường công tác truyền thông, phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, doanh nghiệp hướng mạnh về cơ sở, cần quy định linh hoạt để có cơ sở pháp lý cho địa phương triển khai cơ chế phối hợp liên ngành qua Hội đồng, bảo đảm phù hợp với yêu cầu phân cấp, phân quyền, địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm.
Thứ tám, quy định về kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa bảo đảm, chưa tương xứng với vị trí, tầm quan trọng của công tác này trong bối cảnh mới.
Quy định ngân sách Trung ương hỗ trợ kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách tại khoản 1 Điều 39 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 không được triển khai trên thực tế, thiếu tính khả thi do chưa thống nhất với quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Đặc biệt, còn thiếu quy định về ưu tiên nguồn lực, kinh phí tương xứng về phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là cho các đối tượng đặc thù đã được đề ra trong Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị.
2.2.2. Hạn chế trong tổ chức thực hiện Luật
Tổng kết thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cho thấy, còn một số tồn tại, hạn chế trong tổ chức triển khai như: một số cấp ủy, cơ quan, địa phương chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; việc tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật có lúc, có nơi chưa kịp thời, hiệu quả, chưa chú trọng theo dõi, đôn đốc và đánh giá công tác này; hoạt động của Hội đồng ở một số nơi đôi lúc hiệu quả chưa cao, chưa phát huy tốt vai trò của các thành viên Hội đồng trong phối hợp định hướng, chỉ đạo phổ biến, giáo dục pháp luật; công tác truyền thông chính sách chưa được chú trọng, chưa gắn kết giữa xây dựng và thi hành chính sách, pháp luật; đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật mặc dù đã được củng cố, kiện toàn và bồi dưỡng kiến thức nhưng chưa đồng đều, một bộ phận chưa đáp ứng yêu cầu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong tình hình mới. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của người dân, doanh nghiệp. Kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật hằng năm ở nhiều bộ, cơ quan ngang bộ, địa phương, cơ quan, đơn vị chưa bảo đảm, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, chưa có chính sách ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác này.
Từ những cơ sở chính trị, pháp lý trên và trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật của Đảng, Nhà nước, để bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật và yêu cầu thực tiễn, việc sửa đổi toàn diện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp bách và cần thiết.
3. Đánh giá những kết quả đạt được của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Nhận diện rõ những điểm nghẽn từ thực tiễn và bám sát các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, dự thảo Luật được thiết kế nhằm tháo gỡ triệt để các hạn chế trên, bước đầu thể hiện được tinh thần kiến tạo và đổi mới toàn diện.
3.1. Mục đích ban hành dự thảo Luật
Việc xây dựng dự thảo Luật nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng về đổi mới tư duy xây dựng, thi hành pháp luật; khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo để tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận pháp luật trên môi trường số; góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3.2. Đánh giá những kết quả đạt được của dự thảo Luật[25]
Trên cơ sở sự cần thiết và mục đích ban hành Luật, dự thảo Luật đã đạt được những kết quả cơ bản, quan trọng sau:
Thứ nhất, dự thảo Luật đã thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng về đổi mới tư duy xây dựng, thi hành pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh mới[26].
Một là, thực hiện đúng chủ trương đổi mới tư duy xây dựng, thi hành pháp luật, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Dự thảo Luật chỉ quy định mang tính nguyên tắc các vấn đề ổn định, thuộc thẩm quyền của Quốc hội, vấn đề thường xuyên biến động, linh hoạt thì giao Chính phủ quy định chi tiết. Dự thảo Luật không quy định nội dung quản lý nhà nước; không quy định cụ thể về trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp; giao Chính phủ quy định chi tiết 14 nội dung; giao Thủ tướng Chính phủ quyết định 01 nội dung; người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức trung ương quyết định 03 nội dung; giao Hội đồng nhân dân các cấp quy định 03 nội dung; giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định 02 nội dung; giao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định 03 nội dung; giao người đứng đầu Ủy ban nhân dân các cấp quyết định 01 nội dung.
Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật phân định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phổ biến, giáo dục pháp luật; phân quyền cho người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định việc thành lập Hội đồng của bộ, cơ quan, tổ chức và cấp xã khi cần thiết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; điều chỉnh, bổ sung đối tượng đặc thù và quy định rõ hơn các chính sách, trách nhiệm trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù; quy định rõ các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trách nhiệm đưa nội dung trang bị kiến thức pháp luật có liên quan đến ngành, nghề đào tạo để tổ chức giảng dạy; bổ sung truyền thông chính sách và các phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiện đại, chuyển đổi số trên cơ sở tăng cường ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo; bổ sung cơ chế, chính sách và nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ hai, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất của hệ thống pháp luật; tuân thủ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định có liên quan về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật tại Quy định số 178-TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 110/2023/QH15 ngày 29/11/2023 của Quốc hội và Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 14/8/2023 của Chính phủ.
Thứ ba, dự thảo Luật đã thể chế đầy đủ các chính sách đã được Chính phủ thống nhất thông qua[27], gồm: (i) phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước, thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật; (ii) điều chỉnh cơ chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp; phân quyền thành lập Hội đồng bộ, ngành theo hướng linh hoạt; (iii) mở rộng đối tượng đặc thù và quy định rõ trách nhiệm, chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù; (iv) quy định rõ nội dung, trách nhiệm giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; (v) bổ sung quy định về truyền thông chính sách và các phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng hiện đại, chuyển đổi số; (vi) bổ sung cơ chế, chính sách và nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Thứ tư, tiếp tục xác định công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm thông qua việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân chủ động tìm hiểu, tiếp cận pháp luật; điều chỉnh, bổ sung một số đối tượng đặc thù để thực hiện chủ trương không ai bị bỏ lại phía sau. Bên cạnh tiếp tục khẳng định kinh phí cho phổ biến, giáo dục pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm, dự thảo Luật còn chủ trương tăng cường xã hội hóa, huy động nguồn lực xã hội tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua việc huy động luật sư, luật gia, người có uy tín, chuyên gia, người có trình độ chuyên môn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật và huy động nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định; ưu tiên nguồn lực tương xứng cho các đối tượng đặc thù.
Thứ năm, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các luật, nghị quyết có liên quan; tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm tính khả thi của các chính sách Luật trong điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam; nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc các kinh nghiệm quốc tế về phổ biến, giáo dục pháp luật của các quốc gia trên thế giới phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.
Kết luận
Việc sửa đổi toàn diện Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 không chỉ xuất phát từ yêu cầu khắc phục những hạn chế, bất cập sau hơn một thập kỷ thi hành mà còn là yêu cầu tất yếu nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, định hướng lớn của Đảng về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Những thay đổi về mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phát triển truyền thông chính sách từ sớm, từ xa và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức và cơ chế tổ chức công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Nghiên cứu cho thấy, dự án Luật không chỉ hoàn thiện các quy định hiện hành mà còn hướng tới xây dựng khuôn khổ pháp lý hiện đại, đồng bộ, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm mọi chủ thể đều có điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật kịp thời, chính xác và thuận tiện. Đồng thời, dự thảo Luật đã xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức; tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; mở rộng, tăng cường nguồn lực xã hội; ưu tiên cho các nhóm yếu thế; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số tạo nền tảng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới.
Phan Hồng Nguyên
Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp
[1]. Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân.
[2]. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
[3]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[4]. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Kết luận số 09-KL/TW).
[5]. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[6]. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
[7]. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
[8]. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
[9]. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính tị về phát triển văn hóa Việt Nam.
[10]. Kết luận số 130-KL/TW ngày 14/3/2025 của Bộ Chính trị về chủ trương sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
[11]. Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đã tác động đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
[12]. Hiến pháp năm 2013 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025.
[13]. Người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, nạn nhân bạo lực gia đình, người lao động trong các doanh nghiệp, người đang chấp hành hình phạt tù, đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã.
[14]. Văn bản số 12154/VPCP-TCCV ngày 09/12/2025 của Văn phòng Chính phủ về nghiên cứu kiến nghị của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.
[15]. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
[16]. Đổi mới nội dung, phương thức giảng dạy, nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đạo đức, lý tưởng, trách nhiệm xã hội, lối sống văn hóa, truyền thống lịch sử, chính trị, tư tưởng, pháp luật, kinh tế, tài chính, quốc phòng và an ninh.
[17]. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy không quản được thì cấm.
[18]. Đa dạng hóa phương thức truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là thông qua ứng dụng công nghệ số; ưu tiên những nội dung quan trọng được phát trên khung giờ thu hút đông đảo khán, thính giả trên hệ thống phát thanh, truyền hình quốc gia”.
[19]. Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, khát vọng cống hiến, thượng tôn pháp luật, tích cực thực hiện trách nhiệm xã hội; đánh giá doanh nghiệp tư nhân theo chuẩn quốc tế dựa trên các tiêu chí cốt lõi về: (i) mức độ tuân thủ pháp luật; (ii) giải quyết công ăn việc làm; (iii) đóng góp vào ngân sách nhà nước; (iv) tham gia các hoạt động an sinh xã hội.
[20]. Gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Đẩy mạnh truyền thông chính sách, pháp luật… đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật.
[21]. Truyền thông qua các kênh truyền thông, báo chí chủ lực quốc gia, Đài phát thanh, truyền hình (chuyên trang, chuyên mục,...), xây dựng các Cổng/Trang thông tin điện tử, qua các nền tảng số (Zalo, Facebook, Tiktok,...), sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong cung cấp thông tin pháp luật,...
[22]. Chính quyền cấp xã có trách nhiệm lớn hơn rất nhiều so với trước đây, cả về địa bàn, quy mô dân số, nhiệm vụ, quyền hạn, thực hiện nhiều nhiệm vụ trước đây của cấp huyện và được phân cấp các nhiệm vụ khác từ cấp tỉnh.
[23]. Khoản 4 Điều 2 Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định về thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật.
[24]. Đồng Nai, Cà Mau, Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ninh.
[25]. Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.
[26]. Các chủ trương, chính sách của Đảng được thể hiện trong: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; các Nghị quyết của Bộ Chính trị như: Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 20/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam; Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân…
[27]. Theo Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 14/5/2026 của Chính phủ về chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)