Thứ năm 30/04/2026 02:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Căn cứ Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và những yêu cầu, đòi hỏi mới của Đảng và Nhà nước đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL), qua nghiên cứu, tổng hợp ý kiến của một số đối tượng liên quan, Bộ Tư pháp dự kiến 06 nhóm chính sách cơ bản đưa vào dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).
Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Dự kiến 06 nhóm chính sách cơ bản đưa vào dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Ngày 23/01, Bộ Tư pháp tổ chức Tọa đàm Lấy ý kiến về dự thảo các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi). Đồng chí Cù Thu Anh - Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý và đồng chí Phan Hồng Nguyên - Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý đồng chủ trì Tọa đàm.

Tại Tọa đàm, các đại biểu tập trung trao đổi, thảo luận, cho ý kiến đối với 06 nhóm chính sách cơ bản của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), cụ thể:

Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước, thực hiện phổ biến giáo dục pháp luật

Mục tiêu của chính sách này là phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước về PBGDPL nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý, đổi mới tư duy từ quản lý sang kiến tạo, bảo đảm phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng của từng cơ quan, chủ thể được giao thực hiện quản lý nhà nước, gắn với yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện PBGDPL nhằm bảo đảm triển khai công tác PBGDPL được kịp thời, hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực, rõ trách nhiệm, tránh tạo ra khoảng trống, đùn đẩy trách nhiệm, đáp ứng nhu cầu của xã hội và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Đồng chí Cù Thu Anh - Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý phát biểu tại Tọa đàm

Các nguyên tắc PBGDPL hiện hành tiếp tục được kế thừa, đồng thời bổ sung mới một số nguyên tắc nhằm tiếp tục khẳng định và thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công tác PBGDPL, nâng cao trách nhiệm của cơ quan chủ trì xây dựng chính sách, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong triển khai công tác này, bảo đảm kịp thời, hiệu quả. Điều chỉnh nội dung, cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về PBGDPL phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương, giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng; với vị trí, vai trò, chức năng của các chủ thể thực hiện quản lý nhà nước và yêu cầu đổi mới công tác PBGDPL. Phân định rõ trách nhiệm PBGDPL của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, bảo đảm gắn với trách nhiệm xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức đó, trách nhiệm của cán bộ, công chức lồng ghép PBGDPL trong thực thi công vụ; thống nhất với các văn bản, quy định có liên quan; phù hợp với bối cảnh thực hiện sắp xếp, tinh gọn, sáp nhập và vận hành chính quyền địa phương 02 cấp.

Hoàn thiện cơ chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật

Giải pháp tối ưu được lựa chọn để thực hiện Chính sách này là đổi tên “Hội đồng phối hợp PBGDPL” thành “Hội đồng phối hợp PBGDPL và Trợ giúp pháp lý” để phù hợp với yêu cầu tinh giảm đầu mối các cơ quan, tổ chức phối hợp liên ngành cũng như thực tiễn hiện nay đã hợp nhất Hội đồng phối hợp PBGDPL và Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý theo Quyết định số 26/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ. Hoàn thiện các quy định về Hội đồng theo hướng thống nhất thành lập Hội đồng ở các cấp (Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã), nâng tầm vai trò và chức năng của Hội đồng trong chỉ đạo, định hướng triển khai công tác PBGDPL; giao Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết nhiệm vụ, quyền hạn và thành phần của Hội đồng. Thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, có tới 90/99 nhiệm vụ của cấp huyện (chiếm hơn 90%) được chuyển xuống cấp xã, do đó việc thành lập Hội đồng cấp xã trên cơ sở kế thừa mô hình Hội đồng cấp huyện là phù hợp với yêu cầu hiện nay.

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Đồng chí Phan Hồng Nguyên - Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp lý phát biểu tại Tọa đàm

Điều chỉnh đối tượng và hoàn thiện chính sách về phổ biến giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù, yếu thế để không ai bị bỏ lại phía sau

Mục tiêu của Chính sách nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật trong thực hiện các chính sách của Nhà nước dành cho các nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế. Bên cạnh đó, tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm các nhóm đối tượng đặc thù, yếu thế được thụ hưởng các chính sách một cách công bằng, bình đẳng trong tiếp cận thông tin pháp luật, dịch vụ pháp lý, vì mục tiêu không ai bị bỏ lại phía sau. Đồng thời, nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc phổ biến, nâng cao hiểu biết pháp luật cho các đối tượng cần ưu tiên, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của pháp luật.

Chính sách có nội dung hoàn thiện quy định về các đối tượng đặc thù phù hợp với điều kiện thực tế, theo hướng bổ sung một số đối tượng có hạn chế về điều kiện tiếp cận pháp luật. Bổ sung quy định về thực hiện PBGDPL mang tính bắt buộc đối với một số đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật hành chính, tập trung vào nhóm vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực trọng điểm hoặc nhóm vi phạm nhiều lần, tái phạm. Đồng thời bổ sung quy định về một số chính sách cho các nhóm đối tượng đặc thù. Xác định rõ trách nhiệm PBGDPL của cơ quan, tổ chức, cá nhân cho các đối tượng đặc thù.

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tọa đàm Lấy ý kiến về dự thảo các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Đưa nội dung pháp luật vào chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức; đổi mới công tác giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Chính sách với nội dung bổ sung quy định về bồi dưỡng pháp luật cho cán bộ, công chức nhằm nâng cao nhận thức, kiến thức pháp luật chuyên ngành gắn với vị trí việc làm, nâng cao năng lực thực thi công vụ, bảo đảm đúng quy định, hiệu quả, góp phần xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả và phục vụ nhân dân. Đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong triển khai bồi dưỡng pháp luật cho cán bộ, công chức.

Hoàn thiện các quy định về giáo dục pháp luật, bảo đảm thể chế hóa kịp thời, đầy đủ chủ trương của Đảng đề ra tại Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị. Phân định trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa ngành Tư pháp và ngành Giáo dục và Đào tạo trong quản lý, triển khai công tác giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục và đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả thực hiện công tác dạy và học pháp luật cho học sinh, sinh viên; trọng tâm là đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục pháp luật thông qua giảng dạy và học các nội dung pháp luật trong môn học đạo đức, giáo dục công dân, pháp luật; đổi mới nội dung giáo dục pháp luật theo hướng kết hợp giữa giáo dục kiến thức pháp luật với giáo dục thái độ, niềm tin về pháp luật, ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật, kỹ năng áp dụng và thực hiện pháp luật.

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Đại biểu trao đổi tại Tọa đàm

Gắn kết truyền thông chính sách với phổ biến giáo dục pháp luật; đổi mới phương thức phổ biến giáo dục pháp luật thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số

Bổ sung quy định công tác truyền thông chính sách trong Luật PBGDPL nhằm gắn kết giữa công tác xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật, nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật của người dân doanh nghiệp, trong đó quy định dự thảo chính sách là một trong nội dung PBGDPL; thời điểm truyền thông; cơ chế và trách nhiệm của các cơ quan thông tin, báo chí trong công tác truyền thông chính sách, PBGDPL.

Quy định về Cổng Pháp luật quốc gia là nền tảng số pháp lý dùng chung; ban hành văn bản cập nhật trên Cơ sở dữ liệu pháp luật quốc gia, giá trị pháp lý của văn bản trên Cổng Pháp luật quốc gia.

Quy định các cách thức truyền thông chính sách, PBGDPL qua ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; việc xây dựng, duy trì, quản lý các cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin PBGDPL phục vụ nhu cầu tiếp cận, tìm hiểu, khai thác thông tin pháp luật của người dân, doanh nghiệp.

Dự kiến 06 nhóm chính sách trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Các đại biểu tham dự Tọa đàm

Hoàn thiện quy định về nguồn lực phổ biến giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay

Để thực hiện Chính sách, giải pháp tối ưu được lựa chọn như: Sửa đổi, bổ sung quy định về báo cáo viên pháp luật theo hướng phân cấp cho người đứng đầu các bộ, cơ quan, tổ chức Trung ương có thẩm quyền quyết định công nhận, miễn nhiệm, quy định trình tự thủ tục công nhận, miễn nhiệm và quản lý báo cáo viên pháp luật của bộ, cơ quan; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định công nhận, miễn nhiệm, quy định trình tự, thủ tục và quản lý báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh. Quy định về nội dung phát huy hiệu quả và lồng ghép PBGDPL trong hoạt động xét xử, công tố của Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, hoạt động hòa giải ở cơ sở của Tổ hòa giải, hoạt động nghề nghiệp và dịch vụ pháp lý của các tổ chức, cá nhân làm nghề dịch vụ có tính chất pháp lý (luật sư, tư vấn viên pháp luật, trợ giúp viên pháp lý, công chứng viên...); bổ sung quy định trách nhiệm của tổ chức dịch vụ pháp lý trong phát huy hiệu quả và lồng ghép PBGDPL. Bổ sung và quy định một số chính sách hỗ trợ, động viên, khuyến khích thẩm phán, kiểm sát viên, hòa giải viên và những người làm dịch vụ có tính chất pháp lý tích cực tham gia PBGDPL. Tiếp tục xác định kinh phí PBGDPL do ngân sách nhà nước bảo đảm. Bổ sung quy định cơ chế tài chính đặc biệt về PBGDPL cho các nhóm đối tượng đặc thù, địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số và miền núi. Sửa đổi quy định về xã hội hóa công tác PBGDPL theo hướng phân quyền cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Giao Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện cơ chế tài chính đặc biệt...

Uyên Nhi

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Xây dựng môi trường kinh doanh bất động sản thông thoáng, minh bạch, an toàn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân

Chính sách xây dựng Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi) tập trung hoàn thiện các quy định hiện hành liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản; làm rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia thị trường; đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý

Chiều ngày 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý. Kết quả biểu quyết có 494/494 đại biểu Quốc hội có mặt tham gia biểu quyết tán thành với việc thông qua Luật này, chiếm tỷ lệ 100% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết và chiếm 98,80% tổng số đại biểu Quốc hội.
Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Quốc hội thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) với tỷ lệ 98,40%

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội khóa XVI biểu quyết thông qua Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả biểu quyết cho thấy, có 492/493 đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành thông qua luật này (chiếm tỷ lệ 98,04% số ĐBQH).
Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá XVI, chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Quốc hội thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60%

Chiều ngày 23/4, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, với sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, các đại biểu Quốc hội đã tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hộ tịch (sửa đổi) với tỷ lệ 97,60% tán thành.
Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Bảo đảm chính sách ưu tiên đối với các nhóm đối tượng đặc thù trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Các chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được xây dựng nhằm giải quyết các hạn chế, khó khăn, vướng mắc do quy định của Luật năm 2012; đồng thời đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, đa dạng phương thức, truyền thông chính sách ngay từ khi soạn thảo.
Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trong giai đoạn mới

Chiều 23/4, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh, Quốc hội đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (đạt tỷ lệ 100%).
Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất để quản lý viên chức theo vị trí việc làm

Thực hiện quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, chiều ngày 22/4/2026, Bộ Tư pháp tổ chức cuộc họp Hội đồng thẩm định đối với dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm (dự thảo Nghị định). Đồng chí Nguyễn Thị Hạnh, Cục trưởng Cục Pháp luật hình sự - hành chính và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp chủ trì cuộc họp. Tham dự cuộc họp có đồng chí Trương Hải Long, Thứ trưởng Bộ Nội vụ và các thành viên Hội đồng thẩm định gồm đại diện các bộ Công an, Quốc phòng, Tài chính, Ngoại giao, Khoa học và Công nghệ, Công Thương, Nông nghiệp và Môi trường, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Y tế, Giáo dục và Đào tạo; Sở Nội vụ thành phố Hà Nội và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Đại biểu Quốc hội: Tăng lương ở mức nào vừa bảo đảm đời sống, vừa phù hợp với khả năng ngân sách?

Tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 21/4, Quốc hội thảo luận tại hội trường, về đánh giá bổ sung kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước năm 2025; tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2026. Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành Phiên họp.

Theo dõi chúng tôi trên: