Thứ ba 08/09/2026 19:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.

Từ khóa: yêu cầu; bản lĩnh chính trị; chất lượng đội ngũ; tiêu chí; công chức thi hành án dân sự.

Nhận bài: 07/10/2025 Hoàn thành biên tập: 03/6/2026 Duyệt đăng: 09/6/2026

SOME PROPOSALS FOR IMPROVING CRITERIA FOR EVALUATING THE QUALITY OF PUBLIC SERVANTS WORKING IN CIVIL JUDGMENT EXECUTION IN THE CURRENT PERIOD

Abstract: The criteria for evaluating the quality of public servants working in civil judgment execution are a set of indicators/groups of indicators reflecting the competence, official conduct, moral character, and performance of public servants in civil judgment execution. These criteria are used to measure, compare, and improve the work performance of the civil judgment execution team. Research shows that currently, quality evaluation criteria are lacking, especially those reflecting political acumen, professional ethics, and reformist thinking. Therefore, this study analyzes and clarifies the theoretical basis for developing quality evaluation criteria for public servants working in civil judgment execution based on modern public service management, linked to job positions, competency frameworks, and performance results. Based on an analysis of current legal regulations, the study identifies achievements while also recognizing limitations and shortcomings in the current evaluation system. Therefore, the study proposes an evaluation criteria system that combines general criteria for public servants with specific criteria for each position such as Execution Officer, Inspector, and Execution Secretary, in order to improve the quality of the public servants of civil judgment execution sector to meet the requirements of building and completing the socialist rule of law in Vietnam by 2030.

Keywords: Requirements; political integrity; quality of personnel; criteria; public servants of civil judgment execution.

Article received: 07/10/2025 Editing completed: 03/6/2026 Approved for publication: 09/6/2026

Đặt vấn đề

Công chức làm công tác thi hành án dân sự không chỉ thi hành nhiệm vụ theo pháp luật, mà còn tham gia trực tiếp vào việc duy trì kỷ cương, trật tự xã hội. Hoạt động này góp phần khẳng định nguyên tắc mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và thi hành nghiêm túc. Điều này vừa thể hiện quyền lực của Nhà nước, vừa bảo đảm pháp luật không chỉ dừng ở những quy định trừu tượng, mà trở thành công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội, bảo vệ công lý và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn đánh giá công chức trong lĩnh vực này còn có khoảng cách giữa tiêu chí chung của công chức với yêu cầu riêng của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án; giữa đánh giá có tính chất định tính với đánh giá dựa trên vị trí việc làm, khung năng lực và sản phẩm công việc cụ thể. Trong bối cảnh hệ thống thi hành án dân sự đang đẩy mạnh cải cách tổ chức, chuyển đổi số và quản lý theo dữ liệu, việc nghiên cứu xây dựng hệ tiêu chí đánh giá khoa học, khách quan, có khả năng lượng hóa là cần thiết nhằm nhận diện đúng chất lượng công chức, làm căn cứ bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự.

1. Cơ sở xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự

Công chức làm công tác thi hành án dân sự là công dân Việt Nam được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong hệ thống thi hành án dân sự, từ cơ quan quản lý thi hành án dân sự ở trung ương đến các cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nếu Tòa án được coi là nơi xác định sự thật khách quan, tuyên bố công lý thì công chức làm công tác thi hành án dân sự là chủ thể bảo đảm công lý được hiện thực hóa trong đời sống xã hội. Vai trò của công chức làm công tác thi hành án dân sự vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống tư pháp, vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Trong hệ thống thi hành án dân sự, bên cạnh các ngạch công chức hành chính theo quy định chung, do yếu tố đặc thù của công việc thi hành án dân sự mà hệ thống thi hành án dân sự còn được bố trí các ngạch công chức tương đương. Công chức làm công tác thi hành án dân sự gồm Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức và người làm công tác khác[1].

Việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự phải đặt trong nền tảng lý luận chung của khoa học hành chính công và quản trị nhân lực khu vực công. Theo hướng tiếp cận hiện đại, đánh giá công chức không chỉ đánh giá các phẩm chất mang tính định tính, mà phải chuyển sang mô hình đánh giá dựa trên năng lực. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng, kể từ khi OECD công bố báo cáo về quản lý năng lực vào năm 2011, phần lớn các quốc gia thành viên OECD đã chuyển sang quản lý năng lực của công chức nhà nước[2]. Cách tiếp cận này có ý nghĩa trực tiếp đối với khu vực công trong bối cảnh số hóa, khi chất lượng công chức không chỉ thể hiện ở kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, mà còn ở năng lực thích ứng, phục vụ công dân và sử dụng dữ liệu trong thực thi nhiệm vụ.

Từ góc nhìn lý thuyết về năng lực, nhiều nghiên cứu cho thấy, hiệu quả công việc không chỉ được đánh giá qua bằng cấp mà phải được nhìn từ tổng thể các yếu tố như tri thức, kỹ năng, động cơ, thái độ, hành vi nghề nghiệp và khả năng thích ứng với yêu cầu công việc. Tinh thần cốt lõi của cách tiếp cận này là: chất lượng công chức chỉ có thể được đánh giá chính xác khi gắn với yêu cầu cụ thể của vị trí việc làm và sản phẩm công việc thực tế. Đây là hướng mà một số nghiên cứu đã chỉ ra, đánh giá công chức đang chuyển mạnh từ định tính sang định lượng, lấy kết quả đầu ra, sự hài lòng của người dân, KPI, phản hồi 360 độ và khung năng lực làm công cụ trung tâm[3].

Đối với ngành thi hành án dân sự, cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá còn xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động thi hành án. Thi hành án dân sự là giai đoạn bảo đảm cho phán quyết của Tòa án được hiện thực hóa, vì vậy, công chức thi hành án dân sự không chỉ là công chức hành chính thuần túy, mà còn là chủ thể trực tiếp tham gia bảo đảm công lý trên thực tế. Tính đặc thù này đòi hỏi tiêu chí đánh giá phải kết hợp yêu cầu chung của hoạt động công vụ với yêu cầu riêng của hoạt động thi hành án, gồm tính đúng pháp luật, tiến độ, hiệu quả thi hành, khả năng xử lý tình huống phức tạp, phối hợp liên ngành và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.

Một số nghiên cứu chỉ rõ, hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền phải được nhìn nhận không chỉ qua số lượng việc, tiền thi hành xong, mà còn qua chất lượng thực thi pháp luật (thời gian thi hành án ngắn nhất, chi phí thi hành án dân sự thấp nhất; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm yếu tố nhân đạo và an sinh xã hội, xây dựng môi trường chính trị xã hội ổn định; chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật về thi hành án dân sự được tuân thủ, thực thi công bằng, bình đẳng, dân chủ, nhất quán và nghiêm minh…)[4]. Từ đó, tiêu chí đánh giá công chức thi hành án dân sự phải phản ánh được kết quả cuối cùng và chất lượng của toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án.

Từ các phân tích trên cho thấy, hệ tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự cần dựa trên bốn yếu tố: quản trị công vụ theo vị trí việc làm; quản trị theo năng lực; đánh giá theo kết quả, sản phẩm công việc; đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự. Chỉ trên nền tảng này, hệ tiêu chí mới bảo đảm tính khoa học, tính đo lường, tính phân hóa và khả năng áp dụng vào thực tiễn quản lý đội ngũ công chức trong toàn hệ thống.

2. Thực trạng quy định của pháp luật về tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức thi hành án dân sự

Tiêu chí đánh giá công chức ngành thi hành án dân sự được xác định dựa trên ba nhóm căn cứ pháp lý có mối quan hệ với nhau, gồm: quy định pháp luật chung về công chức, quy định pháp luật chuyên ngành thi hành án dân sự và hệ thống văn bản quản lý, điều hành nội bộ của ngành. Cách tiếp cận này cho thấy, việc đánh giá công chức thi hành án dân sự không phải là hoạt động biệt lập, mà luôn có sự gắn kết giữa quản trị công vụ nói chung và yêu cầu đặc thù của hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Ở nhóm căn cứ thứ nhất,Nghị định số 335/2025/NĐ-CP ngày 21/12/2025 của Chính phủ quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với cơ quan hành chính nhà nước và công chức (Nghị định số 335/2025/NĐ-CP) tạo khuôn khổ mới cho đánh giá công chức theo hướng dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan, xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm công việc cụ thể. Tuy nhiên, đây là văn bản áp dụng chung cho toàn bộ công chức, nên Nghị định này mới dừng ở khung đánh giá nền tảng, chưa thể hiện đầy đủ những số liệu đặc thù của lĩnh vực thi hành án dân sự như chất lượng giải quyết vụ việc thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc kiểm soát sai sót trong hồ sơ thi hành án…

Ở nhóm căn cứ thứ hai, Luật Thi hành án dân sự năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành tạo khuôn khổ mới cho tổ chức bộ máy, chức danh, điều kiện bảo đảm hoạt động trong hệ thống thi hành án dân sự. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và yêu cầu đối với từng nhóm chức danh, mà chưa hình thành thành hệ tiêu chí đánh giá chuyên biệt. Nói cách khác, pháp luật chuyên ngành đã làm rõ công chức thi hành án dân sự là ai, làm gì, chịu trách nhiệm gì, nhưng chưa lượng hóa đầy đủ chất lượng được đo bằng tiêu chí cụ thể.

Ở nhóm căn cứ thứ ba, các văn bản quản lý, điều hành nội bộ của hệ thống thi hành án dân sự đã bước đầu hình thành những tiêu chí trực tiếp hơn cho đánh giá chất lượng công chức. Điển hình là Quyết định số 763/QĐ-BTP ngày 02/5/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về phê duyệt danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự (Quyết định số 763/QĐ-BTP) và Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS ngày 31/12/2025 của Cục trưởng Cục Quản lý thi hành án dân sự về việc giao chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương năm 2026 (Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS).

Trong hệ thống văn bản nội bộ về giao và tổ chức thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính năm 2026, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ là văn bản giao chỉ tiêu tổng hợp cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương, mà còn đặt ra cơ sở định lượng và trách nhiệm tổ chức thực hiện cụ thể đối với từng cấp, từng đơn vị và từng chức danh trực tiếp thực hiện nhiệm vụ. Theo Quyết định này, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương phải bảo đảm ra quyết định thi hành án đúng quy định đối với 100% bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực pháp luật; phấn đấu đạt tỷ lệ thi hành xong trên 84,3% về việc và trên 56,2% về tiền trên tổng số có điều kiện thi hành, với mức chỉ tiêu cụ thể được giao cho từng địa phương tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2. Đồng thời, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ về thi hành án tham nhũng, kinh tế, tín dụng ngân hàng, xác minh và phân loại án, theo dõi thi hành án hành chính, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Đặc biệt, Phụ lục 3 của Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS cụ thể hóa các nhóm giải pháp thực hiện, trong đó, nhấn mạnh trách nhiệm của Trưởng thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Trưởng phòng thi hành án dân sự khu vực và Chấp hành viên trong kiểm soát hồ sơ, đôn đốc tiến độ, xử lý dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành, nhất là các vụ việc kéo dài, giá trị lớn, phức tạp. Có thể thấy, xét dưới góc độ đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS không chỉ đặt ra các tiêu chí định lượng về kết quả thi hành án, mà còn hình thành căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện, khả năng phối hợp và chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức, nhất là Chấp hành viên và công chức giữ vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống thi hành án dân sự địa phương.

Cùng với đó, Quyết định số 763/QĐ-BTP phê duyệt danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, bản mô tả công việc và khung năng lực của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự. Như vậy, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS và Quyết định số 763/QĐ-BTP cho thấy, pháp luật và văn bản quản lý nội bộ ngành đã hình thành hai căn cứ để đánh giá chất lượng công chức: mức độ hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác và mức độ phù hợp giữa năng lực cá nhân với yêu cầu vị trí việc làm. Tuy nhiên, hai căn cứ này hiện mới tồn tại song song, chưa được tích hợp thành một bộ tiêu chí thống nhất.

3. Đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự

Từ cơ sở lý luận về đánh giá công chức theo vị trí việc làm, chuẩn năng lực và kết quả đầu ra, đồng thời, xuất phát từ thực trạng pháp luật đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự hiện nay, hệ tiêu chí đánh giá cần được thiết kế theo hướng kết hợp giữa khung tiêu chí chung của công chức với các tiêu chí đặc thù của lĩnh vực thi hành án dân sự. Khung tiêu chí đó phải vừa bảo đảm thống nhất với Nghị định số 335/2025/NĐ-CP, vừa phản ánh yêu cầu riêng của ngành theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025, cơ chế giao chỉ tiêu công tác và mô hình quản trị nhân sự theo vị trí việc làm, khung năng lực.

Về cấu trúc, hệ tiêu chí nên được xây dựng theo hai nhóm. Nhóm thứ nhất là các tiêu chí chung áp dụng cho toàn bộ công chức ngành thi hành án dân sự, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong đánh giá công vụ. Nhóm thứ hai là các tiêu chí đặc thù theo từng chức danh, được thiết kế trên cơ sở bản mô tả công việc, khung năng lực vị trí việc làm và sản phẩm công việc thực tế của từng nhóm vị trí. Cách tiếp cận này vừa tránh tình trạng bình quân, dàn đều, vừa bảo đảm thống nhất trong quản trị đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự.

3.1. Nhóm tiêu chí chung áp dụng đối với công chức ngành thi hành án dân sự

Nhóm tiêu chí chung áp dụng đối với công chức ngành thi hành án dân sự gồm bốn nhóm sau:

Một là, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật công vụ. Đây là nhóm tiêu chí nền tảng, bởi công chức ngành thi hành án dân sự trực tiếp nhân danh quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Chất lượng công chức phải thể hiện ở sự trung thành với Tổ quốc, với Hiến pháp, sự kiên định trong thực thi pháp luật, tính liêm chính, khách quan, không vụ lợi, không né tránh trách nhiệm và không để phát sinh vi phạm đạo đức công vụ. Nhóm tiêu chí này phù hợp với định hướng của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách…[5].

Hai là, trình độ, năng lực chuyên môn và mức độ đáp ứng khung năng lực vị trí việc làm. Nhóm này không chỉ dừng ở trình độ đào tạo, chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo ngạch công chức, mà cần đánh giá trực tiếp mức độ phù hợp giữa năng lực thực tế của công chức với yêu cầu của vị trí việc làm đang đảm nhiệm. Trong bối cảnh thi hành án dân sự vận hành ngày càng mạnh theo dữ liệu và quy trình điện tử, nhóm tiêu chí này gồm cả khả năng sử dụng hệ thống thông tin, chuyển đổi số và độ chính xác trong cập nhật dữ liệu nghiệp vụ.

Ba là, chất lượng thực hiện công việc gắn với kết quả, tiến độ và sản phẩm công vụ cụ thể. Đây là nhóm tiêu chí trung tâm trong đánh giá công chức hiện nay. Tuy nhiên, kết quả công việc của công chức thi hành án dân sự không thể chỉ đánh giá bằng một chỉ số đơn lẻ, mà phải kết hợp giữa số lượng công việc, tiến độ, chất lượng của công việc, mức độ đúng quy trình, khả năng phối hợp và mức độ phát sinh sai sót. Cơ chế giao chỉ tiêu theo Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS là cơ sở quan trọng để lượng hóa nhóm tiêu chí này, nhưng phải được kết hợp với tiêu chí định tính để tránh đồng nhất chất lượng công chức với một vài tỷ lệ thi hành án chung.

Bốn là, khả năng phối hợp, trách nhiệm giải trình và thích ứng với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy. Công chức thi hành án dân sự không chỉ làm việc trong phạm vi nhiệm vụ cá nhân, mà còn vận hành trong cơ cấu bộ máy tinh, gọn hơn, yêu cầu phối hợp mạnh hơn. Vì vậy, khả năng phối hợp với các chủ thể liên quan, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch trong xử lý hồ sơ và mức độ thích ứng với đổi mới quản trị phải trở thành tiêu chí đánh giá chính thức.

3.2. Tiêu chí đặc thù đối với Chấp hành viên

Chấp hành viên là chức danh trung tâm của hoạt động thi hành án dân sự, trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Ngoài các tiêu chí chung, hệ tiêu chí đặc thù đối với Chấp hành viên cần tập trung vào bốn nhóm chính:

Một là, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ. Chấp hành viên là chức danh dễ chịu tác động của lợi ích vật chất và áp lực xã hội, do đó, việc đánh giá phải coi trọng tiêu chí liêm chính, khách quan, không tiêu cực, không vi phạm trình tự, thủ tục và không để xảy ra hành vi lợi dụng thẩm quyền trong thi hành án.

Hai là, năng lực tổ chức thi hành án và áp dụng pháp luật thi hành án dân sự. Tiêu chí này phản ánh khả năng ra quyết định về thi hành án đúng thẩm quyền, đúng thời hạn; thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đúng quy định; xử lý tài sản đúng pháp luật; bảo đảm thi hành đúng nội dung bản án, quyết định. Đây là nhóm tiêu chí cốt lõi phản ánh năng lực nghề nghiệp đặc thù của Chấp hành viên.

Ba là, kết quả thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Cần đánh giá Chấp hành viên theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu về việc, về tiền, tiến độ xử lý hồ sơ, số lượng vụ việc có điều kiện thi hành được giải quyết, chất lượng quản lý hồ sơ và mức độ cập nhật đầy đủ diễn biến thi hành án. Tuy nhiên, kết quả chỉ tiêu phải được đặt trong mối quan hệ với độ khó của vụ việc, điều kiện tổ chức thi hành án, số lượng nhân sự, số lượng hồ sơ và tính hợp pháp của kết quả đạt được.

Bốn là, kỹ năng xử lý tình huống, phối hợp liên ngành và tiếp công dân. Đặc thù của Chấp hành viên không chỉ thực hiện thủ tục tổ chức thi hành án, mà còn phải xử lý xung đột, làm việc với đương sự, phối hợp với chính quyền địa phương, công an, cơ quan đăng ký tài sản, tổ chức đấu giá và nhiều chủ thể khác. Vì vậy, chất lượng Chấp hành viên phải được đánh giá qua kỹ năng phối hợp, xử lý tình huống nghiệp vụ, hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải trình.

3.3. Tiêu chí đặc thù đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự

Đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự, cần xuất phát từ đặc thù của chức danh này thiên về kiểm tra, thẩm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trong một số nhiệm vụ thuộc hoạt động thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính. Hệ tiêu chí đặc thù đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự cần tập trung vào ba nhóm chính sau:

Một là, chất lượng công tác thẩm tra, kiểm tra và tham mưu. Tiêu chí này phản ánh khả năng nghiên cứu hồ sơ, phát hiện vấn đề pháp lý, xác định sai sót, tham mưu xử lý vụ việc đúng quy định, chất lượng dự thảo văn bản, báo cáo, kết luận kiểm tra và giá trị tham mưu đối với người đứng đầu đơn vị.

Hai là, chất lượng tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và hạn chế phát sinh đơn thư kéo dài. Các nhiệm vụ như tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra chuyên đề, thẩm tra hồ sơ là nhiệm vụ thực tế của Thẩm tra viên. Việc đánh giá cần gắn với kết quả thực hiện, mức độ sai sót, khả năng phát hiện vi phạm, chất lượng tham mưu và tình trạng phát sinh đơn thư kéo dài.

Ba là, năng lực phối hợp, thống kê, báo cáo và sử dụng dữ liệu nghiệp vụ. Trong điều kiện hiện nay, Thẩm tra viên thi hành án dân sự không chỉ giỏi kỹ năng nghiệp vụ, mà còn phải có năng lực xử lý dữ liệu, tổng hợp thông tin, lập báo cáo chính xác, kịp thời, phục vụ công tác chỉ đạo điều hành và kiểm soát nội bộ. Vì vậy, tiêu chí đánh giá Thẩm tra viên thi hành án dân sự cần gắn thêm với độ chính xác, tính kịp thời và khả năng khai thác dữ liệu để phát hiện, cảnh báo rủi ro trong thi hành án dân sự.

3.4. Tiêu chí đặc thù đối với Thư ký thi hành án dân sự

Đối với Thư ký thi hành án dân sự, hệ tiêu chí đánh giá phải phản ánh đúng bản chất hỗ trợ nghiệp vụ, bảo đảm quy trình và chất lượng hồ sơ của chức danh này. Vì vậy, hệ tiêu chí đánh giá cần tập trung vào ba nhóm chính:

Một là, chất lượng hỗ trợ nghiệp vụ cho Chấp hành viên và Thẩm tra viên thi hành án dân sự. Tiêu chí này cần đánh giá mức độ đầy đủ, đúng quy trình trong việc chuẩn bị hồ sơ, lập dự thảo văn bản, ghi chép biên bản, tống đạt giấy tờ, hỗ trợ xác minh, xây dựng hồ sơ thi hành án, lưu trữ tài liệu và các công việc nghiệp vụ khác theo phân công. Đây là phần công việc cơ bản nhất của Thư ký thi hành án dân sự.

Hai là, tính chính xác, kịp thời và chuẩn hóa của hồ sơ, dữ liệu nghiệp vụ. Trong môi trường quản lý theo dữ liệu và hồ sơ điện tử, Thư ký thi hành án dân sự giữ vai trò rất quan trọng bảo đảm hồ sơ đầy đủ, đúng thể thức, được cập nhật kịp thời, đúng tiến độ, hạn chế tối đa sai sót kỹ thuật và sai lệch dữ liệu. Do đó, đánh giá Thư ký thi hành án dân sự phải gắn với độ chính xác của biên bản, văn bản, tình trạng chậm trễ trong hỗ trợ tác nghiệp, mức độ hoàn chỉnh của hồ sơ và khả năng làm việc trên nền tảng số.

Ba là, tinh thần trách nhiệm, phối hợp và kỷ luật công vụ. Dù không trực tiếp ra quyết định thi hành án như Chấp hành viên, chất lượng công việc của Thư ký thi hành án dân sự ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và tính đúng pháp luật của cả quy trình nghiệp vụ. Vì vậy, cần đánh giá Thư ký thi hành án dân sự trên phương diện trách nhiệm trong phối hợp, tính chủ động, tính cẩn trọng, ý thức chấp hành thời hạn và khả năng hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động nghiệp vụ chung của đơn vị.

Như vậy, hệ tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự trong giai đoạn tới cần được xây dựng theo logic: tiêu chí chung của công chức, tiêu chí đặc thù của thi hành án dân sự, tiêu chí riêng theo từng chức danh, tiêu chí gắn với chỉ tiêu công tác và vị trí việc làm. Trên cơ sở đó, công tác đánh giá mới phản ánh đúng thực chất chất lượng công chức, tạo căn cứ cho bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thi hành án dân sự.

Kết luận

Trong bối cảnh pháp luật và tổ chức bộ máy đang có sự thay đổi mạnh mẽ, việc hoàn thiện hệ tiêu chí đánh giá theo hướng khoa học, đặc thù, khả thi và có khả năng lượng hóa là điều kiện quan trọng để xây dựng đội ngũ công chức thi hành án dân sự chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại và đáp ứng yêu cầu phát triển đến năm 2030. Hệ tiêu chí đó cần kết hợp tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của ngành, gắn kết quả thi hành án với chất lượng hồ sơ, trách nhiệm giải trình, năng lực phối hợp, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyển đổi số. Chỉ khi đánh giá đúng, thực chất và công bằng, công tác quản lý, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng công chức thi hành án dân sự mới có cơ sở vững chắc để nâng cao chất lượng đội ngũ và hiệu quả thực thi pháp luật trong giai đoạn mới.

PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng & TS. Bùi Nguyễn Phương Lê

Phó Giám đốc Học viện Tư pháp

Trưởng Khoa Đào tạo Các chức danh thi hành án dân sự và Thừa hành viên, Học viện Tư pháp

* Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ của Đề án nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2025 - 2026: “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030”.

[1]. Khoản 2 Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

[2]. OECD (2020), Skills for a High Performing Civil Service, p.60, https://www.oecd.org/en/publications/skills-for-a-high-performing-civil-service_9789264280724-en.html, truy cập ngày 22/4/2026.

[3]. Nguyễn Minh Hải (2025), Nâng cao hiệu quả áp dụng tiêu chí đánh giá công chức ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, (356), 42-45, https://doi.org/10.59394/qlnn.356.2025.1285; Võ Chí Vương (2025), Đổi mới phương pháp đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức bằng KPI ở tỉnh Khánh Hòa, https://tcnnld.vn/news/detail/69417/Doi-moi-phuong-phap-danh-gia-phan-loai-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-bang-KPI-o-tinh-Khanh-Hoa.html; HuyềnTrang (2025), Đánh giá công chức bằng KPI: Bảo đảm công bằng và hiệu quả, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/danh-gia-cong-chuc-bang-kpi-bao-dam-cong-bang-va-hieu-qua-882646, truy cập ngày 22/4/2026.

[4]. TS. Nguyễn Quang Thái, PGS.TS. Bùi Thị Huyền (2023), Bàn về hiệu quả công tác thi hành án dân sự và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 1, tr.187.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục Quản lý thi hành án dân sự, Công văn số 872/CQLTHADS-BCĐS&TKDL ngày 18/3/2026 về việc đôn đốc thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính 05 tháng đầu năm 2026 theo Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 1.

3. Đặng Thị Hồng Hoa, Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ hiện nay, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tri-thuc-doanh-nhan/-/2018/40030/chat-luong-va-tieu-chi-danh-gia-chat-luong-doi-ngu-can-bo-hien-nay.aspx, truy cập ngày 22/4/2026.

4. Huyền Trang (2025), Đánh giá công chức bằng KPI: Bảo đảm công bằng và hiệu quả, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/danh-gia-cong-chuc-bang-kpi-bao-dam-cong-bang-va-hieu-qua-882646, truy cập ngày 22/4/2026.

5. Nguyễn Hoàng Việt (2023), Bản lĩnh chính trị - Yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong lãnh đạo của Đảng, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/828852/%C2%A0ban-linh-chinh-tri---yeu-to-quan-trong-quyet-dinh-su-thanh-cong-trong-lanh-dao-cua-dang.aspx, truy cập ngày 22/4/2026

6. Nguyễn Minh Hải (2025), Nâng cao hiệu quả áp dụng tiêu chí đánh giá công chức ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, (356), 42-45, https://doi.org/10.59394/qlnn.356.2025.1285, truy cập ngày 22/4/2026.

7. OECD (2020), Skills for a High Performing Civil Service, https://www.oecd.org/en/publications/skills-for-a-high-performing-civil-service_9789264280724-en. html, truy cập ngày 22/4/2026.

8. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2026), Nghị quyết số 57-NQ/TW và đột phá chuyển đổi số trong công tác thi hành án dân sự, https://danchuphapluat.vn/nghi-quyet-so-57-nqtw-va-dot-pha-chuyen-doi-so-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-8395.html, truy cập ngày 22/4/2026.

9. Trang thông tin thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ, Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Từ công cụ kỹ thuật đến thiết chế minh bạch hóa quy trình, https://thi hành án dân sự.moj.gov.vn/cantho/ tin-tuc/chi-tiet/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-ang- tu-thuc-tien-sap-xep-tinh-gon-bo-may-he-thong-thi-hanh-an-dan-su-ky-3-chuyen-oi-so-trong-thi-hành-án-dânsự-tu-cong-cu-ky-thuat-en-thiet-che-minh-bach-hoa-quy-trinh-te580a7743.html, truy cập ngày 22/4/2026.

10. TS. Đào Thị Thanh Thủy (2022), Lý thuyết đánh giá công chức theo kết quả thực thi công vụ, https://lyluanchinhtri.vn/ly-thuyet-danh-gia-cong-chuc-theo-ket-qua-thuc-thi-cong-vu-2147.html, truy cập ngày 22/4/2026.

11. TS. Nguyễn Quang Thái, PGS.TS. Bùi Thị Huyền (2023), Bàn về hiệu quả công tác thi hành án dân sự và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (454) tháng 6/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Tóm tắt: Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là yêu cầu quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; trong đó, không thể thiếu sự đóng góp của các doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; nghiên cứu đánh giá thực tiễn sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế những năm qua; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các doanh nghiệp, với tư cách là một thành tố cơ bản trong xây dựng, phát triển đất nước và chủ thể đồng kiến tạo thể chế, phục vụ phát triển đất nước.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: