Từ khóa: yêu cầu; bản lĩnh chính trị; chất lượng đội ngũ; tiêu chí; công chức thi hành án dân sự.
Nhận bài: 07/10/2025 Hoàn thành biên tập: 03/6/2026 Duyệt đăng: 09/6/2026
SOME PROPOSALS FOR IMPROVING CRITERIA FOR EVALUATING THE QUALITY OF PUBLIC SERVANTS WORKING IN CIVIL JUDGMENT EXECUTION IN THE CURRENT PERIOD
Abstract: The criteria for evaluating the quality of public servants working in civil judgment execution are a set of indicators/groups of indicators reflecting the competence, official conduct, moral character, and performance of public servants in civil judgment execution. These criteria are used to measure, compare, and improve the work performance of the civil judgment execution team. Research shows that currently, quality evaluation criteria are lacking, especially those reflecting political acumen, professional ethics, and reformist thinking. Therefore, this study analyzes and clarifies the theoretical basis for developing quality evaluation criteria for public servants working in civil judgment execution based on modern public service management, linked to job positions, competency frameworks, and performance results. Based on an analysis of current legal regulations, the study identifies achievements while also recognizing limitations and shortcomings in the current evaluation system. Therefore, the study proposes an evaluation criteria system that combines general criteria for public servants with specific criteria for each position such as Execution Officer, Inspector, and Execution Secretary, in order to improve the quality of the public servants of civil judgment execution sector to meet the requirements of building and completing the socialist rule of law in Vietnam by 2030.
Keywords: Requirements; political integrity; quality of personnel; criteria; public servants of civil judgment execution.
Article received: 07/10/2025 Editing completed: 03/6/2026 Approved for publication: 09/6/2026
Đặt vấn đề
Công chức làm công tác thi hành án dân sự không chỉ thi hành nhiệm vụ theo pháp luật, mà còn tham gia trực tiếp vào việc duy trì kỷ cương, trật tự xã hội. Hoạt động này góp phần khẳng định nguyên tắc mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và thi hành nghiêm túc. Điều này vừa thể hiện quyền lực của Nhà nước, vừa bảo đảm pháp luật không chỉ dừng ở những quy định trừu tượng, mà trở thành công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội, bảo vệ công lý và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn đánh giá công chức trong lĩnh vực này còn có khoảng cách giữa tiêu chí chung của công chức với yêu cầu riêng của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án; giữa đánh giá có tính chất định tính với đánh giá dựa trên vị trí việc làm, khung năng lực và sản phẩm công việc cụ thể. Trong bối cảnh hệ thống thi hành án dân sự đang đẩy mạnh cải cách tổ chức, chuyển đổi số và quản lý theo dữ liệu, việc nghiên cứu xây dựng hệ tiêu chí đánh giá khoa học, khách quan, có khả năng lượng hóa là cần thiết nhằm nhận diện đúng chất lượng công chức, làm căn cứ bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự.
1. Cơ sở xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự
Công chức làm công tác thi hành án dân sự là công dân Việt Nam được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong hệ thống thi hành án dân sự, từ cơ quan quản lý thi hành án dân sự ở trung ương đến các cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nếu Tòa án được coi là nơi xác định sự thật khách quan, tuyên bố công lý thì công chức làm công tác thi hành án dân sự là chủ thể bảo đảm công lý được hiện thực hóa trong đời sống xã hội. Vai trò của công chức làm công tác thi hành án dân sự vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống tư pháp, vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Trong hệ thống thi hành án dân sự, bên cạnh các ngạch công chức hành chính theo quy định chung, do yếu tố đặc thù của công việc thi hành án dân sự mà hệ thống thi hành án dân sự còn được bố trí các ngạch công chức tương đương. Công chức làm công tác thi hành án dân sự gồm Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức và người làm công tác khác[1].
Việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự phải đặt trong nền tảng lý luận chung của khoa học hành chính công và quản trị nhân lực khu vực công. Theo hướng tiếp cận hiện đại, đánh giá công chức không chỉ đánh giá các phẩm chất mang tính định tính, mà phải chuyển sang mô hình đánh giá dựa trên năng lực. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng, kể từ khi OECD công bố báo cáo về quản lý năng lực vào năm 2011, phần lớn các quốc gia thành viên OECD đã chuyển sang quản lý năng lực của công chức nhà nước[2]. Cách tiếp cận này có ý nghĩa trực tiếp đối với khu vực công trong bối cảnh số hóa, khi chất lượng công chức không chỉ thể hiện ở kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, mà còn ở năng lực thích ứng, phục vụ công dân và sử dụng dữ liệu trong thực thi nhiệm vụ.
Từ góc nhìn lý thuyết về năng lực, nhiều nghiên cứu cho thấy, hiệu quả công việc không chỉ được đánh giá qua bằng cấp mà phải được nhìn từ tổng thể các yếu tố như tri thức, kỹ năng, động cơ, thái độ, hành vi nghề nghiệp và khả năng thích ứng với yêu cầu công việc. Tinh thần cốt lõi của cách tiếp cận này là: chất lượng công chức chỉ có thể được đánh giá chính xác khi gắn với yêu cầu cụ thể của vị trí việc làm và sản phẩm công việc thực tế. Đây là hướng mà một số nghiên cứu đã chỉ ra, đánh giá công chức đang chuyển mạnh từ định tính sang định lượng, lấy kết quả đầu ra, sự hài lòng của người dân, KPI, phản hồi 360 độ và khung năng lực làm công cụ trung tâm[3].
Đối với ngành thi hành án dân sự, cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá còn xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động thi hành án. Thi hành án dân sự là giai đoạn bảo đảm cho phán quyết của Tòa án được hiện thực hóa, vì vậy, công chức thi hành án dân sự không chỉ là công chức hành chính thuần túy, mà còn là chủ thể trực tiếp tham gia bảo đảm công lý trên thực tế. Tính đặc thù này đòi hỏi tiêu chí đánh giá phải kết hợp yêu cầu chung của hoạt động công vụ với yêu cầu riêng của hoạt động thi hành án, gồm tính đúng pháp luật, tiến độ, hiệu quả thi hành, khả năng xử lý tình huống phức tạp, phối hợp liên ngành và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.
Một số nghiên cứu chỉ rõ, hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền phải được nhìn nhận không chỉ qua số lượng việc, tiền thi hành xong, mà còn qua chất lượng thực thi pháp luật (thời gian thi hành án ngắn nhất, chi phí thi hành án dân sự thấp nhất; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm yếu tố nhân đạo và an sinh xã hội, xây dựng môi trường chính trị xã hội ổn định; chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật về thi hành án dân sự được tuân thủ, thực thi công bằng, bình đẳng, dân chủ, nhất quán và nghiêm minh…)[4]. Từ đó, tiêu chí đánh giá công chức thi hành án dân sự phải phản ánh được kết quả cuối cùng và chất lượng của toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án.
Từ các phân tích trên cho thấy, hệ tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự cần dựa trên bốn yếu tố: quản trị công vụ theo vị trí việc làm; quản trị theo năng lực; đánh giá theo kết quả, sản phẩm công việc; đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự. Chỉ trên nền tảng này, hệ tiêu chí mới bảo đảm tính khoa học, tính đo lường, tính phân hóa và khả năng áp dụng vào thực tiễn quản lý đội ngũ công chức trong toàn hệ thống.
2. Thực trạng quy định của pháp luật về tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức thi hành án dân sự
Tiêu chí đánh giá công chức ngành thi hành án dân sự được xác định dựa trên ba nhóm căn cứ pháp lý có mối quan hệ với nhau, gồm: quy định pháp luật chung về công chức, quy định pháp luật chuyên ngành thi hành án dân sự và hệ thống văn bản quản lý, điều hành nội bộ của ngành. Cách tiếp cận này cho thấy, việc đánh giá công chức thi hành án dân sự không phải là hoạt động biệt lập, mà luôn có sự gắn kết giữa quản trị công vụ nói chung và yêu cầu đặc thù của hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Ở nhóm căn cứ thứ nhất,Nghị định số 335/2025/NĐ-CP ngày 21/12/2025 của Chính phủ quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với cơ quan hành chính nhà nước và công chức (Nghị định số 335/2025/NĐ-CP) tạo khuôn khổ mới cho đánh giá công chức theo hướng dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan, xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm công việc cụ thể. Tuy nhiên, đây là văn bản áp dụng chung cho toàn bộ công chức, nên Nghị định này mới dừng ở khung đánh giá nền tảng, chưa thể hiện đầy đủ những số liệu đặc thù của lĩnh vực thi hành án dân sự như chất lượng giải quyết vụ việc thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc kiểm soát sai sót trong hồ sơ thi hành án…
Ở nhóm căn cứ thứ hai, Luật Thi hành án dân sự năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành tạo khuôn khổ mới cho tổ chức bộ máy, chức danh, điều kiện bảo đảm hoạt động trong hệ thống thi hành án dân sự. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và yêu cầu đối với từng nhóm chức danh, mà chưa hình thành thành hệ tiêu chí đánh giá chuyên biệt. Nói cách khác, pháp luật chuyên ngành đã làm rõ công chức thi hành án dân sự là ai, làm gì, chịu trách nhiệm gì, nhưng chưa lượng hóa đầy đủ chất lượng được đo bằng tiêu chí cụ thể.
Ở nhóm căn cứ thứ ba, các văn bản quản lý, điều hành nội bộ của hệ thống thi hành án dân sự đã bước đầu hình thành những tiêu chí trực tiếp hơn cho đánh giá chất lượng công chức. Điển hình là Quyết định số 763/QĐ-BTP ngày 02/5/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về phê duyệt danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự (Quyết định số 763/QĐ-BTP) và Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS ngày 31/12/2025 của Cục trưởng Cục Quản lý thi hành án dân sự về việc giao chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương năm 2026 (Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS).
Trong hệ thống văn bản nội bộ về giao và tổ chức thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính năm 2026, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ là văn bản giao chỉ tiêu tổng hợp cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương, mà còn đặt ra cơ sở định lượng và trách nhiệm tổ chức thực hiện cụ thể đối với từng cấp, từng đơn vị và từng chức danh trực tiếp thực hiện nhiệm vụ. Theo Quyết định này, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương phải bảo đảm ra quyết định thi hành án đúng quy định đối với 100% bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực pháp luật; phấn đấu đạt tỷ lệ thi hành xong trên 84,3% về việc và trên 56,2% về tiền trên tổng số có điều kiện thi hành, với mức chỉ tiêu cụ thể được giao cho từng địa phương tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2. Đồng thời, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ về thi hành án tham nhũng, kinh tế, tín dụng ngân hàng, xác minh và phân loại án, theo dõi thi hành án hành chính, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực thi hành án dân sự.
Đặc biệt, Phụ lục 3 của Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS cụ thể hóa các nhóm giải pháp thực hiện, trong đó, nhấn mạnh trách nhiệm của Trưởng thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Trưởng phòng thi hành án dân sự khu vực và Chấp hành viên trong kiểm soát hồ sơ, đôn đốc tiến độ, xử lý dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành, nhất là các vụ việc kéo dài, giá trị lớn, phức tạp. Có thể thấy, xét dưới góc độ đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS không chỉ đặt ra các tiêu chí định lượng về kết quả thi hành án, mà còn hình thành căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện, khả năng phối hợp và chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức, nhất là Chấp hành viên và công chức giữ vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống thi hành án dân sự địa phương.
Cùng với đó, Quyết định số 763/QĐ-BTP phê duyệt danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, bản mô tả công việc và khung năng lực của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự. Như vậy, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS và Quyết định số 763/QĐ-BTP cho thấy, pháp luật và văn bản quản lý nội bộ ngành đã hình thành hai căn cứ để đánh giá chất lượng công chức: mức độ hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác và mức độ phù hợp giữa năng lực cá nhân với yêu cầu vị trí việc làm. Tuy nhiên, hai căn cứ này hiện mới tồn tại song song, chưa được tích hợp thành một bộ tiêu chí thống nhất.
3. Đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự
Từ cơ sở lý luận về đánh giá công chức theo vị trí việc làm, chuẩn năng lực và kết quả đầu ra, đồng thời, xuất phát từ thực trạng pháp luật đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự hiện nay, hệ tiêu chí đánh giá cần được thiết kế theo hướng kết hợp giữa khung tiêu chí chung của công chức với các tiêu chí đặc thù của lĩnh vực thi hành án dân sự. Khung tiêu chí đó phải vừa bảo đảm thống nhất với Nghị định số 335/2025/NĐ-CP, vừa phản ánh yêu cầu riêng của ngành theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025, cơ chế giao chỉ tiêu công tác và mô hình quản trị nhân sự theo vị trí việc làm, khung năng lực.
Về cấu trúc, hệ tiêu chí nên được xây dựng theo hai nhóm. Nhóm thứ nhất là các tiêu chí chung áp dụng cho toàn bộ công chức ngành thi hành án dân sự, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong đánh giá công vụ. Nhóm thứ hai là các tiêu chí đặc thù theo từng chức danh, được thiết kế trên cơ sở bản mô tả công việc, khung năng lực vị trí việc làm và sản phẩm công việc thực tế của từng nhóm vị trí. Cách tiếp cận này vừa tránh tình trạng bình quân, dàn đều, vừa bảo đảm thống nhất trong quản trị đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự.
3.1. Nhóm tiêu chí chung áp dụng đối với công chức ngành thi hành án dân sự
Nhóm tiêu chí chung áp dụng đối với công chức ngành thi hành án dân sự gồm bốn nhóm sau:
Một là, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật công vụ. Đây là nhóm tiêu chí nền tảng, bởi công chức ngành thi hành án dân sự trực tiếp nhân danh quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Chất lượng công chức phải thể hiện ở sự trung thành với Tổ quốc, với Hiến pháp, sự kiên định trong thực thi pháp luật, tính liêm chính, khách quan, không vụ lợi, không né tránh trách nhiệm và không để phát sinh vi phạm đạo đức công vụ. Nhóm tiêu chí này phù hợp với định hướng của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách…[5].
Hai là, trình độ, năng lực chuyên môn và mức độ đáp ứng khung năng lực vị trí việc làm. Nhóm này không chỉ dừng ở trình độ đào tạo, chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo ngạch công chức, mà cần đánh giá trực tiếp mức độ phù hợp giữa năng lực thực tế của công chức với yêu cầu của vị trí việc làm đang đảm nhiệm. Trong bối cảnh thi hành án dân sự vận hành ngày càng mạnh theo dữ liệu và quy trình điện tử, nhóm tiêu chí này gồm cả khả năng sử dụng hệ thống thông tin, chuyển đổi số và độ chính xác trong cập nhật dữ liệu nghiệp vụ.
Ba là, chất lượng thực hiện công việc gắn với kết quả, tiến độ và sản phẩm công vụ cụ thể. Đây là nhóm tiêu chí trung tâm trong đánh giá công chức hiện nay. Tuy nhiên, kết quả công việc của công chức thi hành án dân sự không thể chỉ đánh giá bằng một chỉ số đơn lẻ, mà phải kết hợp giữa số lượng công việc, tiến độ, chất lượng của công việc, mức độ đúng quy trình, khả năng phối hợp và mức độ phát sinh sai sót. Cơ chế giao chỉ tiêu theo Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS là cơ sở quan trọng để lượng hóa nhóm tiêu chí này, nhưng phải được kết hợp với tiêu chí định tính để tránh đồng nhất chất lượng công chức với một vài tỷ lệ thi hành án chung.
Bốn là, khả năng phối hợp, trách nhiệm giải trình và thích ứng với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy. Công chức thi hành án dân sự không chỉ làm việc trong phạm vi nhiệm vụ cá nhân, mà còn vận hành trong cơ cấu bộ máy tinh, gọn hơn, yêu cầu phối hợp mạnh hơn. Vì vậy, khả năng phối hợp với các chủ thể liên quan, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch trong xử lý hồ sơ và mức độ thích ứng với đổi mới quản trị phải trở thành tiêu chí đánh giá chính thức.
3.2. Tiêu chí đặc thù đối với Chấp hành viên
Chấp hành viên là chức danh trung tâm của hoạt động thi hành án dân sự, trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Ngoài các tiêu chí chung, hệ tiêu chí đặc thù đối với Chấp hành viên cần tập trung vào bốn nhóm chính:
Một là, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ. Chấp hành viên là chức danh dễ chịu tác động của lợi ích vật chất và áp lực xã hội, do đó, việc đánh giá phải coi trọng tiêu chí liêm chính, khách quan, không tiêu cực, không vi phạm trình tự, thủ tục và không để xảy ra hành vi lợi dụng thẩm quyền trong thi hành án.
Hai là, năng lực tổ chức thi hành án và áp dụng pháp luật thi hành án dân sự. Tiêu chí này phản ánh khả năng ra quyết định về thi hành án đúng thẩm quyền, đúng thời hạn; thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đúng quy định; xử lý tài sản đúng pháp luật; bảo đảm thi hành đúng nội dung bản án, quyết định. Đây là nhóm tiêu chí cốt lõi phản ánh năng lực nghề nghiệp đặc thù của Chấp hành viên.
Ba là, kết quả thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Cần đánh giá Chấp hành viên theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu về việc, về tiền, tiến độ xử lý hồ sơ, số lượng vụ việc có điều kiện thi hành được giải quyết, chất lượng quản lý hồ sơ và mức độ cập nhật đầy đủ diễn biến thi hành án. Tuy nhiên, kết quả chỉ tiêu phải được đặt trong mối quan hệ với độ khó của vụ việc, điều kiện tổ chức thi hành án, số lượng nhân sự, số lượng hồ sơ và tính hợp pháp của kết quả đạt được.
Bốn là, kỹ năng xử lý tình huống, phối hợp liên ngành và tiếp công dân. Đặc thù của Chấp hành viên không chỉ thực hiện thủ tục tổ chức thi hành án, mà còn phải xử lý xung đột, làm việc với đương sự, phối hợp với chính quyền địa phương, công an, cơ quan đăng ký tài sản, tổ chức đấu giá và nhiều chủ thể khác. Vì vậy, chất lượng Chấp hành viên phải được đánh giá qua kỹ năng phối hợp, xử lý tình huống nghiệp vụ, hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải trình.
3.3. Tiêu chí đặc thù đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự
Đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự, cần xuất phát từ đặc thù của chức danh này thiên về kiểm tra, thẩm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trong một số nhiệm vụ thuộc hoạt động thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính. Hệ tiêu chí đặc thù đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự cần tập trung vào ba nhóm chính sau:
Một là, chất lượng công tác thẩm tra, kiểm tra và tham mưu. Tiêu chí này phản ánh khả năng nghiên cứu hồ sơ, phát hiện vấn đề pháp lý, xác định sai sót, tham mưu xử lý vụ việc đúng quy định, chất lượng dự thảo văn bản, báo cáo, kết luận kiểm tra và giá trị tham mưu đối với người đứng đầu đơn vị.
Hai là, chất lượng tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và hạn chế phát sinh đơn thư kéo dài. Các nhiệm vụ như tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra chuyên đề, thẩm tra hồ sơ là nhiệm vụ thực tế của Thẩm tra viên. Việc đánh giá cần gắn với kết quả thực hiện, mức độ sai sót, khả năng phát hiện vi phạm, chất lượng tham mưu và tình trạng phát sinh đơn thư kéo dài.
Ba là, năng lực phối hợp, thống kê, báo cáo và sử dụng dữ liệu nghiệp vụ. Trong điều kiện hiện nay, Thẩm tra viên thi hành án dân sự không chỉ giỏi kỹ năng nghiệp vụ, mà còn phải có năng lực xử lý dữ liệu, tổng hợp thông tin, lập báo cáo chính xác, kịp thời, phục vụ công tác chỉ đạo điều hành và kiểm soát nội bộ. Vì vậy, tiêu chí đánh giá Thẩm tra viên thi hành án dân sự cần gắn thêm với độ chính xác, tính kịp thời và khả năng khai thác dữ liệu để phát hiện, cảnh báo rủi ro trong thi hành án dân sự.
3.4. Tiêu chí đặc thù đối với Thư ký thi hành án dân sự
Đối với Thư ký thi hành án dân sự, hệ tiêu chí đánh giá phải phản ánh đúng bản chất hỗ trợ nghiệp vụ, bảo đảm quy trình và chất lượng hồ sơ của chức danh này. Vì vậy, hệ tiêu chí đánh giá cần tập trung vào ba nhóm chính:
Một là, chất lượng hỗ trợ nghiệp vụ cho Chấp hành viên và Thẩm tra viên thi hành án dân sự. Tiêu chí này cần đánh giá mức độ đầy đủ, đúng quy trình trong việc chuẩn bị hồ sơ, lập dự thảo văn bản, ghi chép biên bản, tống đạt giấy tờ, hỗ trợ xác minh, xây dựng hồ sơ thi hành án, lưu trữ tài liệu và các công việc nghiệp vụ khác theo phân công. Đây là phần công việc cơ bản nhất của Thư ký thi hành án dân sự.
Hai là, tính chính xác, kịp thời và chuẩn hóa của hồ sơ, dữ liệu nghiệp vụ. Trong môi trường quản lý theo dữ liệu và hồ sơ điện tử, Thư ký thi hành án dân sự giữ vai trò rất quan trọng bảo đảm hồ sơ đầy đủ, đúng thể thức, được cập nhật kịp thời, đúng tiến độ, hạn chế tối đa sai sót kỹ thuật và sai lệch dữ liệu. Do đó, đánh giá Thư ký thi hành án dân sự phải gắn với độ chính xác của biên bản, văn bản, tình trạng chậm trễ trong hỗ trợ tác nghiệp, mức độ hoàn chỉnh của hồ sơ và khả năng làm việc trên nền tảng số.
Ba là, tinh thần trách nhiệm, phối hợp và kỷ luật công vụ. Dù không trực tiếp ra quyết định thi hành án như Chấp hành viên, chất lượng công việc của Thư ký thi hành án dân sự ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và tính đúng pháp luật của cả quy trình nghiệp vụ. Vì vậy, cần đánh giá Thư ký thi hành án dân sự trên phương diện trách nhiệm trong phối hợp, tính chủ động, tính cẩn trọng, ý thức chấp hành thời hạn và khả năng hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động nghiệp vụ chung của đơn vị.
Như vậy, hệ tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự trong giai đoạn tới cần được xây dựng theo logic: tiêu chí chung của công chức, tiêu chí đặc thù của thi hành án dân sự, tiêu chí riêng theo từng chức danh, tiêu chí gắn với chỉ tiêu công tác và vị trí việc làm. Trên cơ sở đó, công tác đánh giá mới phản ánh đúng thực chất chất lượng công chức, tạo căn cứ cho bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thi hành án dân sự.
Kết luận
Trong bối cảnh pháp luật và tổ chức bộ máy đang có sự thay đổi mạnh mẽ, việc hoàn thiện hệ tiêu chí đánh giá theo hướng khoa học, đặc thù, khả thi và có khả năng lượng hóa là điều kiện quan trọng để xây dựng đội ngũ công chức thi hành án dân sự chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại và đáp ứng yêu cầu phát triển đến năm 2030. Hệ tiêu chí đó cần kết hợp tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của ngành, gắn kết quả thi hành án với chất lượng hồ sơ, trách nhiệm giải trình, năng lực phối hợp, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyển đổi số. Chỉ khi đánh giá đúng, thực chất và công bằng, công tác quản lý, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng công chức thi hành án dân sự mới có cơ sở vững chắc để nâng cao chất lượng đội ngũ và hiệu quả thực thi pháp luật trong giai đoạn mới.
PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng & TS. Bùi Nguyễn Phương Lê
Phó Giám đốc Học viện Tư pháp
Trưởng Khoa Đào tạo Các chức danh thi hành án dân sự và Thừa hành viên, Học viện Tư pháp
* Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ của Đề án nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2025 - 2026: “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030”.
[1]. Khoản 2 Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.
[2]. OECD (2020), Skills for a High Performing Civil Service, p.60, https://www.oecd.org/en/publications/skills-for-a-high-performing-civil-service_9789264280724-en.html, truy cập ngày 22/4/2026.
[3]. Nguyễn Minh Hải (2025), Nâng cao hiệu quả áp dụng tiêu chí đánh giá công chức ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, (356), 42-45, https://doi.org/10.59394/qlnn.356.2025.1285; Võ Chí Vương (2025), Đổi mới phương pháp đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức bằng KPI ở tỉnh Khánh Hòa, https://tcnnld.vn/news/detail/69417/Doi-moi-phuong-phap-danh-gia-phan-loai-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-bang-KPI-o-tinh-Khanh-Hoa.html; HuyềnTrang (2025), Đánh giá công chức bằng KPI: Bảo đảm công bằng và hiệu quả, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/danh-gia-cong-chuc-bang-kpi-bao-dam-cong-bang-va-hieu-qua-882646, truy cập ngày 22/4/2026.
[4]. TS. Nguyễn Quang Thái, PGS.TS. Bùi Thị Huyền (2023), Bàn về hiệu quả công tác thi hành án dân sự và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023.
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 1, tr.187.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục Quản lý thi hành án dân sự, Công văn số 872/CQLTHADS-BCĐS&TKDL ngày 18/3/2026 về việc đôn đốc thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính 05 tháng đầu năm 2026 theo Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 1.
3. Đặng Thị Hồng Hoa, Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ hiện nay, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tri-thuc-doanh-nhan/-/2018/40030/chat-luong-va-tieu-chi-danh-gia-chat-luong-doi-ngu-can-bo-hien-nay.aspx, truy cập ngày 22/4/2026.
4. Huyền Trang (2025), Đánh giá công chức bằng KPI: Bảo đảm công bằng và hiệu quả, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/danh-gia-cong-chuc-bang-kpi-bao-dam-cong-bang-va-hieu-qua-882646, truy cập ngày 22/4/2026.
5. Nguyễn Hoàng Việt (2023), Bản lĩnh chính trị - Yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong lãnh đạo của Đảng, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/828852/%C2%A0ban-linh-chinh-tri---yeu-to-quan-trong-quyet-dinh-su-thanh-cong-trong-lanh-dao-cua-dang.aspx, truy cập ngày 22/4/2026
6. Nguyễn Minh Hải (2025), Nâng cao hiệu quả áp dụng tiêu chí đánh giá công chức ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, (356), 42-45, https://doi.org/10.59394/qlnn.356.2025.1285, truy cập ngày 22/4/2026.
7. OECD (2020), Skills for a High Performing Civil Service, https://www.oecd.org/en/publications/skills-for-a-high-performing-civil-service_9789264280724-en. html, truy cập ngày 22/4/2026.
8. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2026), Nghị quyết số 57-NQ/TW và đột phá chuyển đổi số trong công tác thi hành án dân sự, https://danchuphapluat.vn/nghi-quyet-so-57-nqtw-va-dot-pha-chuyen-doi-so-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-8395.html, truy cập ngày 22/4/2026.
9. Trang thông tin thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ, Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Từ công cụ kỹ thuật đến thiết chế minh bạch hóa quy trình, https://thi hành án dân sự.moj.gov.vn/cantho/ tin-tuc/chi-tiet/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-ang- tu-thuc-tien-sap-xep-tinh-gon-bo-may-he-thong-thi-hanh-an-dan-su-ky-3-chuyen-oi-so-trong-thi-hành-án-dânsự-tu-cong-cu-ky-thuat-en-thiet-che-minh-bach-hoa-quy-trinh-te580a7743.html, truy cập ngày 22/4/2026.
10. TS. Đào Thị Thanh Thủy (2022), Lý thuyết đánh giá công chức theo kết quả thực thi công vụ, https://lyluanchinhtri.vn/ly-thuyet-danh-gia-cong-chuc-theo-ket-qua-thuc-thi-cong-vu-2147.html, truy cập ngày 22/4/2026.
11. TS. Nguyễn Quang Thái, PGS.TS. Bùi Thị Huyền (2023), Bàn về hiệu quả công tác thi hành án dân sự và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (454) tháng 6/2026)