Thứ sáu 23/10/2026 20:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.

Từ khóa: yêu cầu; bản lĩnh chính trị; chất lượng đội ngũ; tiêu chí; công chức thi hành án dân sự.

Nhận bài: 07/10/2025 Hoàn thành biên tập: 03/6/2026 Duyệt đăng: 09/6/2026

SOME PROPOSALS FOR IMPROVING CRITERIA FOR EVALUATING THE QUALITY OF PUBLIC SERVANTS WORKING IN CIVIL JUDGMENT EXECUTION IN THE CURRENT PERIOD

Abstract: The criteria for evaluating the quality of public servants working in civil judgment execution are a set of indicators/groups of indicators reflecting the competence, official conduct, moral character, and performance of public servants in civil judgment execution. These criteria are used to measure, compare, and improve the work performance of the civil judgment execution team. Research shows that currently, quality evaluation criteria are lacking, especially those reflecting political acumen, professional ethics, and reformist thinking. Therefore, this study analyzes and clarifies the theoretical basis for developing quality evaluation criteria for public servants working in civil judgment execution based on modern public service management, linked to job positions, competency frameworks, and performance results. Based on an analysis of current legal regulations, the study identifies achievements while also recognizing limitations and shortcomings in the current evaluation system. Therefore, the study proposes an evaluation criteria system that combines general criteria for public servants with specific criteria for each position such as Execution Officer, Inspector, and Execution Secretary, in order to improve the quality of the public servants of civil judgment execution sector to meet the requirements of building and completing the socialist rule of law in Vietnam by 2030.

Keywords: Requirements; political integrity; quality of personnel; criteria; public servants of civil judgment execution.

Article received: 07/10/2025 Editing completed: 03/6/2026 Approved for publication: 09/6/2026

Đặt vấn đề

Công chức làm công tác thi hành án dân sự không chỉ thi hành nhiệm vụ theo pháp luật, mà còn tham gia trực tiếp vào việc duy trì kỷ cương, trật tự xã hội. Hoạt động này góp phần khẳng định nguyên tắc mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và thi hành nghiêm túc. Điều này vừa thể hiện quyền lực của Nhà nước, vừa bảo đảm pháp luật không chỉ dừng ở những quy định trừu tượng, mà trở thành công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội, bảo vệ công lý và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn đánh giá công chức trong lĩnh vực này còn có khoảng cách giữa tiêu chí chung của công chức với yêu cầu riêng của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án; giữa đánh giá có tính chất định tính với đánh giá dựa trên vị trí việc làm, khung năng lực và sản phẩm công việc cụ thể. Trong bối cảnh hệ thống thi hành án dân sự đang đẩy mạnh cải cách tổ chức, chuyển đổi số và quản lý theo dữ liệu, việc nghiên cứu xây dựng hệ tiêu chí đánh giá khoa học, khách quan, có khả năng lượng hóa là cần thiết nhằm nhận diện đúng chất lượng công chức, làm căn cứ bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự.

1. Cơ sở xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự

Công chức làm công tác thi hành án dân sự là công dân Việt Nam được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong hệ thống thi hành án dân sự, từ cơ quan quản lý thi hành án dân sự ở trung ương đến các cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nếu Tòa án được coi là nơi xác định sự thật khách quan, tuyên bố công lý thì công chức làm công tác thi hành án dân sự là chủ thể bảo đảm công lý được hiện thực hóa trong đời sống xã hội. Vai trò của công chức làm công tác thi hành án dân sự vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống tư pháp, vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Trong hệ thống thi hành án dân sự, bên cạnh các ngạch công chức hành chính theo quy định chung, do yếu tố đặc thù của công việc thi hành án dân sự mà hệ thống thi hành án dân sự còn được bố trí các ngạch công chức tương đương. Công chức làm công tác thi hành án dân sự gồm Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức và người làm công tác khác[1].

Việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự phải đặt trong nền tảng lý luận chung của khoa học hành chính công và quản trị nhân lực khu vực công. Theo hướng tiếp cận hiện đại, đánh giá công chức không chỉ đánh giá các phẩm chất mang tính định tính, mà phải chuyển sang mô hình đánh giá dựa trên năng lực. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng, kể từ khi OECD công bố báo cáo về quản lý năng lực vào năm 2011, phần lớn các quốc gia thành viên OECD đã chuyển sang quản lý năng lực của công chức nhà nước[2]. Cách tiếp cận này có ý nghĩa trực tiếp đối với khu vực công trong bối cảnh số hóa, khi chất lượng công chức không chỉ thể hiện ở kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, mà còn ở năng lực thích ứng, phục vụ công dân và sử dụng dữ liệu trong thực thi nhiệm vụ.

Từ góc nhìn lý thuyết về năng lực, nhiều nghiên cứu cho thấy, hiệu quả công việc không chỉ được đánh giá qua bằng cấp mà phải được nhìn từ tổng thể các yếu tố như tri thức, kỹ năng, động cơ, thái độ, hành vi nghề nghiệp và khả năng thích ứng với yêu cầu công việc. Tinh thần cốt lõi của cách tiếp cận này là: chất lượng công chức chỉ có thể được đánh giá chính xác khi gắn với yêu cầu cụ thể của vị trí việc làm và sản phẩm công việc thực tế. Đây là hướng mà một số nghiên cứu đã chỉ ra, đánh giá công chức đang chuyển mạnh từ định tính sang định lượng, lấy kết quả đầu ra, sự hài lòng của người dân, KPI, phản hồi 360 độ và khung năng lực làm công cụ trung tâm[3].

Đối với ngành thi hành án dân sự, cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá còn xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động thi hành án. Thi hành án dân sự là giai đoạn bảo đảm cho phán quyết của Tòa án được hiện thực hóa, vì vậy, công chức thi hành án dân sự không chỉ là công chức hành chính thuần túy, mà còn là chủ thể trực tiếp tham gia bảo đảm công lý trên thực tế. Tính đặc thù này đòi hỏi tiêu chí đánh giá phải kết hợp yêu cầu chung của hoạt động công vụ với yêu cầu riêng của hoạt động thi hành án, gồm tính đúng pháp luật, tiến độ, hiệu quả thi hành, khả năng xử lý tình huống phức tạp, phối hợp liên ngành và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.

Một số nghiên cứu chỉ rõ, hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền phải được nhìn nhận không chỉ qua số lượng việc, tiền thi hành xong, mà còn qua chất lượng thực thi pháp luật (thời gian thi hành án ngắn nhất, chi phí thi hành án dân sự thấp nhất; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm yếu tố nhân đạo và an sinh xã hội, xây dựng môi trường chính trị xã hội ổn định; chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật về thi hành án dân sự được tuân thủ, thực thi công bằng, bình đẳng, dân chủ, nhất quán và nghiêm minh…)[4]. Từ đó, tiêu chí đánh giá công chức thi hành án dân sự phải phản ánh được kết quả cuối cùng và chất lượng của toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án.

Từ các phân tích trên cho thấy, hệ tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự cần dựa trên bốn yếu tố: quản trị công vụ theo vị trí việc làm; quản trị theo năng lực; đánh giá theo kết quả, sản phẩm công việc; đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự. Chỉ trên nền tảng này, hệ tiêu chí mới bảo đảm tính khoa học, tính đo lường, tính phân hóa và khả năng áp dụng vào thực tiễn quản lý đội ngũ công chức trong toàn hệ thống.

2. Thực trạng quy định của pháp luật về tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức thi hành án dân sự

Tiêu chí đánh giá công chức ngành thi hành án dân sự được xác định dựa trên ba nhóm căn cứ pháp lý có mối quan hệ với nhau, gồm: quy định pháp luật chung về công chức, quy định pháp luật chuyên ngành thi hành án dân sự và hệ thống văn bản quản lý, điều hành nội bộ của ngành. Cách tiếp cận này cho thấy, việc đánh giá công chức thi hành án dân sự không phải là hoạt động biệt lập, mà luôn có sự gắn kết giữa quản trị công vụ nói chung và yêu cầu đặc thù của hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Ở nhóm căn cứ thứ nhất,Nghị định số 335/2025/NĐ-CP ngày 21/12/2025 của Chính phủ quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với cơ quan hành chính nhà nước và công chức (Nghị định số 335/2025/NĐ-CP) tạo khuôn khổ mới cho đánh giá công chức theo hướng dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan, xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm công việc cụ thể. Tuy nhiên, đây là văn bản áp dụng chung cho toàn bộ công chức, nên Nghị định này mới dừng ở khung đánh giá nền tảng, chưa thể hiện đầy đủ những số liệu đặc thù của lĩnh vực thi hành án dân sự như chất lượng giải quyết vụ việc thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc kiểm soát sai sót trong hồ sơ thi hành án…

Ở nhóm căn cứ thứ hai, Luật Thi hành án dân sự năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành tạo khuôn khổ mới cho tổ chức bộ máy, chức danh, điều kiện bảo đảm hoạt động trong hệ thống thi hành án dân sự. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và yêu cầu đối với từng nhóm chức danh, mà chưa hình thành thành hệ tiêu chí đánh giá chuyên biệt. Nói cách khác, pháp luật chuyên ngành đã làm rõ công chức thi hành án dân sự là ai, làm gì, chịu trách nhiệm gì, nhưng chưa lượng hóa đầy đủ chất lượng được đo bằng tiêu chí cụ thể.

Ở nhóm căn cứ thứ ba, các văn bản quản lý, điều hành nội bộ của hệ thống thi hành án dân sự đã bước đầu hình thành những tiêu chí trực tiếp hơn cho đánh giá chất lượng công chức. Điển hình là Quyết định số 763/QĐ-BTP ngày 02/5/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về phê duyệt danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự (Quyết định số 763/QĐ-BTP) và Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS ngày 31/12/2025 của Cục trưởng Cục Quản lý thi hành án dân sự về việc giao chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương năm 2026 (Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS).

Trong hệ thống văn bản nội bộ về giao và tổ chức thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính năm 2026, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ là văn bản giao chỉ tiêu tổng hợp cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương, mà còn đặt ra cơ sở định lượng và trách nhiệm tổ chức thực hiện cụ thể đối với từng cấp, từng đơn vị và từng chức danh trực tiếp thực hiện nhiệm vụ. Theo Quyết định này, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương phải bảo đảm ra quyết định thi hành án đúng quy định đối với 100% bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực pháp luật; phấn đấu đạt tỷ lệ thi hành xong trên 84,3% về việc và trên 56,2% về tiền trên tổng số có điều kiện thi hành, với mức chỉ tiêu cụ thể được giao cho từng địa phương tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2. Đồng thời, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ về thi hành án tham nhũng, kinh tế, tín dụng ngân hàng, xác minh và phân loại án, theo dõi thi hành án hành chính, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Đặc biệt, Phụ lục 3 của Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS cụ thể hóa các nhóm giải pháp thực hiện, trong đó, nhấn mạnh trách nhiệm của Trưởng thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Trưởng phòng thi hành án dân sự khu vực và Chấp hành viên trong kiểm soát hồ sơ, đôn đốc tiến độ, xử lý dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành, nhất là các vụ việc kéo dài, giá trị lớn, phức tạp. Có thể thấy, xét dưới góc độ đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS không chỉ đặt ra các tiêu chí định lượng về kết quả thi hành án, mà còn hình thành căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện, khả năng phối hợp và chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức, nhất là Chấp hành viên và công chức giữ vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống thi hành án dân sự địa phương.

Cùng với đó, Quyết định số 763/QĐ-BTP phê duyệt danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, bản mô tả công việc và khung năng lực của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự. Như vậy, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS và Quyết định số 763/QĐ-BTP cho thấy, pháp luật và văn bản quản lý nội bộ ngành đã hình thành hai căn cứ để đánh giá chất lượng công chức: mức độ hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác và mức độ phù hợp giữa năng lực cá nhân với yêu cầu vị trí việc làm. Tuy nhiên, hai căn cứ này hiện mới tồn tại song song, chưa được tích hợp thành một bộ tiêu chí thống nhất.

3. Đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự

Từ cơ sở lý luận về đánh giá công chức theo vị trí việc làm, chuẩn năng lực và kết quả đầu ra, đồng thời, xuất phát từ thực trạng pháp luật đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự hiện nay, hệ tiêu chí đánh giá cần được thiết kế theo hướng kết hợp giữa khung tiêu chí chung của công chức với các tiêu chí đặc thù của lĩnh vực thi hành án dân sự. Khung tiêu chí đó phải vừa bảo đảm thống nhất với Nghị định số 335/2025/NĐ-CP, vừa phản ánh yêu cầu riêng của ngành theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025, cơ chế giao chỉ tiêu công tác và mô hình quản trị nhân sự theo vị trí việc làm, khung năng lực.

Về cấu trúc, hệ tiêu chí nên được xây dựng theo hai nhóm. Nhóm thứ nhất là các tiêu chí chung áp dụng cho toàn bộ công chức ngành thi hành án dân sự, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong đánh giá công vụ. Nhóm thứ hai là các tiêu chí đặc thù theo từng chức danh, được thiết kế trên cơ sở bản mô tả công việc, khung năng lực vị trí việc làm và sản phẩm công việc thực tế của từng nhóm vị trí. Cách tiếp cận này vừa tránh tình trạng bình quân, dàn đều, vừa bảo đảm thống nhất trong quản trị đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự.

3.1. Nhóm tiêu chí chung áp dụng đối với công chức ngành thi hành án dân sự

Nhóm tiêu chí chung áp dụng đối với công chức ngành thi hành án dân sự gồm bốn nhóm sau:

Một là, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật công vụ. Đây là nhóm tiêu chí nền tảng, bởi công chức ngành thi hành án dân sự trực tiếp nhân danh quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Chất lượng công chức phải thể hiện ở sự trung thành với Tổ quốc, với Hiến pháp, sự kiên định trong thực thi pháp luật, tính liêm chính, khách quan, không vụ lợi, không né tránh trách nhiệm và không để phát sinh vi phạm đạo đức công vụ. Nhóm tiêu chí này phù hợp với định hướng của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách…[5].

Hai là, trình độ, năng lực chuyên môn và mức độ đáp ứng khung năng lực vị trí việc làm. Nhóm này không chỉ dừng ở trình độ đào tạo, chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo ngạch công chức, mà cần đánh giá trực tiếp mức độ phù hợp giữa năng lực thực tế của công chức với yêu cầu của vị trí việc làm đang đảm nhiệm. Trong bối cảnh thi hành án dân sự vận hành ngày càng mạnh theo dữ liệu và quy trình điện tử, nhóm tiêu chí này gồm cả khả năng sử dụng hệ thống thông tin, chuyển đổi số và độ chính xác trong cập nhật dữ liệu nghiệp vụ.

Ba là, chất lượng thực hiện công việc gắn với kết quả, tiến độ và sản phẩm công vụ cụ thể. Đây là nhóm tiêu chí trung tâm trong đánh giá công chức hiện nay. Tuy nhiên, kết quả công việc của công chức thi hành án dân sự không thể chỉ đánh giá bằng một chỉ số đơn lẻ, mà phải kết hợp giữa số lượng công việc, tiến độ, chất lượng của công việc, mức độ đúng quy trình, khả năng phối hợp và mức độ phát sinh sai sót. Cơ chế giao chỉ tiêu theo Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS là cơ sở quan trọng để lượng hóa nhóm tiêu chí này, nhưng phải được kết hợp với tiêu chí định tính để tránh đồng nhất chất lượng công chức với một vài tỷ lệ thi hành án chung.

Bốn là, khả năng phối hợp, trách nhiệm giải trình và thích ứng với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy. Công chức thi hành án dân sự không chỉ làm việc trong phạm vi nhiệm vụ cá nhân, mà còn vận hành trong cơ cấu bộ máy tinh, gọn hơn, yêu cầu phối hợp mạnh hơn. Vì vậy, khả năng phối hợp với các chủ thể liên quan, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch trong xử lý hồ sơ và mức độ thích ứng với đổi mới quản trị phải trở thành tiêu chí đánh giá chính thức.

3.2. Tiêu chí đặc thù đối với Chấp hành viên

Chấp hành viên là chức danh trung tâm của hoạt động thi hành án dân sự, trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Ngoài các tiêu chí chung, hệ tiêu chí đặc thù đối với Chấp hành viên cần tập trung vào bốn nhóm chính:

Một là, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ. Chấp hành viên là chức danh dễ chịu tác động của lợi ích vật chất và áp lực xã hội, do đó, việc đánh giá phải coi trọng tiêu chí liêm chính, khách quan, không tiêu cực, không vi phạm trình tự, thủ tục và không để xảy ra hành vi lợi dụng thẩm quyền trong thi hành án.

Hai là, năng lực tổ chức thi hành án và áp dụng pháp luật thi hành án dân sự. Tiêu chí này phản ánh khả năng ra quyết định về thi hành án đúng thẩm quyền, đúng thời hạn; thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đúng quy định; xử lý tài sản đúng pháp luật; bảo đảm thi hành đúng nội dung bản án, quyết định. Đây là nhóm tiêu chí cốt lõi phản ánh năng lực nghề nghiệp đặc thù của Chấp hành viên.

Ba là, kết quả thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Cần đánh giá Chấp hành viên theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu về việc, về tiền, tiến độ xử lý hồ sơ, số lượng vụ việc có điều kiện thi hành được giải quyết, chất lượng quản lý hồ sơ và mức độ cập nhật đầy đủ diễn biến thi hành án. Tuy nhiên, kết quả chỉ tiêu phải được đặt trong mối quan hệ với độ khó của vụ việc, điều kiện tổ chức thi hành án, số lượng nhân sự, số lượng hồ sơ và tính hợp pháp của kết quả đạt được.

Bốn là, kỹ năng xử lý tình huống, phối hợp liên ngành và tiếp công dân. Đặc thù của Chấp hành viên không chỉ thực hiện thủ tục tổ chức thi hành án, mà còn phải xử lý xung đột, làm việc với đương sự, phối hợp với chính quyền địa phương, công an, cơ quan đăng ký tài sản, tổ chức đấu giá và nhiều chủ thể khác. Vì vậy, chất lượng Chấp hành viên phải được đánh giá qua kỹ năng phối hợp, xử lý tình huống nghiệp vụ, hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải trình.

3.3. Tiêu chí đặc thù đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự

Đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự, cần xuất phát từ đặc thù của chức danh này thiên về kiểm tra, thẩm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trong một số nhiệm vụ thuộc hoạt động thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính. Hệ tiêu chí đặc thù đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự cần tập trung vào ba nhóm chính sau:

Một là, chất lượng công tác thẩm tra, kiểm tra và tham mưu. Tiêu chí này phản ánh khả năng nghiên cứu hồ sơ, phát hiện vấn đề pháp lý, xác định sai sót, tham mưu xử lý vụ việc đúng quy định, chất lượng dự thảo văn bản, báo cáo, kết luận kiểm tra và giá trị tham mưu đối với người đứng đầu đơn vị.

Hai là, chất lượng tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và hạn chế phát sinh đơn thư kéo dài. Các nhiệm vụ như tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra chuyên đề, thẩm tra hồ sơ là nhiệm vụ thực tế của Thẩm tra viên. Việc đánh giá cần gắn với kết quả thực hiện, mức độ sai sót, khả năng phát hiện vi phạm, chất lượng tham mưu và tình trạng phát sinh đơn thư kéo dài.

Ba là, năng lực phối hợp, thống kê, báo cáo và sử dụng dữ liệu nghiệp vụ. Trong điều kiện hiện nay, Thẩm tra viên thi hành án dân sự không chỉ giỏi kỹ năng nghiệp vụ, mà còn phải có năng lực xử lý dữ liệu, tổng hợp thông tin, lập báo cáo chính xác, kịp thời, phục vụ công tác chỉ đạo điều hành và kiểm soát nội bộ. Vì vậy, tiêu chí đánh giá Thẩm tra viên thi hành án dân sự cần gắn thêm với độ chính xác, tính kịp thời và khả năng khai thác dữ liệu để phát hiện, cảnh báo rủi ro trong thi hành án dân sự.

3.4. Tiêu chí đặc thù đối với Thư ký thi hành án dân sự

Đối với Thư ký thi hành án dân sự, hệ tiêu chí đánh giá phải phản ánh đúng bản chất hỗ trợ nghiệp vụ, bảo đảm quy trình và chất lượng hồ sơ của chức danh này. Vì vậy, hệ tiêu chí đánh giá cần tập trung vào ba nhóm chính:

Một là, chất lượng hỗ trợ nghiệp vụ cho Chấp hành viên và Thẩm tra viên thi hành án dân sự. Tiêu chí này cần đánh giá mức độ đầy đủ, đúng quy trình trong việc chuẩn bị hồ sơ, lập dự thảo văn bản, ghi chép biên bản, tống đạt giấy tờ, hỗ trợ xác minh, xây dựng hồ sơ thi hành án, lưu trữ tài liệu và các công việc nghiệp vụ khác theo phân công. Đây là phần công việc cơ bản nhất của Thư ký thi hành án dân sự.

Hai là, tính chính xác, kịp thời và chuẩn hóa của hồ sơ, dữ liệu nghiệp vụ. Trong môi trường quản lý theo dữ liệu và hồ sơ điện tử, Thư ký thi hành án dân sự giữ vai trò rất quan trọng bảo đảm hồ sơ đầy đủ, đúng thể thức, được cập nhật kịp thời, đúng tiến độ, hạn chế tối đa sai sót kỹ thuật và sai lệch dữ liệu. Do đó, đánh giá Thư ký thi hành án dân sự phải gắn với độ chính xác của biên bản, văn bản, tình trạng chậm trễ trong hỗ trợ tác nghiệp, mức độ hoàn chỉnh của hồ sơ và khả năng làm việc trên nền tảng số.

Ba là, tinh thần trách nhiệm, phối hợp và kỷ luật công vụ. Dù không trực tiếp ra quyết định thi hành án như Chấp hành viên, chất lượng công việc của Thư ký thi hành án dân sự ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và tính đúng pháp luật của cả quy trình nghiệp vụ. Vì vậy, cần đánh giá Thư ký thi hành án dân sự trên phương diện trách nhiệm trong phối hợp, tính chủ động, tính cẩn trọng, ý thức chấp hành thời hạn và khả năng hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động nghiệp vụ chung của đơn vị.

Như vậy, hệ tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự trong giai đoạn tới cần được xây dựng theo logic: tiêu chí chung của công chức, tiêu chí đặc thù của thi hành án dân sự, tiêu chí riêng theo từng chức danh, tiêu chí gắn với chỉ tiêu công tác và vị trí việc làm. Trên cơ sở đó, công tác đánh giá mới phản ánh đúng thực chất chất lượng công chức, tạo căn cứ cho bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thi hành án dân sự.

Kết luận

Trong bối cảnh pháp luật và tổ chức bộ máy đang có sự thay đổi mạnh mẽ, việc hoàn thiện hệ tiêu chí đánh giá theo hướng khoa học, đặc thù, khả thi và có khả năng lượng hóa là điều kiện quan trọng để xây dựng đội ngũ công chức thi hành án dân sự chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại và đáp ứng yêu cầu phát triển đến năm 2030. Hệ tiêu chí đó cần kết hợp tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của ngành, gắn kết quả thi hành án với chất lượng hồ sơ, trách nhiệm giải trình, năng lực phối hợp, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyển đổi số. Chỉ khi đánh giá đúng, thực chất và công bằng, công tác quản lý, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng công chức thi hành án dân sự mới có cơ sở vững chắc để nâng cao chất lượng đội ngũ và hiệu quả thực thi pháp luật trong giai đoạn mới.

PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng & TS. Bùi Nguyễn Phương Lê

Phó Giám đốc Học viện Tư pháp

Trưởng Khoa Đào tạo Các chức danh thi hành án dân sự và Thừa hành viên, Học viện Tư pháp

* Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ của Đề án nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2025 - 2026: “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030”.

[1]. Khoản 2 Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

[2]. OECD (2020), Skills for a High Performing Civil Service, p.60, https://www.oecd.org/en/publications/skills-for-a-high-performing-civil-service_9789264280724-en.html, truy cập ngày 22/4/2026.

[3]. Nguyễn Minh Hải (2025), Nâng cao hiệu quả áp dụng tiêu chí đánh giá công chức ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, (356), 42-45, https://doi.org/10.59394/qlnn.356.2025.1285; Võ Chí Vương (2025), Đổi mới phương pháp đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức bằng KPI ở tỉnh Khánh Hòa, https://tcnnld.vn/news/detail/69417/Doi-moi-phuong-phap-danh-gia-phan-loai-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-bang-KPI-o-tinh-Khanh-Hoa.html; HuyềnTrang (2025), Đánh giá công chức bằng KPI: Bảo đảm công bằng và hiệu quả, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/danh-gia-cong-chuc-bang-kpi-bao-dam-cong-bang-va-hieu-qua-882646, truy cập ngày 22/4/2026.

[4]. TS. Nguyễn Quang Thái, PGS.TS. Bùi Thị Huyền (2023), Bàn về hiệu quả công tác thi hành án dân sự và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 1, tr.187.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục Quản lý thi hành án dân sự, Công văn số 872/CQLTHADS-BCĐS&TKDL ngày 18/3/2026 về việc đôn đốc thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính 05 tháng đầu năm 2026 theo Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 1.

3. Đặng Thị Hồng Hoa, Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ hiện nay, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tri-thuc-doanh-nhan/-/2018/40030/chat-luong-va-tieu-chi-danh-gia-chat-luong-doi-ngu-can-bo-hien-nay.aspx, truy cập ngày 22/4/2026.

4. Huyền Trang (2025), Đánh giá công chức bằng KPI: Bảo đảm công bằng và hiệu quả, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/danh-gia-cong-chuc-bang-kpi-bao-dam-cong-bang-va-hieu-qua-882646, truy cập ngày 22/4/2026.

5. Nguyễn Hoàng Việt (2023), Bản lĩnh chính trị - Yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong lãnh đạo của Đảng, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/828852/%C2%A0ban-linh-chinh-tri---yeu-to-quan-trong-quyet-dinh-su-thanh-cong-trong-lanh-dao-cua-dang.aspx, truy cập ngày 22/4/2026

6. Nguyễn Minh Hải (2025), Nâng cao hiệu quả áp dụng tiêu chí đánh giá công chức ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, (356), 42-45, https://doi.org/10.59394/qlnn.356.2025.1285, truy cập ngày 22/4/2026.

7. OECD (2020), Skills for a High Performing Civil Service, https://www.oecd.org/en/publications/skills-for-a-high-performing-civil-service_9789264280724-en. html, truy cập ngày 22/4/2026.

8. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2026), Nghị quyết số 57-NQ/TW và đột phá chuyển đổi số trong công tác thi hành án dân sự, https://danchuphapluat.vn/nghi-quyet-so-57-nqtw-va-dot-pha-chuyen-doi-so-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-8395.html, truy cập ngày 22/4/2026.

9. Trang thông tin thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ, Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Từ công cụ kỹ thuật đến thiết chế minh bạch hóa quy trình, https://thi hành án dân sự.moj.gov.vn/cantho/ tin-tuc/chi-tiet/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-ang- tu-thuc-tien-sap-xep-tinh-gon-bo-may-he-thong-thi-hanh-an-dan-su-ky-3-chuyen-oi-so-trong-thi-hành-án-dânsự-tu-cong-cu-ky-thuat-en-thiet-che-minh-bach-hoa-quy-trinh-te580a7743.html, truy cập ngày 22/4/2026.

10. TS. Đào Thị Thanh Thủy (2022), Lý thuyết đánh giá công chức theo kết quả thực thi công vụ, https://lyluanchinhtri.vn/ly-thuyet-danh-gia-cong-chuc-theo-ket-qua-thuc-thi-cong-vu-2147.html, truy cập ngày 22/4/2026.

11. TS. Nguyễn Quang Thái, PGS.TS. Bùi Thị Huyền (2023), Bàn về hiệu quả công tác thi hành án dân sự và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (454) tháng 6/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.

Theo dõi chúng tôi trên: