Chủ nhật 11/10/2026 02:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.

Từ khóa: yêu cầu; bản lĩnh chính trị; chất lượng đội ngũ; tiêu chí; công chức thi hành án dân sự.

Nhận bài: 07/10/2025 Hoàn thành biên tập: 03/6/2026 Duyệt đăng: 09/6/2026

SOME PROPOSALS FOR IMPROVING CRITERIA FOR EVALUATING THE QUALITY OF PUBLIC SERVANTS WORKING IN CIVIL JUDGMENT EXECUTION IN THE CURRENT PERIOD

Abstract: The criteria for evaluating the quality of public servants working in civil judgment execution are a set of indicators/groups of indicators reflecting the competence, official conduct, moral character, and performance of public servants in civil judgment execution. These criteria are used to measure, compare, and improve the work performance of the civil judgment execution team. Research shows that currently, quality evaluation criteria are lacking, especially those reflecting political acumen, professional ethics, and reformist thinking. Therefore, this study analyzes and clarifies the theoretical basis for developing quality evaluation criteria for public servants working in civil judgment execution based on modern public service management, linked to job positions, competency frameworks, and performance results. Based on an analysis of current legal regulations, the study identifies achievements while also recognizing limitations and shortcomings in the current evaluation system. Therefore, the study proposes an evaluation criteria system that combines general criteria for public servants with specific criteria for each position such as Execution Officer, Inspector, and Execution Secretary, in order to improve the quality of the public servants of civil judgment execution sector to meet the requirements of building and completing the socialist rule of law in Vietnam by 2030.

Keywords: Requirements; political integrity; quality of personnel; criteria; public servants of civil judgment execution.

Article received: 07/10/2025 Editing completed: 03/6/2026 Approved for publication: 09/6/2026

Đặt vấn đề

Công chức làm công tác thi hành án dân sự không chỉ thi hành nhiệm vụ theo pháp luật, mà còn tham gia trực tiếp vào việc duy trì kỷ cương, trật tự xã hội. Hoạt động này góp phần khẳng định nguyên tắc mọi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật phải được tôn trọng và thi hành nghiêm túc. Điều này vừa thể hiện quyền lực của Nhà nước, vừa bảo đảm pháp luật không chỉ dừng ở những quy định trừu tượng, mà trở thành công cụ hữu hiệu để quản lý xã hội, bảo vệ công lý và thúc đẩy phát triển bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn đánh giá công chức trong lĩnh vực này còn có khoảng cách giữa tiêu chí chung của công chức với yêu cầu riêng của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án; giữa đánh giá có tính chất định tính với đánh giá dựa trên vị trí việc làm, khung năng lực và sản phẩm công việc cụ thể. Trong bối cảnh hệ thống thi hành án dân sự đang đẩy mạnh cải cách tổ chức, chuyển đổi số và quản lý theo dữ liệu, việc nghiên cứu xây dựng hệ tiêu chí đánh giá khoa học, khách quan, có khả năng lượng hóa là cần thiết nhằm nhận diện đúng chất lượng công chức, làm căn cứ bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự.

1. Cơ sở xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự

Công chức làm công tác thi hành án dân sự là công dân Việt Nam được Nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong hệ thống thi hành án dân sự, từ cơ quan quản lý thi hành án dân sự ở trung ương đến các cơ quan thi hành án dân sự ở địa phương, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nếu Tòa án được coi là nơi xác định sự thật khách quan, tuyên bố công lý thì công chức làm công tác thi hành án dân sự là chủ thể bảo đảm công lý được hiện thực hóa trong đời sống xã hội. Vai trò của công chức làm công tác thi hành án dân sự vừa bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống tư pháp, vừa góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Trong hệ thống thi hành án dân sự, bên cạnh các ngạch công chức hành chính theo quy định chung, do yếu tố đặc thù của công việc thi hành án dân sự mà hệ thống thi hành án dân sự còn được bố trí các ngạch công chức tương đương. Công chức làm công tác thi hành án dân sự gồm Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án, công chức và người làm công tác khác[1].

Việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự phải đặt trong nền tảng lý luận chung của khoa học hành chính công và quản trị nhân lực khu vực công. Theo hướng tiếp cận hiện đại, đánh giá công chức không chỉ đánh giá các phẩm chất mang tính định tính, mà phải chuyển sang mô hình đánh giá dựa trên năng lực. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng, kể từ khi OECD công bố báo cáo về quản lý năng lực vào năm 2011, phần lớn các quốc gia thành viên OECD đã chuyển sang quản lý năng lực của công chức nhà nước[2]. Cách tiếp cận này có ý nghĩa trực tiếp đối với khu vực công trong bối cảnh số hóa, khi chất lượng công chức không chỉ thể hiện ở kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, mà còn ở năng lực thích ứng, phục vụ công dân và sử dụng dữ liệu trong thực thi nhiệm vụ.

Từ góc nhìn lý thuyết về năng lực, nhiều nghiên cứu cho thấy, hiệu quả công việc không chỉ được đánh giá qua bằng cấp mà phải được nhìn từ tổng thể các yếu tố như tri thức, kỹ năng, động cơ, thái độ, hành vi nghề nghiệp và khả năng thích ứng với yêu cầu công việc. Tinh thần cốt lõi của cách tiếp cận này là: chất lượng công chức chỉ có thể được đánh giá chính xác khi gắn với yêu cầu cụ thể của vị trí việc làm và sản phẩm công việc thực tế. Đây là hướng mà một số nghiên cứu đã chỉ ra, đánh giá công chức đang chuyển mạnh từ định tính sang định lượng, lấy kết quả đầu ra, sự hài lòng của người dân, KPI, phản hồi 360 độ và khung năng lực làm công cụ trung tâm[3].

Đối với ngành thi hành án dân sự, cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá còn xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động thi hành án. Thi hành án dân sự là giai đoạn bảo đảm cho phán quyết của Tòa án được hiện thực hóa, vì vậy, công chức thi hành án dân sự không chỉ là công chức hành chính thuần túy, mà còn là chủ thể trực tiếp tham gia bảo đảm công lý trên thực tế. Tính đặc thù này đòi hỏi tiêu chí đánh giá phải kết hợp yêu cầu chung của hoạt động công vụ với yêu cầu riêng của hoạt động thi hành án, gồm tính đúng pháp luật, tiến độ, hiệu quả thi hành, khả năng xử lý tình huống phức tạp, phối hợp liên ngành và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan.

Một số nghiên cứu chỉ rõ, hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền phải được nhìn nhận không chỉ qua số lượng việc, tiền thi hành xong, mà còn qua chất lượng thực thi pháp luật (thời gian thi hành án ngắn nhất, chi phí thi hành án dân sự thấp nhất; bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo đảm yếu tố nhân đạo và an sinh xã hội, xây dựng môi trường chính trị xã hội ổn định; chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật về thi hành án dân sự được tuân thủ, thực thi công bằng, bình đẳng, dân chủ, nhất quán và nghiêm minh…)[4]. Từ đó, tiêu chí đánh giá công chức thi hành án dân sự phải phản ánh được kết quả cuối cùng và chất lượng của toàn bộ quá trình tổ chức thi hành án.

Từ các phân tích trên cho thấy, hệ tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự cần dựa trên bốn yếu tố: quản trị công vụ theo vị trí việc làm; quản trị theo năng lực; đánh giá theo kết quả, sản phẩm công việc; đặc thù của hoạt động thi hành án dân sự. Chỉ trên nền tảng này, hệ tiêu chí mới bảo đảm tính khoa học, tính đo lường, tính phân hóa và khả năng áp dụng vào thực tiễn quản lý đội ngũ công chức trong toàn hệ thống.

2. Thực trạng quy định của pháp luật về tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức thi hành án dân sự

Tiêu chí đánh giá công chức ngành thi hành án dân sự được xác định dựa trên ba nhóm căn cứ pháp lý có mối quan hệ với nhau, gồm: quy định pháp luật chung về công chức, quy định pháp luật chuyên ngành thi hành án dân sự và hệ thống văn bản quản lý, điều hành nội bộ của ngành. Cách tiếp cận này cho thấy, việc đánh giá công chức thi hành án dân sự không phải là hoạt động biệt lập, mà luôn có sự gắn kết giữa quản trị công vụ nói chung và yêu cầu đặc thù của hoạt động tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án.

Ở nhóm căn cứ thứ nhất,Nghị định số 335/2025/NĐ-CP ngày 21/12/2025 của Chính phủ quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng đối với cơ quan hành chính nhà nước và công chức (Nghị định số 335/2025/NĐ-CP) tạo khuôn khổ mới cho đánh giá công chức theo hướng dân chủ, công khai, công bằng, minh bạch, khách quan, xuyên suốt, liên tục, đa chiều, có tiêu chí và thông qua sản phẩm công việc cụ thể. Tuy nhiên, đây là văn bản áp dụng chung cho toàn bộ công chức, nên Nghị định này mới dừng ở khung đánh giá nền tảng, chưa thể hiện đầy đủ những số liệu đặc thù của lĩnh vực thi hành án dân sự như chất lượng giải quyết vụ việc thi hành án, giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc kiểm soát sai sót trong hồ sơ thi hành án…

Ở nhóm căn cứ thứ hai, Luật Thi hành án dân sự năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành tạo khuôn khổ mới cho tổ chức bộ máy, chức danh, điều kiện bảo đảm hoạt động trong hệ thống thi hành án dân sự. Tuy nhiên, các quy định này chủ yếu xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và yêu cầu đối với từng nhóm chức danh, mà chưa hình thành thành hệ tiêu chí đánh giá chuyên biệt. Nói cách khác, pháp luật chuyên ngành đã làm rõ công chức thi hành án dân sự là ai, làm gì, chịu trách nhiệm gì, nhưng chưa lượng hóa đầy đủ chất lượng được đo bằng tiêu chí cụ thể.

Ở nhóm căn cứ thứ ba, các văn bản quản lý, điều hành nội bộ của hệ thống thi hành án dân sự đã bước đầu hình thành những tiêu chí trực tiếp hơn cho đánh giá chất lượng công chức. Điển hình là Quyết định số 763/QĐ-BTP ngày 02/5/2024 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về phê duyệt danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự (Quyết định số 763/QĐ-BTP) và Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS ngày 31/12/2025 của Cục trưởng Cục Quản lý thi hành án dân sự về việc giao chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương năm 2026 (Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS).

Trong hệ thống văn bản nội bộ về giao và tổ chức thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính năm 2026, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ là văn bản giao chỉ tiêu tổng hợp cho các cơ quan thi hành án dân sự địa phương, mà còn đặt ra cơ sở định lượng và trách nhiệm tổ chức thực hiện cụ thể đối với từng cấp, từng đơn vị và từng chức danh trực tiếp thực hiện nhiệm vụ. Theo Quyết định này, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương phải bảo đảm ra quyết định thi hành án đúng quy định đối với 100% bản án, quyết định về dân sự đã có hiệu lực pháp luật; phấn đấu đạt tỷ lệ thi hành xong trên 84,3% về việc và trên 56,2% về tiền trên tổng số có điều kiện thi hành, với mức chỉ tiêu cụ thể được giao cho từng địa phương tại Phụ lục 1 và Phụ lục 2. Đồng thời, triển khai đồng bộ các nhiệm vụ về thi hành án tham nhũng, kinh tế, tín dụng ngân hàng, xác minh và phân loại án, theo dõi thi hành án hành chính, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực thi hành án dân sự.

Đặc biệt, Phụ lục 3 của Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS cụ thể hóa các nhóm giải pháp thực hiện, trong đó, nhấn mạnh trách nhiệm của Trưởng thi hành án dân sự tỉnh, thành phố, Trưởng phòng thi hành án dân sự khu vực và Chấp hành viên trong kiểm soát hồ sơ, đôn đốc tiến độ, xử lý dứt điểm các vụ việc có điều kiện thi hành, nhất là các vụ việc kéo dài, giá trị lớn, phức tạp. Có thể thấy, xét dưới góc độ đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS không chỉ đặt ra các tiêu chí định lượng về kết quả thi hành án, mà còn hình thành căn cứ quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện, khả năng phối hợp và chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức, nhất là Chấp hành viên và công chức giữ vị trí lãnh đạo, quản lý trong hệ thống thi hành án dân sự địa phương.

Cùng với đó, Quyết định số 763/QĐ-BTP phê duyệt danh mục vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, bản mô tả công việc và khung năng lực của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự. Như vậy, Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS và Quyết định số 763/QĐ-BTP cho thấy, pháp luật và văn bản quản lý nội bộ ngành đã hình thành hai căn cứ để đánh giá chất lượng công chức: mức độ hoàn thành chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác và mức độ phù hợp giữa năng lực cá nhân với yêu cầu vị trí việc làm. Tuy nhiên, hai căn cứ này hiện mới tồn tại song song, chưa được tích hợp thành một bộ tiêu chí thống nhất.

3. Đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự

Từ cơ sở lý luận về đánh giá công chức theo vị trí việc làm, chuẩn năng lực và kết quả đầu ra, đồng thời, xuất phát từ thực trạng pháp luật đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự hiện nay, hệ tiêu chí đánh giá cần được thiết kế theo hướng kết hợp giữa khung tiêu chí chung của công chức với các tiêu chí đặc thù của lĩnh vực thi hành án dân sự. Khung tiêu chí đó phải vừa bảo đảm thống nhất với Nghị định số 335/2025/NĐ-CP, vừa phản ánh yêu cầu riêng của ngành theo Luật Thi hành án dân sự năm 2025, cơ chế giao chỉ tiêu công tác và mô hình quản trị nhân sự theo vị trí việc làm, khung năng lực.

Về cấu trúc, hệ tiêu chí nên được xây dựng theo hai nhóm. Nhóm thứ nhất là các tiêu chí chung áp dụng cho toàn bộ công chức ngành thi hành án dân sự, nhằm bảo đảm tính thống nhất trong đánh giá công vụ. Nhóm thứ hai là các tiêu chí đặc thù theo từng chức danh, được thiết kế trên cơ sở bản mô tả công việc, khung năng lực vị trí việc làm và sản phẩm công việc thực tế của từng nhóm vị trí. Cách tiếp cận này vừa tránh tình trạng bình quân, dàn đều, vừa bảo đảm thống nhất trong quản trị đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự.

3.1. Nhóm tiêu chí chung áp dụng đối với công chức ngành thi hành án dân sự

Nhóm tiêu chí chung áp dụng đối với công chức ngành thi hành án dân sự gồm bốn nhóm sau:

Một là, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật công vụ. Đây là nhóm tiêu chí nền tảng, bởi công chức ngành thi hành án dân sự trực tiếp nhân danh quyền lực nhà nước để tổ chức thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Chất lượng công chức phải thể hiện ở sự trung thành với Tổ quốc, với Hiến pháp, sự kiên định trong thực thi pháp luật, tính liêm chính, khách quan, không vụ lợi, không né tránh trách nhiệm và không để phát sinh vi phạm đạo đức công vụ. Nhóm tiêu chí này phù hợp với định hướng của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách…[5].

Hai là, trình độ, năng lực chuyên môn và mức độ đáp ứng khung năng lực vị trí việc làm. Nhóm này không chỉ dừng ở trình độ đào tạo, chứng chỉ đào tạo, bồi dưỡng theo ngạch công chức, mà cần đánh giá trực tiếp mức độ phù hợp giữa năng lực thực tế của công chức với yêu cầu của vị trí việc làm đang đảm nhiệm. Trong bối cảnh thi hành án dân sự vận hành ngày càng mạnh theo dữ liệu và quy trình điện tử, nhóm tiêu chí này gồm cả khả năng sử dụng hệ thống thông tin, chuyển đổi số và độ chính xác trong cập nhật dữ liệu nghiệp vụ.

Ba là, chất lượng thực hiện công việc gắn với kết quả, tiến độ và sản phẩm công vụ cụ thể. Đây là nhóm tiêu chí trung tâm trong đánh giá công chức hiện nay. Tuy nhiên, kết quả công việc của công chức thi hành án dân sự không thể chỉ đánh giá bằng một chỉ số đơn lẻ, mà phải kết hợp giữa số lượng công việc, tiến độ, chất lượng của công việc, mức độ đúng quy trình, khả năng phối hợp và mức độ phát sinh sai sót. Cơ chế giao chỉ tiêu theo Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS là cơ sở quan trọng để lượng hóa nhóm tiêu chí này, nhưng phải được kết hợp với tiêu chí định tính để tránh đồng nhất chất lượng công chức với một vài tỷ lệ thi hành án chung.

Bốn là, khả năng phối hợp, trách nhiệm giải trình và thích ứng với yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy. Công chức thi hành án dân sự không chỉ làm việc trong phạm vi nhiệm vụ cá nhân, mà còn vận hành trong cơ cấu bộ máy tinh, gọn hơn, yêu cầu phối hợp mạnh hơn. Vì vậy, khả năng phối hợp với các chủ thể liên quan, trách nhiệm giải trình, tính minh bạch trong xử lý hồ sơ và mức độ thích ứng với đổi mới quản trị phải trở thành tiêu chí đánh giá chính thức.

3.2. Tiêu chí đặc thù đối với Chấp hành viên

Chấp hành viên là chức danh trung tâm của hoạt động thi hành án dân sự, trực tiếp tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Ngoài các tiêu chí chung, hệ tiêu chí đặc thù đối với Chấp hành viên cần tập trung vào bốn nhóm chính:

Một là, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ. Chấp hành viên là chức danh dễ chịu tác động của lợi ích vật chất và áp lực xã hội, do đó, việc đánh giá phải coi trọng tiêu chí liêm chính, khách quan, không tiêu cực, không vi phạm trình tự, thủ tục và không để xảy ra hành vi lợi dụng thẩm quyền trong thi hành án.

Hai là, năng lực tổ chức thi hành án và áp dụng pháp luật thi hành án dân sự. Tiêu chí này phản ánh khả năng ra quyết định về thi hành án đúng thẩm quyền, đúng thời hạn; thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế đúng quy định; xử lý tài sản đúng pháp luật; bảo đảm thi hành đúng nội dung bản án, quyết định. Đây là nhóm tiêu chí cốt lõi phản ánh năng lực nghề nghiệp đặc thù của Chấp hành viên.

Ba là, kết quả thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao. Cần đánh giá Chấp hành viên theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu về việc, về tiền, tiến độ xử lý hồ sơ, số lượng vụ việc có điều kiện thi hành được giải quyết, chất lượng quản lý hồ sơ và mức độ cập nhật đầy đủ diễn biến thi hành án. Tuy nhiên, kết quả chỉ tiêu phải được đặt trong mối quan hệ với độ khó của vụ việc, điều kiện tổ chức thi hành án, số lượng nhân sự, số lượng hồ sơ và tính hợp pháp của kết quả đạt được.

Bốn là, kỹ năng xử lý tình huống, phối hợp liên ngành và tiếp công dân. Đặc thù của Chấp hành viên không chỉ thực hiện thủ tục tổ chức thi hành án, mà còn phải xử lý xung đột, làm việc với đương sự, phối hợp với chính quyền địa phương, công an, cơ quan đăng ký tài sản, tổ chức đấu giá và nhiều chủ thể khác. Vì vậy, chất lượng Chấp hành viên phải được đánh giá qua kỹ năng phối hợp, xử lý tình huống nghiệp vụ, hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải trình.

3.3. Tiêu chí đặc thù đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự

Đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự, cần xuất phát từ đặc thù của chức danh này thiên về kiểm tra, thẩm tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, tham mưu giúp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự trong một số nhiệm vụ thuộc hoạt động thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính. Hệ tiêu chí đặc thù đối với Thẩm tra viên thi hành án dân sự cần tập trung vào ba nhóm chính sau:

Một là, chất lượng công tác thẩm tra, kiểm tra và tham mưu. Tiêu chí này phản ánh khả năng nghiên cứu hồ sơ, phát hiện vấn đề pháp lý, xác định sai sót, tham mưu xử lý vụ việc đúng quy định, chất lượng dự thảo văn bản, báo cáo, kết luận kiểm tra và giá trị tham mưu đối với người đứng đầu đơn vị.

Hai là, chất lượng tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và hạn chế phát sinh đơn thư kéo dài. Các nhiệm vụ như tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra chuyên đề, thẩm tra hồ sơ là nhiệm vụ thực tế của Thẩm tra viên. Việc đánh giá cần gắn với kết quả thực hiện, mức độ sai sót, khả năng phát hiện vi phạm, chất lượng tham mưu và tình trạng phát sinh đơn thư kéo dài.

Ba là, năng lực phối hợp, thống kê, báo cáo và sử dụng dữ liệu nghiệp vụ. Trong điều kiện hiện nay, Thẩm tra viên thi hành án dân sự không chỉ giỏi kỹ năng nghiệp vụ, mà còn phải có năng lực xử lý dữ liệu, tổng hợp thông tin, lập báo cáo chính xác, kịp thời, phục vụ công tác chỉ đạo điều hành và kiểm soát nội bộ. Vì vậy, tiêu chí đánh giá Thẩm tra viên thi hành án dân sự cần gắn thêm với độ chính xác, tính kịp thời và khả năng khai thác dữ liệu để phát hiện, cảnh báo rủi ro trong thi hành án dân sự.

3.4. Tiêu chí đặc thù đối với Thư ký thi hành án dân sự

Đối với Thư ký thi hành án dân sự, hệ tiêu chí đánh giá phải phản ánh đúng bản chất hỗ trợ nghiệp vụ, bảo đảm quy trình và chất lượng hồ sơ của chức danh này. Vì vậy, hệ tiêu chí đánh giá cần tập trung vào ba nhóm chính:

Một là, chất lượng hỗ trợ nghiệp vụ cho Chấp hành viên và Thẩm tra viên thi hành án dân sự. Tiêu chí này cần đánh giá mức độ đầy đủ, đúng quy trình trong việc chuẩn bị hồ sơ, lập dự thảo văn bản, ghi chép biên bản, tống đạt giấy tờ, hỗ trợ xác minh, xây dựng hồ sơ thi hành án, lưu trữ tài liệu và các công việc nghiệp vụ khác theo phân công. Đây là phần công việc cơ bản nhất của Thư ký thi hành án dân sự.

Hai là, tính chính xác, kịp thời và chuẩn hóa của hồ sơ, dữ liệu nghiệp vụ. Trong môi trường quản lý theo dữ liệu và hồ sơ điện tử, Thư ký thi hành án dân sự giữ vai trò rất quan trọng bảo đảm hồ sơ đầy đủ, đúng thể thức, được cập nhật kịp thời, đúng tiến độ, hạn chế tối đa sai sót kỹ thuật và sai lệch dữ liệu. Do đó, đánh giá Thư ký thi hành án dân sự phải gắn với độ chính xác của biên bản, văn bản, tình trạng chậm trễ trong hỗ trợ tác nghiệp, mức độ hoàn chỉnh của hồ sơ và khả năng làm việc trên nền tảng số.

Ba là, tinh thần trách nhiệm, phối hợp và kỷ luật công vụ. Dù không trực tiếp ra quyết định thi hành án như Chấp hành viên, chất lượng công việc của Thư ký thi hành án dân sự ảnh hưởng lớn đến hiệu quả và tính đúng pháp luật của cả quy trình nghiệp vụ. Vì vậy, cần đánh giá Thư ký thi hành án dân sự trên phương diện trách nhiệm trong phối hợp, tính chủ động, tính cẩn trọng, ý thức chấp hành thời hạn và khả năng hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động nghiệp vụ chung của đơn vị.

Như vậy, hệ tiêu chí đánh giá chất lượng công chức ngành thi hành án dân sự trong giai đoạn tới cần được xây dựng theo logic: tiêu chí chung của công chức, tiêu chí đặc thù của thi hành án dân sự, tiêu chí riêng theo từng chức danh, tiêu chí gắn với chỉ tiêu công tác và vị trí việc làm. Trên cơ sở đó, công tác đánh giá mới phản ánh đúng thực chất chất lượng công chức, tạo căn cứ cho bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức thi hành án dân sự.

Kết luận

Trong bối cảnh pháp luật và tổ chức bộ máy đang có sự thay đổi mạnh mẽ, việc hoàn thiện hệ tiêu chí đánh giá theo hướng khoa học, đặc thù, khả thi và có khả năng lượng hóa là điều kiện quan trọng để xây dựng đội ngũ công chức thi hành án dân sự chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại và đáp ứng yêu cầu phát triển đến năm 2030. Hệ tiêu chí đó cần kết hợp tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của ngành, gắn kết quả thi hành án với chất lượng hồ sơ, trách nhiệm giải trình, năng lực phối hợp, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyển đổi số. Chỉ khi đánh giá đúng, thực chất và công bằng, công tác quản lý, sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng công chức thi hành án dân sự mới có cơ sở vững chắc để nâng cao chất lượng đội ngũ và hiệu quả thực thi pháp luật trong giai đoạn mới.

PGS. TS. Nguyễn Minh Hằng & TS. Bùi Nguyễn Phương Lê

Phó Giám đốc Học viện Tư pháp

Trưởng Khoa Đào tạo Các chức danh thi hành án dân sự và Thừa hành viên, Học viện Tư pháp

* Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ của Đề án nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2025 - 2026: “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030”.

[1]. Khoản 2 Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

[2]. OECD (2020), Skills for a High Performing Civil Service, p.60, https://www.oecd.org/en/publications/skills-for-a-high-performing-civil-service_9789264280724-en.html, truy cập ngày 22/4/2026.

[3]. Nguyễn Minh Hải (2025), Nâng cao hiệu quả áp dụng tiêu chí đánh giá công chức ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, (356), 42-45, https://doi.org/10.59394/qlnn.356.2025.1285; Võ Chí Vương (2025), Đổi mới phương pháp đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức bằng KPI ở tỉnh Khánh Hòa, https://tcnnld.vn/news/detail/69417/Doi-moi-phuong-phap-danh-gia-phan-loai-can-bo-cong-chuc-vien-chuc-bang-KPI-o-tinh-Khanh-Hoa.html; HuyềnTrang (2025), Đánh giá công chức bằng KPI: Bảo đảm công bằng và hiệu quả, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/danh-gia-cong-chuc-bang-kpi-bao-dam-cong-bang-va-hieu-qua-882646, truy cập ngày 22/4/2026.

[4]. TS. Nguyễn Quang Thái, PGS.TS. Bùi Thị Huyền (2023), Bàn về hiệu quả công tác thi hành án dân sự và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 1, tr.187.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục Quản lý thi hành án dân sự, Công văn số 872/CQLTHADS-BCĐS&TKDL ngày 18/3/2026 về việc đôn đốc thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính 05 tháng đầu năm 2026 theo Quyết định số 662/QĐ-CQLTHADS.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, Tập 1.

3. Đặng Thị Hồng Hoa, Chất lượng và tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ hiện nay, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tri-thuc-doanh-nhan/-/2018/40030/chat-luong-va-tieu-chi-danh-gia-chat-luong-doi-ngu-can-bo-hien-nay.aspx, truy cập ngày 22/4/2026.

4. Huyền Trang (2025), Đánh giá công chức bằng KPI: Bảo đảm công bằng và hiệu quả, https://www.qdnd.vn/xa-hoi/cac-van-de/danh-gia-cong-chuc-bang-kpi-bao-dam-cong-bang-va-hieu-qua-882646, truy cập ngày 22/4/2026.

5. Nguyễn Hoàng Việt (2023), Bản lĩnh chính trị - Yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong lãnh đạo của Đảng, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/chinh-tri-xay-dung-dang/-/2018/828852/%C2%A0ban-linh-chinh-tri---yeu-to-quan-trong-quyet-dinh-su-thanh-cong-trong-lanh-dao-cua-dang.aspx, truy cập ngày 22/4/2026

6. Nguyễn Minh Hải (2025), Nâng cao hiệu quả áp dụng tiêu chí đánh giá công chức ở Việt Nam, Tạp chí Quản lý nhà nước, (356), 42-45, https://doi.org/10.59394/qlnn.356.2025.1285, truy cập ngày 22/4/2026.

7. OECD (2020), Skills for a High Performing Civil Service, https://www.oecd.org/en/publications/skills-for-a-high-performing-civil-service_9789264280724-en. html, truy cập ngày 22/4/2026.

8. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2026), Nghị quyết số 57-NQ/TW và đột phá chuyển đổi số trong công tác thi hành án dân sự, https://danchuphapluat.vn/nghi-quyet-so-57-nqtw-va-dot-pha-chuyen-doi-so-trong-cong-tac-thi-hanh-an-dan-su-8395.html, truy cập ngày 22/4/2026.

9. Trang thông tin thi hành án dân sự Thành phố Cần Thơ, Chuyển đổi số trong thi hành án dân sự: Từ công cụ kỹ thuật đến thiết chế minh bạch hóa quy trình, https://thi hành án dân sự.moj.gov.vn/cantho/ tin-tuc/chi-tiet/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-ang- tu-thuc-tien-sap-xep-tinh-gon-bo-may-he-thong-thi-hanh-an-dan-su-ky-3-chuyen-oi-so-trong-thi-hành-án-dânsự-tu-cong-cu-ky-thuat-en-thiet-che-minh-bach-hoa-quy-trinh-te580a7743.html, truy cập ngày 22/4/2026.

10. TS. Đào Thị Thanh Thủy (2022), Lý thuyết đánh giá công chức theo kết quả thực thi công vụ, https://lyluanchinhtri.vn/ly-thuyet-danh-gia-cong-chuc-theo-ket-qua-thuc-thi-cong-vu-2147.html, truy cập ngày 22/4/2026.

11. TS. Nguyễn Quang Thái, PGS.TS. Bùi Thị Huyền (2023), Bàn về hiệu quả công tác thi hành án dân sự và hệ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thi hành án dân sự trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (454) tháng 6/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 9/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 9/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn) Trong tháng 9/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Tóm tắt: Xác định bản chất pháp lý của khoản tiền mà người sử dụng lao động phải trả khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm tính thống nhất của pháp luật lao động. Trên cơ sở phân tích Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ những bất cập trong xác định căn cứ phát sinh, thời gian tính trả và giới hạn áp dụng của nghĩa vụ tài chính này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng xác định khoản tiền phải trả là nghĩa vụ tài chính mang tính trách nhiệm lao động đặc thù, đồng thời, bổ sung các tiêu chí về thời gian tính trả và giới hạn nghĩa vụ nhằm bảo đảm tính thống nhất và cân bằng lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Tóm tắt: Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là yêu cầu quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; trong đó, không thể thiếu sự đóng góp của các doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; nghiên cứu đánh giá thực tiễn sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế những năm qua; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các doanh nghiệp, với tư cách là một thành tố cơ bản trong xây dựng, phát triển đất nước và chủ thể đồng kiến tạo thể chế, phục vụ phát triển đất nước.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.

Theo dõi chúng tôi trên: