Thứ bảy 15/08/2026 15:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.

Từ khóa: vi phạm hành chính; xử phạt vi phạm hành chính; cơ sở lưu trú du lịch.

Nhận bài: 22/4/2026 Hoàn thành biên tập: 13/5/2026 Duyệt đăng: 18/5/2026

IMPROVING THE LAW ON ADMINISTRATIVE PENALTIES FOR VIOLATIONS BY TOURIST ACCOMMODATION ESTABLISHMENTS

Abstract: Administrative penalties for violations by tourist accommodation establishments are crucial in ensuring state management order, protecting the legitimate rights and interests of tourists, and contributing to building a safe, healthy, and sustainable tourism business environment. Over time, the law on administrative penalties for violations by tourist accommodation establishments has been gradually improved, creating a legal basis for detecting and handling violations in practice. However, current regulations still have some limitations, such as a lack of uniformity, ambiguity, overlap, and incomplete coverage of certain specific violations. Based on an analysis of some shortcomings of current laws on administrative penalties for tourist accommodation establishments, this study proposes several recommendations for improvement to enhance the effectiveness of penalties in practice.

Keywords: Administrative violations; administrative penalties; tourist accommodation establishments.

Đặt vấn đề

Cơ sở lưu trú du lịch là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch[1]. Cơ sở lưu trú du lịch gồm: khách sạn; biệt thự du lịch; căn hộ du lịch; tàu thủy lưu trú du lịch; nhà nghỉ du lịch; nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê; bãi cắm trại du lịch và các cơ sở lưu trú du lịch khác[2]. Với vị trí là một bộ phận quan trọng trong hệ thống cung ứng dịch vụ du lịch, các cơ sở lưu trú du lịch không chỉ góp phần tạo dựng chất lượng trải nghiệm của khách du lịch, mà còn tác động trực tiếp đến trật tự, an toàn xã hội, môi trường kinh doanh và hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch[3].

Trong quá trình hoạt động, cơ sở lưu trú du lịch có trách nhiệm tuân thủ nhiều nhóm quy định pháp luật khác nhau, như quy định về đăng ký và quản lý cư trú, điều kiện kinh doanh, quảng cáo, an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường, lao động, thuế và các quy định liên quan đến hoạt động dịch vụ khác phát sinh tại cơ sở lưu trú du lịch[4]. Việc chấp hành đầy đủ các quy định này có ý nghĩa quan trọng bảo đảm kỷ cương quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, tạo nền tảng để ngành du lịch phát triển an toàn, bền vững và lành mạnh.

Nhằm thiết lập cơ chế xử lý đối với các hành vi vi phạm của cơ sở lưu trú du lịch, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực có liên quan. Các văn bản này được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý trong phát hiện, xử lý vi phạm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch. Tuy nhiên, hệ thống quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch còn phân tán, quy định tản mát ở nhiều văn bản khác nhau; một số quy định chưa thực sự thống nhất, chưa bao quát đầy đủ các hành vi vi phạm đặc thù, còn chồng chéo hoặc thiếu rõ ràng trong áp dụng. Thực trạng đó dẫn đến những khó khăn trong quá trình nhận diện hành vi vi phạm, xác định căn cứ pháp lý để xử phạt, xác định thẩm quyền xử phạt, cũng như bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Trong bối cảnh hoạt động du lịch ngày càng phát triển, các loại hình cơ sở lưu trú ngày càng đa dạng, mô hình kinh doanh liên tục thay đổi, yêu cầu hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch trở nên cấp thiết. Trên cơ sở đó, nghiên cứu chỉ ra những điểm chưa hợp lý trong cấu trúc nội dung của các quy định pháp luật tại Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 282/2025/NĐ-CP), Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ và Nghị định số 348/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ (Nghị định số 45/2019/NĐ-CP) và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt, tăng cường tính răn đe, phòng ngừa vi phạm và bảo đảm trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch.

1. Một số bất cập trong quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với các cơ sở lưu trú du lịch đóng vai trò quan trọng trong duy trì trật tự và an toàn xã hội, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách du lịch, cũng như tạo môi trường kinh doanh du lịch lành mạnh. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về nội dung này tồn tại một số bất cập.

1.1. Quy định về xử phạt các cơ sở lưu trú du lịch vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú tại Nghị định số 282/2025/NĐ-CP

Trong quá trình hoạt động, cơ sở lưu trú du lịch phải tuân thủ quy định về thông báo lưu trú của khách hàng. Trường hợp vi phạm các quy định về thông báo lưu trú sẽ bị xử phạt theo Điều 10 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Do cơ sở lưu trú du lịch là tổ chức vi phạm nên mức phạt tiền gấp hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân[5]. Cụ thể, hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng (điểm b khoản 1 Điều 10), hành vi “không thực hiện thông báo lưu trú từ 01 đến 03 người lưu trú” sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng (điểm đ khoản 2 Điều 10), hành vi “không thực hiện thông báo lưu trú từ 04 đến 08 người lưu trú” sẽ bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng (điểm b khoản 3 Điều 10), hành vi “không thực hiện thông báo lưu trú từ 09 người lưu trú trở lên” sẽ bị phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng (điểm d khoản 4 Điều 10). Việc xác định các mức độ vi phạm về thông báo lưu trú với các mức phạt tăng dần giúp phân hóa hành vi vi phạm của các cơ sở lưu trú du lịch, đồng thời, giúp người có thẩm quyền dễ dàng xác định hành vi vi phạm và các mức phạt tiền áp dụng đối với cơ sở lưu trú du lịch vi phạm.

Tuy nhiên, vướng mắc phát sinh xảy ra trong thực tiễn khi cơ sở lưu trú du lịch có hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú”. Theo quy định trên, hành vi này có thể bị xử lý theo hai hình thức là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Lý do các nhà làm luật thiết kế quy định này để tạo điều kiện cho người có thẩm quyền chủ động trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý nhà nước nhằm áp dụng pháp luật phù hợp với từng hoàn cảnh, mục đích nhất định. Vì vậy, tùy tình hình cụ thể, người có thẩm quyền có thể xem xét áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đối với cơ sở lưu trú du lịch vi phạm. Tuy nhiên, cách quy định này dẫn đến hệ quả, một số trường hợp, các cơ sở lưu trú du lịch thực hiện hành vi vi phạm có tính chất và mức độ tương tự nhau nhưng bị áp dụng hình thức xử phạt khác nhau.

Thứ nhất, về hình thức xử phạt cảnh cáo.

Điều 22 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2024, 2025 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) quy định:

“Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản”. Như vậy, đối với cá nhân từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính, trong mọi trường hợp đều áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Do đó, đối với nhóm đối tượng này, chỉ cần đáp ứng điều kiện về độ tuổi thì người có thẩm quyền có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo mà không cần xem xét các điều kiện khác kèm theo. Trong khi đó, đối với cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên và tổ chức vi phạm hành chính, hình thức xử phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện: vi phạm hành chính không nghiêm trọng; có tình tiết giảm nhẹ; theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Do đó, khi áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo trên thực tế, người có thẩm quyền xử phạt phải bảo đảm vi phạm hành chính đáp ứng đầy đủ cả ba điều kiện trên. Nói cách khác, nếu thiếu một trong ba điều kiện này thì không thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo[6].

Từ quy định trên cho thấy, điều kiện để người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với cơ sở lưu trú du lịch (tổ chức) khi có hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” phải đáp ứng các điều kiện trên. Khi điểm b khoản 1 Điều 10 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định hành vi này có thể bị xử phạt cảnh cáo thì về mặt quy định pháp luật đã xác định đây là “vi phạm hành chính không nghiêm trọng” và “theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo”. Điều kiện còn lại để hình thức xử phạt cảnh cáo được áp dụng đối với cơ sở lưu trú du lịch vi phạm trên thực tế là hành vi vi phạm phải có “tình tiết giảm nhẹ”. Do đó, nếu người có thẩm quyền xử phạt xác định cơ sở lưu trú du lịch có một trong các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo trong trường hợp này.

Thứ hai, về hình thức phạt tiền.

Theo khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đối với vi phạm hành chính có quy định áp dụng hình thức phạt tiền, người có thẩm quyền sẽ áp dụng mức tiền phạt cụ thể theo hướng dẫn sau: “Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt”. Do đó, trong trường hợp cơ sở lưu trú du lịch có hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” nhưng có tình tiết giảm nhẹ thì người có thẩm quyền có thể áp dụng hình thức phạt tiền từ trên 1.000.000 đồng đến dưới 1.500.000 đồng.

Qua phân tích trên cho thấy, nếu cơ sở lưu trú du lịch có hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” và có tình tiết giảm nhẹ thì người có thẩm quyền có thể lựa chọn xử phạt cảnh cáo hoặc xử phạt tiền với mức từ trên 1.000.000 đồng đến dưới 1.500.000 đồng.

Ví dụ, khách sạn A và khách sạn B đều có hành vi không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú. Trong quá trình xử phạt, cả hai khách sạn đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Sau đó, người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo với khách sạn A và áp dụng hình thức xử phạt tiền 1.200.000 đồng đối với khách sạn B.

Có thể thấy, việc xử phạt của người có thẩm quyền đối với khách sạn A và khách sạn B đều đúng quy định pháp luật nhưng chưa bảo đảm nguyên tắc “công bằng”[7] trong hoạt động xử phạt, vì hành vi của hai khách sạn giống nhau về tính chất, mức độ nhưng hậu quả pháp lý mà hai khách sạn phải gánh chịu lại hoàn toàn khác nhau. Khách sạn A chỉ bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo, trong khi khách sạn B bị áp dụng hình thức xử phạt tiền.

Về bản chất, hình thức xử phạt cảnh cáo chủ yếu mang ý nghĩa giáo dục, nhắc nhở chủ thể vi phạm tôn trọng và chấp hành các quy định pháp luật về quản lý nhà nước. Đây là hình thức xử phạt không trực tiếp làm phát sinh thiệt hại về tài sản đối với người vi phạm. Trong khi hình thức phạt tiền nhằm tước đi một khoản lợi ích vật chất trực tiếp của chủ thể vi phạm, làm cho họ phải gánh chịu hậu quả bất lợi về tài sản, thể hiện sự răn đe nghiêm khắc hơn đối với chủ thể vi phạm[8]. Vì vậy, dù cùng thực hiện hành vi vi phạm có tính chất, mức độ tương đương, nhưng việc một chủ thể chỉ bị cảnh cáo, mà chủ thể còn lại bị phạt tiền sẽ tạo chênh lệch đáng kể về hậu quả pháp lý. Điều này không chỉ làm giảm tính công bằng trong xử phạt, mà còn ảnh hưởng đến tính thuyết phục, tính nghiêm minh và hiệu quả phòng ngừa chung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

1.2. Quy định về xử phạt các cơ sở lưu trú du lịch vi phạm quy định về du lịch tại Nghị định số 45/2019/NĐ-CP

Nghiên cứu cho thấy, Nghị định số 45/2019/NĐ-CP có một số bất cập sau:

Thứ nhất, Nghị định số 45/2019/NĐ-CP chưa có hướng dẫn cụ thể để thi hành biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” đối với cơ sở lưu trú du lịch.

Vi phạm hành chính không chỉ làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước, mà còn gây thiệt hại hoặc tác động tiêu cực đến lợi ích công cộng, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Vì vậy, bên cạnh xử phạt đối với chủ thể vi phạm để bảo đảm tính răn đe, pháp luật còn đặt ra các biện pháp buộc khôi phục, hạn chế hoặc loại bỏ những hậu quả phát sinh từ hành vi vi phạm, đó là các biện pháp khắc phục hậu quả[9].

Điều 10 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định cơ sở lưu trú du lịch có hành vi bán không đúng giá niêm yết hàng hóa, dịch vụ trong cơ sở lưu trú du lịch (khoản 4), không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp theo hợp đồng đã giao kết với khách du lịch (khoản 5), hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch sau khi đã thông báo tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động, hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch sau khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động kinh doanh (khoản 6), không bảo đảm điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch (khoản 7), ngoài việc bị phạt tiền còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính”. Tuy nhiên, Nghị định số 45/2019/NĐ-CP chưa có quy định cụ thể về cách xác định và phương pháp tính “số lợi bất hợp pháp” trong các trường hợp này. Điều này gây khó khăn cho chủ thể có thẩm quyền trong quá trình áp dụng pháp luật như: khó xác định khoản thu nào được coi là số lợi bất hợp pháp; khó phân biệt giữa doanh thu phát sinh từ hành vi vi phạm với chi phí hợp pháp mà cơ sở lưu trú đã bỏ ra; khó xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc khoảng thời gian phát sinh số lợi bất hợp pháp; khó thu thập chứng từ, hóa đơn, dữ liệu đặt phòng hoặc hợp đồng dịch vụ để làm căn cứ tính toán; đồng thời, dễ dẫn đến sự không thống nhất giữa các địa phương, cơ quan xử lý trong xác định số tiền buộc nộp lại. Hệ quả, biện pháp khắc phục hậu quả này tuy đã được quy định trong nghị định nhưng thực tế có thể gây lúng túng, áp dụng thiếu thống nhất hoặc khó bảo đảm tính thuyết phục khi ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Để hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính, Điều 37 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá có được từ vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện để sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện. Như vậy, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã khoanh vùng số lợi bất hợp pháp có được từ vi phạm hành chính gồm tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá. Đồng thời, quy định rõ số lợi bất hợp pháp do cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nộp lại sẽ được xử lý bằng hai cách: sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt. Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chỉ quy định về các khoản lợi được coi là “số lợi bất hợp pháp”, cũng như cách thức nộp lại số lợi bất hợp pháp, mà chưa có hướng dẫn cụ thể về cách tính giá trị “số lợi bất hợp pháp”[10] .

Nghiên cứu quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch trong các lĩnh vực khác cho thấy, một số lĩnh vực đã có hướng dẫn cụ thể về cách xác định số lợi bất hợp pháp để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” đối với cơ sở lưu trú du lịch vi phạm. Chẳng hạn, Điều 50 Nghị định số 87/2026/NĐ-CP ngày 27/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo quy định cơ sở lưu trú du lịch có hành vi “Quảng cáo không đúng loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc quảng cáo về loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận” sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả gồm: “Buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo hoặc thu hồi sản phẩm báo in, tạp chí in quảng cáo”, “Buộc cải chính thông tin” và “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp”[11]. Trong đó, số lợi bất hợp pháp phải nộp lại được xác định là “tiền bằng giá bán sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ trong trường hợp đã bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ kể từ thời điểm thực hiện quảng cáo”. Như vậy, việc quy định cụ thể cách xác định “số lợi bất hợp pháp” đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, góp phần bảo đảm tính thống nhất và thuận lợi cho người có thẩm quyền trong quá trình áp dụng biện pháp “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” đối với hành vi nêu trên.

Thứ hai, hạn chế về kỹ thuật lập pháp. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề[12]. Trong lĩnh vực du lịch, điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng có thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng đối với giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành; thẻ hướng dẫn viên du lịch; quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch; quyết định công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch; quyết định công nhận điểm du lịch; quyết định công nhận khu du lịch; biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch. Theo quy định trên, trong trường hợp cơ sở lưu trú du lịch vi phạm có thể bị tước quyền sử dụng quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch.

Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “tước quyền sử dụng quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch từ 06 tháng đến 12 tháng” đối với các hành vi không bảo đảm số lượng hoặc diện tích buồng ngủ theo tiêu chuẩn tương ứng với từng loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn về nơi để xe và giao thông nội bộ hoặc khu vực sảnh đón tiếp theo quy định; không bảo đảm số lượng hoặc tiêu chuẩn nhà hàng, quầy bar theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn khu vực bếp theo quy định; không bảo đảm số lượng hoặc tiêu chuẩn phòng hội nghị, hội thảo, phòng họp theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn trang thiết bị, tiện nghi khác theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn về dịch vụ theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ của người quản lý hoặc nhân viên phục vụ theo quy định. Tuy nhiên, Điều 5 Nghị định số 348/2025/NĐ-CP đã bãi bỏ quy định này, dẫn đến hệ quả không có hành vi nào bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch. Do thiếu thống nhất trong xây dựng nội dung quy phạm, hình thức xử phạt bổ sung “tước quyền sử dụng quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch” trên thực tế không được áp dụng đối với hành vi vi phạm nào, từ đó, dẫn đến tình trạng “thừa chế tài”.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện

Để khắc phục những bất cập trong quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với các cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, việc áp dụng các hình thức xử phạt khác nhau đối với vi phạm giống nhau sẽ không bảo đảm sự công bằng trong xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch. Do đó, Việt Nam cần thay đổi cách quy định một vi phạm hành chính vừa có thể phạt cảnh cáo, vừa có thể phạt tiền như quy định về xử phạt hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” tại điểm b khoản 1 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Trường hợp đánh giá vi phạm hành chính không nghiêm trọng và không cần thiết phải áp dụng hình thức phạt tiền thì quy định hành vi đó chỉ áp dụng hình thức xử phạt chính là cảnh cáo mà không kèm theo hình thức phạt tiền. Cách quy định này sẽ khắc phục tình trạng thiếu thống nhất trong áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo và phạt tiền khi xử phạt đối với vi phạm hành chính “có tình tiết giảm nhẹ”, phù hợp với yêu cầu tại điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP ngày 18/3/3025 của Chính phủ và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ) khi quy định hình thức xử phạt vi phạm hành chính: “đối với hành vi vi phạm không nghiêm trọng, có tính chất đơn giản, thì phải quy định hình thức xử phạt cảnh cáo”. Ngược lại, trường hợp cho rằng vi phạm hành chính cần bị phạt tiền để tăng tính răn đe đối với chủ thể vi phạm thì không nên kèm theo lựa chọn áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo mà chỉ áp dụng duy nhất hình thức xử phạt chính là phạt tiền.

Thứ hai, Nghị định số 45/2019/NĐ-CP cần bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể để áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng trường hợp nhất định, đặc biệt, cách xác định “số lợi bất hợp pháp” có được do thực hiện vi phạm hành chính của các cơ sở lưu trú du lịch để tránh tình trạng pháp luật có quy định nhưng không thực hiện được hoặc áp dụng tùy tiện, không thống nhất.

Về kỹ thuật lập pháp, Việt Nam cần nghiên cứu bãi bỏ quy định về hình thức xử phạt bổ sung “tước quyền sử dụng có thời hạn quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch” tại điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP. Việc bãi bỏ này xuất phát từ Nghị định số 348/2025/NĐ-CP đã bỏ các trường hợp vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt nêu trên, dẫn đến việc duy trì quy định về hình thức xử phạt này không còn cơ sở thực tiễn. Quy định này phù hợp với Luật Du lịch năm 2017, bởi khoản 1 Điều 52 Luật này quy định cơ sở lưu trú du lịch bị thu hồi quyết định công nhận hạng khi không duy trì chất lượng theo tiêu chuẩn đã được công nhận. Điều này đồng nghĩa với việc nếu cơ sở lưu trú du lịch có các hành vi vi phạm dẫn đến không duy trì chất lượng theo tiêu chuẩn đã được công nhận thì sẽ bị thu hồi quyết định công nhận hạng đối với cơ sở lưu trú du lịch mà không tước quyền sử dụng có thời hạn quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch.

Kết luận

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch đã tạo cơ sở pháp lý cho phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm trong thực tiễn. Tuy nhiên, hiện hệ thống quy định còn một số bất cập như thiếu thống nhất giữa các văn bản, chưa quy định rõ về tiêu chí áp dụng hình thức xử phạt, thiếu hướng dẫn cụ thể đối với một số biện pháp khắc phục hậu quả, cũng như những hạn chế nhất định về kỹ thuật lập pháp. Những bất cập này không chỉ ảnh hưởng đến tính minh bạch, khả thi và thống nhất trong áp dụng pháp luật, mà còn làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch. Vì vậy, việc rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan là cấp thiết. Đồng thời, cần hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, rõ ràng, khả thi và phù hợp thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả xử phạt, tăng cường tính răn đe, phòng ngừa vi phạm và bảo đảm môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh, bền vững.

ThS. Hoàng Khánh Chi

Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Lào Cai, nghiên cứu sinh Trường Đại học Luật Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. Khoản 12 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017.

[2]. Điều 48 Luật Du lịch năm 2017.

[3]. Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mộng Cấm (2023), Quyền của các bên trong hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch - thực trạng và hướng hoàn thiện, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 1, tr.105.

[4]. Nguyễn Thị Anh Huyền (2021), Kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 588, tr.13.

[5]. Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.

[6]. Nguyễn Nhật Khanh (2020), Hình thức xử phạt cảnh cáo trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, số 5, tr.19.

[7]. Điểm b khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định nguyên tắc xử phạt “Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật”.

[8]. Trương Thế Nguyễn, Trần Thanh Tú (2019), Tính răn đe của hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22, tr.39.

[9]. Nguyễn Thị Thảo (2025), Hoàn thiện pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 41, tr.241.

[10]. Nguyễn Nhật Khanh (2018), Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 7, tr.46, 48.

[11]. Điểm b khoản 3, điểm a, c, d khoản 7 Điều 50 Nghị định số 87/2026/NĐ-CP.

[12]. Cao Vũ Minh (2020), Hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, tr.11.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cao Vũ Minh (2020), Hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5.

2. Nguyễn Nhật Khanh (2018), Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 7.

3. Nguyễn Nhật Khanh (2020), Hình thức xử phạt cảnh cáo trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, số 5.

4. Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mộng Cấm (2023), Quyền của các bên trong hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch - thực trạng và hướng hoàn thiện, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 1.

5. Nguyễn Thị Anh Huyền (2021), Kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 588.

6. Nguyễn Thị Thảo (2025), Hoàn thiện pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 41.

7. Trương Thế Nguyễn, Trần Thanh Tú (2019), Tính răn đe của hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (453) tháng 5/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: