Thứ tư 30/09/2026 09:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.

Từ khóa: vi phạm hành chính; xử phạt vi phạm hành chính; cơ sở lưu trú du lịch.

Nhận bài: 22/4/2026 Hoàn thành biên tập: 13/5/2026 Duyệt đăng: 18/5/2026

IMPROVING THE LAW ON ADMINISTRATIVE PENALTIES FOR VIOLATIONS BY TOURIST ACCOMMODATION ESTABLISHMENTS

Abstract: Administrative penalties for violations by tourist accommodation establishments are crucial in ensuring state management order, protecting the legitimate rights and interests of tourists, and contributing to building a safe, healthy, and sustainable tourism business environment. Over time, the law on administrative penalties for violations by tourist accommodation establishments has been gradually improved, creating a legal basis for detecting and handling violations in practice. However, current regulations still have some limitations, such as a lack of uniformity, ambiguity, overlap, and incomplete coverage of certain specific violations. Based on an analysis of some shortcomings of current laws on administrative penalties for tourist accommodation establishments, this study proposes several recommendations for improvement to enhance the effectiveness of penalties in practice.

Keywords: Administrative violations; administrative penalties; tourist accommodation establishments.

Đặt vấn đề

Cơ sở lưu trú du lịch là nơi cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của khách du lịch[1]. Cơ sở lưu trú du lịch gồm: khách sạn; biệt thự du lịch; căn hộ du lịch; tàu thủy lưu trú du lịch; nhà nghỉ du lịch; nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê; bãi cắm trại du lịch và các cơ sở lưu trú du lịch khác[2]. Với vị trí là một bộ phận quan trọng trong hệ thống cung ứng dịch vụ du lịch, các cơ sở lưu trú du lịch không chỉ góp phần tạo dựng chất lượng trải nghiệm của khách du lịch, mà còn tác động trực tiếp đến trật tự, an toàn xã hội, môi trường kinh doanh và hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch[3].

Trong quá trình hoạt động, cơ sở lưu trú du lịch có trách nhiệm tuân thủ nhiều nhóm quy định pháp luật khác nhau, như quy định về đăng ký và quản lý cư trú, điều kiện kinh doanh, quảng cáo, an ninh trật tự, phòng cháy, chữa cháy, bảo vệ môi trường, lao động, thuế và các quy định liên quan đến hoạt động dịch vụ khác phát sinh tại cơ sở lưu trú du lịch[4]. Việc chấp hành đầy đủ các quy định này có ý nghĩa quan trọng bảo đảm kỷ cương quản lý nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, tạo nền tảng để ngành du lịch phát triển an toàn, bền vững và lành mạnh.

Nhằm thiết lập cơ chế xử lý đối với các hành vi vi phạm của cơ sở lưu trú du lịch, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực có liên quan. Các văn bản này được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý trong phát hiện, xử lý vi phạm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch. Tuy nhiên, hệ thống quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch còn phân tán, quy định tản mát ở nhiều văn bản khác nhau; một số quy định chưa thực sự thống nhất, chưa bao quát đầy đủ các hành vi vi phạm đặc thù, còn chồng chéo hoặc thiếu rõ ràng trong áp dụng. Thực trạng đó dẫn đến những khó khăn trong quá trình nhận diện hành vi vi phạm, xác định căn cứ pháp lý để xử phạt, xác định thẩm quyền xử phạt, cũng như bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Trong bối cảnh hoạt động du lịch ngày càng phát triển, các loại hình cơ sở lưu trú ngày càng đa dạng, mô hình kinh doanh liên tục thay đổi, yêu cầu hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch trở nên cấp thiết. Trên cơ sở đó, nghiên cứu chỉ ra những điểm chưa hợp lý trong cấu trúc nội dung của các quy định pháp luật tại Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình (Nghị định số 282/2025/NĐ-CP), Nghị định số 45/2019/NĐ-CP ngày 21/5/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 129/2021/NĐ-CP ngày 30/12/2021 của Chính phủ và Nghị định số 348/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025 của Chính phủ (Nghị định số 45/2019/NĐ-CP) và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt, tăng cường tính răn đe, phòng ngừa vi phạm và bảo đảm trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch.

1. Một số bất cập trong quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với các cơ sở lưu trú du lịch đóng vai trò quan trọng trong duy trì trật tự và an toàn xã hội, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách du lịch, cũng như tạo môi trường kinh doanh du lịch lành mạnh. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành về nội dung này tồn tại một số bất cập.

1.1. Quy định về xử phạt các cơ sở lưu trú du lịch vi phạm quy định về đăng ký và quản lý cư trú tại Nghị định số 282/2025/NĐ-CP

Trong quá trình hoạt động, cơ sở lưu trú du lịch phải tuân thủ quy định về thông báo lưu trú của khách hàng. Trường hợp vi phạm các quy định về thông báo lưu trú sẽ bị xử phạt theo Điều 10 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Do cơ sở lưu trú du lịch là tổ chức vi phạm nên mức phạt tiền gấp hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân[5]. Cụ thể, hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng (điểm b khoản 1 Điều 10), hành vi “không thực hiện thông báo lưu trú từ 01 đến 03 người lưu trú” sẽ bị phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng (điểm đ khoản 2 Điều 10), hành vi “không thực hiện thông báo lưu trú từ 04 đến 08 người lưu trú” sẽ bị phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 16.000.000 đồng (điểm b khoản 3 Điều 10), hành vi “không thực hiện thông báo lưu trú từ 09 người lưu trú trở lên” sẽ bị phạt tiền từ 16.000.000 đồng đến 24.000.000 đồng (điểm d khoản 4 Điều 10). Việc xác định các mức độ vi phạm về thông báo lưu trú với các mức phạt tăng dần giúp phân hóa hành vi vi phạm của các cơ sở lưu trú du lịch, đồng thời, giúp người có thẩm quyền dễ dàng xác định hành vi vi phạm và các mức phạt tiền áp dụng đối với cơ sở lưu trú du lịch vi phạm.

Tuy nhiên, vướng mắc phát sinh xảy ra trong thực tiễn khi cơ sở lưu trú du lịch có hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú”. Theo quy định trên, hành vi này có thể bị xử lý theo hai hình thức là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Lý do các nhà làm luật thiết kế quy định này để tạo điều kiện cho người có thẩm quyền chủ động trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý nhà nước nhằm áp dụng pháp luật phù hợp với từng hoàn cảnh, mục đích nhất định. Vì vậy, tùy tình hình cụ thể, người có thẩm quyền có thể xem xét áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đối với cơ sở lưu trú du lịch vi phạm. Tuy nhiên, cách quy định này dẫn đến hệ quả, một số trường hợp, các cơ sở lưu trú du lịch thực hiện hành vi vi phạm có tính chất và mức độ tương tự nhau nhưng bị áp dụng hình thức xử phạt khác nhau.

Thứ nhất, về hình thức xử phạt cảnh cáo.

Điều 22 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2024, 2025 (Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) quy định:

“Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản”. Như vậy, đối với cá nhân từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính, trong mọi trường hợp đều áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Do đó, đối với nhóm đối tượng này, chỉ cần đáp ứng điều kiện về độ tuổi thì người có thẩm quyền có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo mà không cần xem xét các điều kiện khác kèm theo. Trong khi đó, đối với cá nhân từ đủ 16 tuổi trở lên và tổ chức vi phạm hành chính, hình thức xử phạt cảnh cáo chỉ được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện: vi phạm hành chính không nghiêm trọng; có tình tiết giảm nhẹ; theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Do đó, khi áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo trên thực tế, người có thẩm quyền xử phạt phải bảo đảm vi phạm hành chính đáp ứng đầy đủ cả ba điều kiện trên. Nói cách khác, nếu thiếu một trong ba điều kiện này thì không thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo[6].

Từ quy định trên cho thấy, điều kiện để người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với cơ sở lưu trú du lịch (tổ chức) khi có hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” phải đáp ứng các điều kiện trên. Khi điểm b khoản 1 Điều 10 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP quy định hành vi này có thể bị xử phạt cảnh cáo thì về mặt quy định pháp luật đã xác định đây là “vi phạm hành chính không nghiêm trọng” và “theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo”. Điều kiện còn lại để hình thức xử phạt cảnh cáo được áp dụng đối với cơ sở lưu trú du lịch vi phạm trên thực tế là hành vi vi phạm phải có “tình tiết giảm nhẹ”. Do đó, nếu người có thẩm quyền xử phạt xác định cơ sở lưu trú du lịch có một trong các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo trong trường hợp này.

Thứ hai, về hình thức phạt tiền.

Theo khoản 4 Điều 23 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, đối với vi phạm hành chính có quy định áp dụng hình thức phạt tiền, người có thẩm quyền sẽ áp dụng mức tiền phạt cụ thể theo hướng dẫn sau: “Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt”. Do đó, trong trường hợp cơ sở lưu trú du lịch có hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” nhưng có tình tiết giảm nhẹ thì người có thẩm quyền có thể áp dụng hình thức phạt tiền từ trên 1.000.000 đồng đến dưới 1.500.000 đồng.

Qua phân tích trên cho thấy, nếu cơ sở lưu trú du lịch có hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” và có tình tiết giảm nhẹ thì người có thẩm quyền có thể lựa chọn xử phạt cảnh cáo hoặc xử phạt tiền với mức từ trên 1.000.000 đồng đến dưới 1.500.000 đồng.

Ví dụ, khách sạn A và khách sạn B đều có hành vi không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú. Trong quá trình xử phạt, cả hai khách sạn đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp cơ quan chức năng phát hiện vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Sau đó, người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo với khách sạn A và áp dụng hình thức xử phạt tiền 1.200.000 đồng đối với khách sạn B.

Có thể thấy, việc xử phạt của người có thẩm quyền đối với khách sạn A và khách sạn B đều đúng quy định pháp luật nhưng chưa bảo đảm nguyên tắc “công bằng”[7] trong hoạt động xử phạt, vì hành vi của hai khách sạn giống nhau về tính chất, mức độ nhưng hậu quả pháp lý mà hai khách sạn phải gánh chịu lại hoàn toàn khác nhau. Khách sạn A chỉ bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo, trong khi khách sạn B bị áp dụng hình thức xử phạt tiền.

Về bản chất, hình thức xử phạt cảnh cáo chủ yếu mang ý nghĩa giáo dục, nhắc nhở chủ thể vi phạm tôn trọng và chấp hành các quy định pháp luật về quản lý nhà nước. Đây là hình thức xử phạt không trực tiếp làm phát sinh thiệt hại về tài sản đối với người vi phạm. Trong khi hình thức phạt tiền nhằm tước đi một khoản lợi ích vật chất trực tiếp của chủ thể vi phạm, làm cho họ phải gánh chịu hậu quả bất lợi về tài sản, thể hiện sự răn đe nghiêm khắc hơn đối với chủ thể vi phạm[8]. Vì vậy, dù cùng thực hiện hành vi vi phạm có tính chất, mức độ tương đương, nhưng việc một chủ thể chỉ bị cảnh cáo, mà chủ thể còn lại bị phạt tiền sẽ tạo chênh lệch đáng kể về hậu quả pháp lý. Điều này không chỉ làm giảm tính công bằng trong xử phạt, mà còn ảnh hưởng đến tính thuyết phục, tính nghiêm minh và hiệu quả phòng ngừa chung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

1.2. Quy định về xử phạt các cơ sở lưu trú du lịch vi phạm quy định về du lịch tại Nghị định số 45/2019/NĐ-CP

Nghiên cứu cho thấy, Nghị định số 45/2019/NĐ-CP có một số bất cập sau:

Thứ nhất, Nghị định số 45/2019/NĐ-CP chưa có hướng dẫn cụ thể để thi hành biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” đối với cơ sở lưu trú du lịch.

Vi phạm hành chính không chỉ làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước, mà còn gây thiệt hại hoặc tác động tiêu cực đến lợi ích công cộng, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Vì vậy, bên cạnh xử phạt đối với chủ thể vi phạm để bảo đảm tính răn đe, pháp luật còn đặt ra các biện pháp buộc khôi phục, hạn chế hoặc loại bỏ những hậu quả phát sinh từ hành vi vi phạm, đó là các biện pháp khắc phục hậu quả[9].

Điều 10 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định cơ sở lưu trú du lịch có hành vi bán không đúng giá niêm yết hàng hóa, dịch vụ trong cơ sở lưu trú du lịch (khoản 4), không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp theo hợp đồng đã giao kết với khách du lịch (khoản 5), hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch sau khi đã thông báo tạm dừng hoặc chấm dứt hoạt động, hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch sau khi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền đình chỉ hoạt động kinh doanh (khoản 6), không bảo đảm điều kiện kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch (khoản 7), ngoài việc bị phạt tiền còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính”. Tuy nhiên, Nghị định số 45/2019/NĐ-CP chưa có quy định cụ thể về cách xác định và phương pháp tính “số lợi bất hợp pháp” trong các trường hợp này. Điều này gây khó khăn cho chủ thể có thẩm quyền trong quá trình áp dụng pháp luật như: khó xác định khoản thu nào được coi là số lợi bất hợp pháp; khó phân biệt giữa doanh thu phát sinh từ hành vi vi phạm với chi phí hợp pháp mà cơ sở lưu trú đã bỏ ra; khó xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc khoảng thời gian phát sinh số lợi bất hợp pháp; khó thu thập chứng từ, hóa đơn, dữ liệu đặt phòng hoặc hợp đồng dịch vụ để làm căn cứ tính toán; đồng thời, dễ dẫn đến sự không thống nhất giữa các địa phương, cơ quan xử lý trong xác định số tiền buộc nộp lại. Hệ quả, biện pháp khắc phục hậu quả này tuy đã được quy định trong nghị định nhưng thực tế có thể gây lúng túng, áp dụng thiếu thống nhất hoặc khó bảo đảm tính thuyết phục khi ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Để hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính, Điều 37 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá có được từ vi phạm hành chính mà cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện để sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện. Như vậy, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã khoanh vùng số lợi bất hợp pháp có được từ vi phạm hành chính gồm tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá. Đồng thời, quy định rõ số lợi bất hợp pháp do cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nộp lại sẽ được xử lý bằng hai cách: sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả cho đối tượng bị chiếm đoạt. Tuy nhiên, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 chỉ quy định về các khoản lợi được coi là “số lợi bất hợp pháp”, cũng như cách thức nộp lại số lợi bất hợp pháp, mà chưa có hướng dẫn cụ thể về cách tính giá trị “số lợi bất hợp pháp”[10] .

Nghiên cứu quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch trong các lĩnh vực khác cho thấy, một số lĩnh vực đã có hướng dẫn cụ thể về cách xác định số lợi bất hợp pháp để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” đối với cơ sở lưu trú du lịch vi phạm. Chẳng hạn, Điều 50 Nghị định số 87/2026/NĐ-CP ngày 27/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo quy định cơ sở lưu trú du lịch có hành vi “Quảng cáo không đúng loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc quảng cáo về loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận” sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả gồm: “Buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa quảng cáo hoặc thu hồi sản phẩm báo in, tạp chí in quảng cáo”, “Buộc cải chính thông tin” và “Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp”[11]. Trong đó, số lợi bất hợp pháp phải nộp lại được xác định là “tiền bằng giá bán sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ trong trường hợp đã bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ kể từ thời điểm thực hiện quảng cáo”. Như vậy, việc quy định cụ thể cách xác định “số lợi bất hợp pháp” đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, góp phần bảo đảm tính thống nhất và thuận lợi cho người có thẩm quyền trong quá trình áp dụng biện pháp “buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính” đối với hành vi nêu trên.

Thứ hai, hạn chế về kỹ thuật lập pháp. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được quy định trong Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề[12]. Trong lĩnh vực du lịch, điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng có thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng đối với giấy phép kinh doanh dịch vụ lữ hành; thẻ hướng dẫn viên du lịch; quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch; quyết định công nhận cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch khác đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch; quyết định công nhận điểm du lịch; quyết định công nhận khu du lịch; biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch. Theo quy định trên, trong trường hợp cơ sở lưu trú du lịch vi phạm có thể bị tước quyền sử dụng quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch.

Khoản 5 Điều 12 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung “tước quyền sử dụng quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch từ 06 tháng đến 12 tháng” đối với các hành vi không bảo đảm số lượng hoặc diện tích buồng ngủ theo tiêu chuẩn tương ứng với từng loại, hạng cơ sở lưu trú du lịch theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn về nơi để xe và giao thông nội bộ hoặc khu vực sảnh đón tiếp theo quy định; không bảo đảm số lượng hoặc tiêu chuẩn nhà hàng, quầy bar theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn khu vực bếp theo quy định; không bảo đảm số lượng hoặc tiêu chuẩn phòng hội nghị, hội thảo, phòng họp theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn trang thiết bị, tiện nghi khác theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn về dịch vụ theo quy định; không bảo đảm tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ của người quản lý hoặc nhân viên phục vụ theo quy định. Tuy nhiên, Điều 5 Nghị định số 348/2025/NĐ-CP đã bãi bỏ quy định này, dẫn đến hệ quả không có hành vi nào bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch. Do thiếu thống nhất trong xây dựng nội dung quy phạm, hình thức xử phạt bổ sung “tước quyền sử dụng quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch” trên thực tế không được áp dụng đối với hành vi vi phạm nào, từ đó, dẫn đến tình trạng “thừa chế tài”.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện

Để khắc phục những bất cập trong quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với các cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp sau:

Thứ nhất, việc áp dụng các hình thức xử phạt khác nhau đối với vi phạm giống nhau sẽ không bảo đảm sự công bằng trong xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch. Do đó, Việt Nam cần thay đổi cách quy định một vi phạm hành chính vừa có thể phạt cảnh cáo, vừa có thể phạt tiền như quy định về xử phạt hành vi “không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thông báo lưu trú” tại điểm b khoản 1 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP. Trường hợp đánh giá vi phạm hành chính không nghiêm trọng và không cần thiết phải áp dụng hình thức phạt tiền thì quy định hành vi đó chỉ áp dụng hình thức xử phạt chính là cảnh cáo mà không kèm theo hình thức phạt tiền. Cách quy định này sẽ khắc phục tình trạng thiếu thống nhất trong áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo và phạt tiền khi xử phạt đối với vi phạm hành chính “có tình tiết giảm nhẹ”, phù hợp với yêu cầu tại điểm a khoản 3 Điều 4 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Nghị định số 68/2025/NĐ-CP ngày 18/3/3025 của Chính phủ và Nghị định số 190/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ) khi quy định hình thức xử phạt vi phạm hành chính: “đối với hành vi vi phạm không nghiêm trọng, có tính chất đơn giản, thì phải quy định hình thức xử phạt cảnh cáo”. Ngược lại, trường hợp cho rằng vi phạm hành chính cần bị phạt tiền để tăng tính răn đe đối với chủ thể vi phạm thì không nên kèm theo lựa chọn áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo mà chỉ áp dụng duy nhất hình thức xử phạt chính là phạt tiền.

Thứ hai, Nghị định số 45/2019/NĐ-CP cần bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể để áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả trong từng trường hợp nhất định, đặc biệt, cách xác định “số lợi bất hợp pháp” có được do thực hiện vi phạm hành chính của các cơ sở lưu trú du lịch để tránh tình trạng pháp luật có quy định nhưng không thực hiện được hoặc áp dụng tùy tiện, không thống nhất.

Về kỹ thuật lập pháp, Việt Nam cần nghiên cứu bãi bỏ quy định về hình thức xử phạt bổ sung “tước quyền sử dụng có thời hạn quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch” tại điểm a khoản 2 Điều 3 Nghị định số 45/2019/NĐ-CP. Việc bãi bỏ này xuất phát từ Nghị định số 348/2025/NĐ-CP đã bỏ các trường hợp vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt nêu trên, dẫn đến việc duy trì quy định về hình thức xử phạt này không còn cơ sở thực tiễn. Quy định này phù hợp với Luật Du lịch năm 2017, bởi khoản 1 Điều 52 Luật này quy định cơ sở lưu trú du lịch bị thu hồi quyết định công nhận hạng khi không duy trì chất lượng theo tiêu chuẩn đã được công nhận. Điều này đồng nghĩa với việc nếu cơ sở lưu trú du lịch có các hành vi vi phạm dẫn đến không duy trì chất lượng theo tiêu chuẩn đã được công nhận thì sẽ bị thu hồi quyết định công nhận hạng đối với cơ sở lưu trú du lịch mà không tước quyền sử dụng có thời hạn quyết định công nhận hạng cơ sở lưu trú du lịch.

Kết luận

Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch đã tạo cơ sở pháp lý cho phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm trong thực tiễn. Tuy nhiên, hiện hệ thống quy định còn một số bất cập như thiếu thống nhất giữa các văn bản, chưa quy định rõ về tiêu chí áp dụng hình thức xử phạt, thiếu hướng dẫn cụ thể đối với một số biện pháp khắc phục hậu quả, cũng như những hạn chế nhất định về kỹ thuật lập pháp. Những bất cập này không chỉ ảnh hưởng đến tính minh bạch, khả thi và thống nhất trong áp dụng pháp luật, mà còn làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch. Vì vậy, việc rà soát, sửa đổi và hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan là cấp thiết. Đồng thời, cần hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, thống nhất, rõ ràng, khả thi và phù hợp thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả xử phạt, tăng cường tính răn đe, phòng ngừa vi phạm và bảo đảm môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh, bền vững.

ThS. Hoàng Khánh Chi

Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại tỉnh Lào Cai, nghiên cứu sinh Trường Đại học Luật Hà Nội

Ảnh: Internet

[1]. Khoản 12 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017.

[2]. Điều 48 Luật Du lịch năm 2017.

[3]. Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mộng Cấm (2023), Quyền của các bên trong hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch - thực trạng và hướng hoàn thiện, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 1, tr.105.

[4]. Nguyễn Thị Anh Huyền (2021), Kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 588, tr.13.

[5]. Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP.

[6]. Nguyễn Nhật Khanh (2020), Hình thức xử phạt cảnh cáo trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, số 5, tr.19.

[7]. Điểm b khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định nguyên tắc xử phạt “Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật”.

[8]. Trương Thế Nguyễn, Trần Thanh Tú (2019), Tính răn đe của hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22, tr.39.

[9]. Nguyễn Thị Thảo (2025), Hoàn thiện pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 41, tr.241.

[10]. Nguyễn Nhật Khanh (2018), Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 7, tr.46, 48.

[11]. Điểm b khoản 3, điểm a, c, d khoản 7 Điều 50 Nghị định số 87/2026/NĐ-CP.

[12]. Cao Vũ Minh (2020), Hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, tr.11.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cao Vũ Minh (2020), Hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn trong pháp luật xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5.

2. Nguyễn Nhật Khanh (2018), Biện pháp khắc phục hậu quả buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 7.

3. Nguyễn Nhật Khanh (2020), Hình thức xử phạt cảnh cáo trong pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học, số 5.

4. Nguyễn Thành Phương, Nguyễn Mộng Cấm (2023), Quyền của các bên trong hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch - thực trạng và hướng hoàn thiện, Tạp chí Pháp luật về quyền con người, số 1.

5. Nguyễn Thị Anh Huyền (2021), Kinh doanh dịch vụ lưu trú du lịch tại Việt Nam, Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương, số 588.

6. Nguyễn Thị Thảo (2025), Hoàn thiện pháp luật về biện pháp khắc phục hậu quả trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo, Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 41.

7. Trương Thế Nguyễn, Trần Thanh Tú (2019), Tính răn đe của hình thức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 22.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (453) tháng 5/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: