Thứ sáu 25/09/2026 13:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.

Từ khóa: quyền tác nghiệp báo chí; xét xử công khai; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024.

Nhận bài: 16/5/2026 Hoàn thành biên tập: 16/6/2026 Duyệt đăng: 18/6/2026

The right of practice journalism at public court hearings according to Article 141 of the Law on Organization of People's Courts of 2024 - Shortcomings and recommendations for improvement

Abstract: Clause 3 of Article 141 of the Law on Organization of People's Courts 2024, amended and supplemented by Law No. 81/2025/QH15 (Law on Organization of People's Courts 2024), allows audio recording throughout the trial but only video recording during the opening and sentencing phases, leaving the questioning and argumentation phases outside the scope of media recording. Domestic studies on public trials, freedom of the press, and the right to access information have largely failed to separately assess this provision according to the doctrine of proportionality and balance of constitutional rights. Applying the three conditions restricting rights in Clause 2, Article 14 of the 2013 Constitution, as amended and supplemented by Resolution No. 203/2025/QH15 (2013 Constitution), shows that this regulation is appropriate but does not fully meet the necessity and proportionality requirements, as there exist less restrictive measures that still provide equivalent protection to vulnerable groups. Based on the theory of balancing rights, research is conducted to develop priority criteria between freedom of the press and privacy rights; simultaneously, proposals are made to amend Clause 3, Article 141 and further refine the Draft Circular of the Chief Justice of the Supreme People's Court regulating the rules of court sessions and meetings, and the recording of speeches and images of court proceedings (Draft Circular) to be compatible with Clause 4, Article 27 of the 2025 Press Law and to establish a coordination mechanism between the Court and the press.

Keywords: Rights to practice journalism; public trial; Law on the Organization of People's Courts of 2024.

Article received: 16/5/2026 Editing completed: 16/6/2026 Approved for publication: 18/6/2026

Đặt vấn đề

Phiên tòa công khai là thiết chế bảo đảm quyền tư pháp và quyền tiếp cận thông tin của công chúng; báo chí vừa phản ánh diễn biến tố tụng, vừa thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử. Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 cho phép ghi âm suốt phiên tòa nhưng chỉ cho phép ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án, khiến phần xét hỏi và tranh tụng nằm ngoài phạm vi ghi hình. Điểm l khoản 3 Điều 3 Dự thảo Thông tư còn buộc nhà báo không xuất trình thẻ phải rời phòng xử án, trong khi khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025[1] đã thừa nhận giấy giới thiệu hợp lệ có giá trị tương đương[2].

Các nghiên cứu thường tiếp cận xét xử công khai, tự do báo chí và quyền riêng tư như những giá trị tách biệt, chưa đối chiếu khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 theo ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 và chưa giải quyết mâu thuẫn với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025. Trên cơ sở học thuyết tương xứng và cân bằng quyền[3] cho thấy, cơ chế hạn chế theo giai đoạn tại khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng. Trong phạm vi nghiên cứu, ghi hình phiên tòa được hiểu là phương thức thực hiện quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013, không phải một quyền hiến định độc lập.

1. Khung pháp lý và nguyên tắc xử lý khi hai đạo luật có khác biệt

Trước khi đánh giá tính hợp hiến của khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, cần xác định khung pháp lý điều chỉnh quyền tự do báo chí tại phiên tòa và làm rõ nguyên tắc áp dụng khi hai đạo luật cùng cấp quy định khác nhau.

1.1. Khung pháp lý điều chỉnh quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa gồm bốn quyền liên quan nhưng không đồng nhất: quyền tham dự; quyền ghi âm và ghi hình; quyền phát sóng; quyền khai thác thương mại hình ảnh tố tụng. Khoản 3 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 bảo đảm trước hết quyền tham dự, không thể từ nguyên tắc xét xử công khai suy ra một quyền ghi hình hay phát sóng không giới hạn. Vấn đề đặt ra, không phải là xóa bỏ mọi hạn chế ghi hình, mà đánh giá khả năng hoàn thiện mức hạn chế theo yêu cầu hiến định.

Có quan điểm cho rằng, khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 chỉ điều chỉnh trật tự phiên tòa, không hạn chế quyền hiến định, nên khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 không được áp dụng. Lập luận này chưa thực sự thuyết phục, bởi khi một quy phạm loại bỏ phương thức ghi hình ở phần xét hỏi và tranh tụng, làm thu hẹp khả năng thu thập và phản ánh thông tin của báo chí, tức là can thiệp vào nội dung của quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin tại Điều 25; mà giới hạn phương thức thực hiện một quyền cũng là một hình thức hạn chế quyền, nên phải chịu sự đánh giá theo khoản 2 Điều 14. Mối liên hệ với khoản 3 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 củng cố nhận định này: xét xử công khai là bảo đảm hiến định khả năng giám sát của xã hội, nên hạn chế khả năng tiếp cận thông tin tố tụng của công chúng ảnh hưởng đến mục tiêu công khai hoạt động xét xử Điều 103 hướng tới.

Quyền tự do báo chí trong hoạt động tư pháp bắt nguồn từ chức năng hiến định của báo chí. Thực tiễn quốc tế thừa nhận rộng rãi chức năng giám sát công quyền của báo chí, vai trò càng quan trọng khi hoạt động của quyền lực công ít chịu giám sát[4]. Cách tiếp cận này thống nhất với Bình luận chung số 34 của Ủy ban Nhân quyền về Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, theo đó, báo chí và quyền tương ứng của công chúng được nhận thông tin là bộ phận cốt lõi của tự do biểu đạt[5]. Việc viện dẫn nhằm xác định cơ sở chức năng quyền được Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, đồng thời, chỉ rõ giới hạn: mức bảo vệ cao nhất dành cho thông tin phục vụ tranh luận công, không cho thông tin thuần túy khai thác đời tư.

Quyền tác nghiệp báo chí được quy định tại Hiến pháp và các luật chuyên ngành về báo chí, tố tụng. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định bảo đảm quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin, khoản 3 Điều 103 yêu cầu xét xử công khai, khoản 1 Điều 31 ghi nhận suy đoán vô tội. Điểm d khoản 2 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 ghi nhận quyền hoạt động nghiệp vụ tại phiên tòa công khai, khoản 4 Điều 27 thừa nhận giấy giới thiệu hợp lệ có giá trị tương đương thẻ nhà báo. Điều 25 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm 2021, 2025 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) ghi nhận xét xử công khai, khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 quy định chế độ ghi âm, ghi hình.

Cần lưu ý sự khác biệt về thuật ngữ “người tham gia phiên tòa” tại khoản 3 Điều 141 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, gồm bị cáo, bị hại, người làm chứng, người bào chữa, khác với “người tham dự phiên tòa”, vốn chỉ công chúng có mặt. Hệ quả, phần xét hỏi và tranh tụng nằm ngoài phạm vi ghi hình, không phân biệt loại vụ án hay chủ thể tố tụng.

1.2. Nguyên tắc xử lý khi hai đạo luật có khác biệt

Khi hai đạo luật quy định khác nhau, việc xử lý được thực hiện theo thứ bậc hiệu lực và các nguyên tắc bổ trợ. Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 phải bảo đảm hợp hiến với các điều 14, 25, 31 và 103 Hiến pháp năm 2013. Điểm khác biệt là điều kiện nhận diện chủ thể được tác nghiệp, nguyên tắc ưu tiên văn bản ban hành sau cho phép áp dụng khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025, theo khoản 4 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 87/2025/QH15) về xử lý quy định khác nhau “về cùng một vấn đề”, bởi hai quy phạm cùng điều chỉnh một đối tượng cụ thể. Một vướng mắc cần xử lý khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 và Luật Báo chí năm 2025 đều là luật chuyên ngành, nên nguyên tắc luật riêng được ưu tiên (lex specialis) không tự phân định được. Tuy nhiên, xét riêng nội dung quy định là điều kiện nhận diện chủ thể tác nghiệp, khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 là quy phạm chuyên biệt trực tiếp, nên nguyên tắc ưu tiên văn bản ban hành sau (lex posterior) được ưu tiên áp dụng theo hướng áp dụng Luật Báo chí năm 2025. Ở phạm vi nội quy và điều hành trật tự phiên tòa, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 giữ vị trí luật chuyên ngành.

Khung pháp lý trên phản ánh điểm khác biệt giữa hai đạo luật không bao trùm toàn bộ Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 mà tập trung ở điều kiện nhận diện chủ thể, phạm vi giai đoạn được ghi hình và thẩm quyền tùy nghi của Thẩm phán. Việc xác định đúng các điểm này là tiền đề để đánh giá tính hợp hiến.

2. Bất cập của quy định và các giới hạn cân nhắc

Việc phân tích bất cập của quy định hiện hành, đồng thời, đặt quyền tự do báo chí bên cạnh các nguyên tắc độc lập xét xử và quyền riêng tư, làm cơ sở áp dụng học thuyết cân bằng quyền.

2.1. Thẩm quyền tùy nghi thiếu tiêu chí và yêu cầu về tính minh bạch, khả năng dự đoán trước

Khi khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 đặt giới hạn ghi hình ngay ở giai đoạn xét hỏi và tranh tụng đã tác động tới phương thức tác nghiệp của chủ thể thực hiện chức năng thông tin công chúng, tức là điểm mà hai đạo luật cùng điều chỉnh một đối tượng.

Khoản 3 Điều 141 trao quyền này cho Thẩm phán chủ tọa nhưng không kèm tiêu chí khách quan, trong khi Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới yêu cầu nâng cao tính công khai, minh bạch và bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của Nhân dân. Khi phạm vi ghi hình phụ thuộc vào quyết định tùy nghi mà thiếu tiêu chí công bố trước, nhà báo khó xác định trước khả năng được chấp thuận và các Tòa án dễ áp dụng thiếu thống nhất. Khi đó, quy định này khó đáp ứng yêu cầu tối thiểu về tính rõ ràng và khả năng dự đoán trước mà một biện pháp hạn chế quyền phải có.

2.2. Khác biệt về điều kiện chủ thể và phạm vi tác nghiệp

Về điều kiện nhận diện chủ thể, điểm l khoản 3 Điều 3 Dự thảo Thông tư chỉ thừa nhận thẻ nhà báo, trong khi khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 công nhận cả giấy giới thiệu hợp lệ có giá trị tương đương6. Là văn bản dưới luật, có giá trị tương đương[6]. Là văn bản dưới luật, một đạo luật được Quốc hội ban hành sau đã quy định, đây là xung đột về nội dung quy phạm, không phải về cách diễn giải. Về phạm vi phản ánh, 05 trường hợp ghi âm, ghi hình tại khoản 1 Điều 6 Dự thảo Thông tư đều phục vụ nhu cầu nội bộ ngành, không ghi nhận hoạt động báo chí, kể cả ở phần khai mạc và tuyên án mà điểm b kể cả ở phần khai mạc và tuyên án mà điểm b khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 cho phép. Ngoài ra, cả Luật và Dự thảo Thông tư đều chưa phân biệt 04 dạng hoạt động có mức tác động khác nhau là ghi hình lưu trữ, ghi hình phát sóng có biên tập, phát trực tiếp và khai thác thương mại.

2.3. Quan hệ với nguyên tắc độc lập xét xử

Lập luận ủng hộ Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 có sức thuyết phục cao nhất gắn với độc lập xét xử (khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013) và cần được thừa nhận thay vì bác bỏ. Xét xử qua truyền thông, áp lực dư luận đặt lên Hội đồng xét xử, sự đe dọa người làm chứng khi danh tính bị phát tán và nội dung giả mạo bằng trí tuệ nhân tạo đều là những rủi ro hiện hữu mà cơ chế ghi hình rộng rãi có thể làm gia tăng.

Tuy nhiên, độc lập xét xử là yêu cầu Thẩm phán không chịu tác động trái pháp luật khi hình thành phán quyết, tức là cách ly khỏi áp lực quyền lực và lợi ích cục bộ, mà không phải cách ly khỏi giám sát minh bạch trong khuôn khổ pháp luật. Các chuẩn mực quốc tế về đạo đức tư pháp xác định độc lập và trách nhiệm giải trình là hai mặt bổ sung, trong đó, giám sát công khai không làm suy giảm tính độc lập[7]. Quan trọng hơn, những quan ngại trên là lý lẽ ủng hộ việc phân loại và kiểm soát ghi hình, không phải ủng hộ một biện pháp hạn chế đồng loạt theo giai đoạn. Mỗi rủi ro đều có biện pháp xử lý trực tiếp tương ứng: nguy cơ xét xử qua truyền thông (trial by media) được kiềm chế bằng quy tắc cấm đưa tin kết tội trước phán quyết; đe dọa người làm chứng được xử lý bằng làm mờ hình ảnh, biến đổi giọng nói hoặc xét xử kín; nội dung giả mạo được kiểm soát bằng cơ chế phối hợp giữa Tòa án và cơ quan quản lý báo chí. Các biện pháp này hạn chế ít hơn hoạt động giám sát mà vẫn xử lý đúng nguyên nhân phát sinh rủi ro.

Đối với nội dung giả mạo bằng trí tuệ nhân tạo, cần lưu ý công nghệ này có thể tạo hình ảnh giả ngay cả khi không có tư liệu gốc, nên hạn chế ghi hình hợp pháp không loại bỏ được nguyên nhân phát sinh rủi ro mà còn làm giảm khối tư liệu chính thống để công chúng đối chiếu.

2.4. Học thuyết cân bằng quyền và giới hạn của quyền tự do báo chí

Việc xác định giới hạn quyền tự do báo chí tại phiên tòa đòi hỏi phải đặt quyền này trong tương quan với quyền riêng tư và quyền đối với hình ảnh của người tham gia tố tụng.

2.4.1. Quyền riêng tư và quyền đối với hình ảnh của người tham gia tố tụng

Lợi ích được bảo vệ ở phía bên kia là quyền đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và quyền đối với hình ảnh của những người xuất hiện tại phiên tòa. Điều 21 Hiến pháp năm 2013 bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư và bảo vệ danh dự, uy tín; Điều 32 và Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 cụ thể hóa quyền đối với hình ảnh và đời sống riêng tư[8]. Chế độ đồng ý của người tham gia phiên tòa tại khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 không chỉ bảo vệ danh dự, mà còn là biểu hiện của quyền tự quyết về thông tin cá nhân, tức là năng lực quyết định khi nào và trong giới hạn nào thông tin về đời sống riêng của mình được tiết lộ[9]. Vì vậy, sự đồng ý không thể bị thay thế hoàn toàn bằng việc viện dẫn lợi ích công cộng một cách khái quát.

2.4.2. Cơ sở của cân bằng quyền và tiêu chí ưu tiên

Khi quyền tự do báo chí và quyền riêng tư cùng được Hiến pháp bảo vệ khi có xung đột, không quyền nào tự động loại trừ quyền còn lại; mức độ bảo hộ của mỗi quyền được xác định qua việc cân bằng. Theo nguyên tắc cân bằng của Alexy, mức ưu tiên dành cho một nguyên tắc tỷ lệ thuận với tầm quan trọng của việc thỏa mãn nguyên tắc đối lập và mức độ hạn chế đối với nguyên tắc đó[10]. Thực tiễn nhân quyền quốc tế đã cụ thể hóa việc cân bằng này. Trong vụ Axel Springer, Tòa án châu Âu về quyền con người lấy mức đóng góp của thông tin vào tranh luận công làm tiêu chí trọng tâm. Trong vụ Bédat, các tiêu chí ấy được mở rộng sang xung đột giữa tự do báo chí với quyền được xét xử công bằng và suy đoán vô tội, qua đó, lợi ích công cộng không phải căn cứ biện minh tuyệt đối mà phải được cân nhắc cùng tác động đối với người tham gia tố tụng[11]. Áp dụng vào phiên tòa, ba yếu tố cần xem xét gồm mức đóng góp của thông tin vào lợi ích công cộng, mức cần thiết của việc ghi hình để đạt mục tiêu thông tin và mức xâm phạm quyền riêng tư cùng quyền đối với hình ảnh.

Lợi ích công cộng cần được phân biệt với sự hiếu kỳ của công chúng: lợi ích công cộng gắn với khả năng giám sát quyền tư pháp được thực thi, còn sự hiếu kỳ chỉ phản ánh mức độ chú ý mà một vụ việc. Đồng thời, cần phân biệt bước cần thiết với bước cân bằng: bước cần thiết so sánh các biện pháp cùng đạt mục tiêu để chọn biện pháp hạn chế ít nhất, còn bước cân bằng đặt lợi ích bảo vệ đối trọng với quyền bị hạn chế.

Từ ba yếu tố trên, có thể xác định khi nào quyền tự do báo chí được ưu tiên. Thông tin càng phục vụ việc giám sát hoạt động tư pháp và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền thì mức bảo hộ dành cho quyền tự do báo chí càng cao; ngược lại, thông tin chỉ nhằm thỏa mãn sự hiếu kỳ và khai thác đời sống cá nhân của người tham gia tố tụng phải được giới hạn để bảo vệ quyền riêng tư. Theo các tiêu chí trên, có thể phân thành ba mức bảo vệ: người tiến hành tố tụng khi thực thi công vụ chịu mức thấp nhất; bị cáo hưởng mức trung gian gắn với suy đoán vô tội; bị hại và người làm chứng thuộc nhóm yếu thế hưởng mức cao nhất, kèm biện pháp kỹ thuật như làm mờ hình ảnh, biến đổi giọng nói hoặc xét xử kín khi cần.

2.4.3. Giới hạn của quyền tự do báo chí tại phiên tòa

Các tiêu chí trên cho phép khái quát giới hạn của quyền tự do báo chí tại phiên tòa thành bốn ranh giới mà hoạt động ghi hình và đưa tin không được vượt qua: không làm tổn hại tính độc lập của xét xử và trật tự phiên tòa; không xâm phạm suy đoán vô tội, đặc biệt, qua việc đưa tin kết tội trước phán quyết; không tiết lộ thông tin đời tư không cần thiết cho mục đích giám sát; không làm nhận diện nhóm dễ tổn thương như trẻ em, nạn nhân xâm hại tình dục, người làm chứng được bảo vệ. Giới hạn thứ tư xuất phát từ thực tiễn: một khi bị phát tán trên không gian mạng, hình ảnh tố tụng tồn tại lâu dài, khó thu hồi có độ lan tỏa nhanh, rộng, với hệ quả nặng nề nhất thuộc về bị cáo nếu được tuyên vô tội và đối với bị hại trong vụ án nhạy cảm.

Việc thừa nhận tầm quan trọng của quyền riêng tư không đồng nghĩa với việc cấm ghi hình toàn bộ giai đoạn xét hỏi là biện pháp tương xứng. Các mục tiêu điều luật hướng tới đều chính đáng và đủ để bác bỏ quan điểm xóa bỏ Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024. Hơn nữa, phiên tòa công khai vừa phục vụ quyền tiếp cận thông tin, vừa bảo đảm bị cáo trước nguy cơ xét xử tùy tiện. Do đó, vấn đề đặt ra không phải là tính chính đáng của mục tiêu mà là mức độ phù hợp của biện pháp được lựa chọn.

3. Đánh giá tính hợp hiến của khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 theo nguyên tắc hạn chế quyền

Từ những phân tích trên, nghiên cứu đánh giá khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 theo bốn tiêu chí của học thuyết tương xứng và đối chiếu những hạn chế tương ứng trong Dự thảo Thông tư.

3.1. Bốn tiêu chí đánh giá theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013

Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 cho phép hạn chế quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội và sức khỏe cộng đồng. Theo học thuyết tương xứng, một biện pháp hạn chế quyền phải đáp ứng bốn tiêu chí sau:

(i) Về mục tiêu chính đáng.

Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 hướng tới bảo vệ quyền con người, quyền riêng tư, quyền đối với hình ảnh của người tham gia tố tụng, bảo đảm trật tự và sự tôn nghiêm của phiên tòa, phòng ngừa việc đưa tin định hướng dư luận trước phán quyết và kiểm soát rủi ro từ nội dung giả mạo[12]. Các mục tiêu này đều nằm trong những lý do mà khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 cho phép viện dẫn, nên tiêu chí thứ nhất được thỏa mãn. Vì vậy, vấn đề cần xem xét không nằm ở tính chính đáng của mục tiêu mà ở cách thức thực hiện.

(ii) Về tính phù hợp.

Cần xem xét liệu biện pháp hạn chế có khả năng thực tế đạt được các mục tiêu trên hay không. Việc giới hạn ghi hình ở giai đoạn xét hỏi có mối liên hệ hợp lý với mục tiêu bảo vệ người tham gia tố tụng và giữ trật tự phiên tòa, nên tiêu chí thứ hai cũng được đáp ứng.

(iii) Về tính cần thiết.

Đây là tiêu chí có ý nghĩa quyết định, liệu có một biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn đạt mục tiêu ở mức tương đương hay không, đây cũng là bước kiểm soát chặt hơn cả[13]. Lập luận này đòi hỏi sự thận trọng: biện pháp thay thế không chỉ phải nhẹ hơn, mà còn phải bảo đảm mức độ bảo vệ tương đương đối với nhóm yếu thế. Cần thừa nhận đánh giá về mức bảo vệ tương đương mang tính lập luận pháp lý dựa trên thiết kế của biện pháp, không dựa trên dữ liệu thực nghiệm; song phương án phân loại theo nhóm chủ thể vẫn bảo đảm được mức bảo vệ đó, vì giữ nguyên mức bảo vệ cao nhất cho nhóm yếu thế ở giai đoạn nhạy cảm và chỉ nới lỏng ở những vụ án không có chủ thể cần bảo vệ đặc biệt. Khi tồn tại một phương án vừa hạn chế ít hơn, vừa có khả năng bảo vệ tương đương, lập luận về tính cần thiết của biện pháp hạn chế đồng loạt trở nên chưa thực sự thuyết phục.

Tại Đức, Điều 169 Luật Tổ chức Tòa án giữ nguyên tắc cấm ghi hình, ghi âm để phát sóng trong phiên xử và Tòa án Hiến pháp Liên bang đã nhiều lần khẳng định lệnh cấm phù hợp với Luật Cơ bản[14]. Lệnh cấm không nhằm hạ thấp vai trò giám sát của báo chí mà nhằm bảo vệ quyền nhân thân của người tham gia tố tụng và bảo đảm tiến trình xét xử trực tiếp, bằng lời không bị nhiễu loạn; tính công khai vẫn được bảo đảm qua sự hiện diện trực tiếp của công chúng và báo chí. Trên cơ sở đó, cải cách năm 2017 vẫn thiết lập một cơ chế linh hoạt: cho phép truyền âm thanh tới phòng báo chí và phát phần tuyên án của các Tòa án Liên bang tối cao. Hàn Quốc, Anh và Pháp theo hướng tương tự: phát phần tuyên án trong vụ án lớn hoặc cho ghi hình vì lợi ích công cộng, đều kèm điều kiện về sự đồng ý và bảo vệ nhóm yếu thế[15]. Điểm chung của bốn quốc gia không lựa chọn giữa hai cực cấm tuyệt đối và mở cửa hoàn toàn, mà thiết kế cơ chế linh hoạt theo giai đoạn và chủ thể, kèm cơ chế kiểm soát bằng tiêu chí lợi ích công cộng, sự đồng ý và bảo vệ nhóm yếu thế. Như vậy, các mô hình pháp luật đều tách bạch mục tiêu bảo vệ nhân thân khỏi biện pháp cấm đồng loạt và giữ vai trò giám sát của báo chí qua cơ chế phân loại thay vì hạn chế toàn bộ.

(iv) Về tính tương xứng.

Theo học thuyết cân bằng của Alexy, cần so sánh mức độ hạn chế quyền tự do báo chí với tầm quan trọng của lợi ích mà biện pháp bảo vệ. Mức độ hạn chế quyền là đáng kể, vì hạn chế đồng loạt theo giai đoạn loại bỏ hoàn toàn việc ghi hình ở giai đoạn xét hỏi và tranh tụng, phần thường được xem là có ý nghĩa lớn nhất đối với hoạt động giám sát của công chúng và báo chí. Ở chiều ngược lại, lợi ích bổ sung mà biện pháp hạn chế đồng loạt đem lại so với cơ chế phân loại nhưng không làm tăng đáng kể mức độ bảo vệ, bởi cơ chế phân loại đã bảo vệ trọn vẹn nhóm yếu thế. Khi quyền bị hạn chế ở mức đáng kể nhưng lợi ích bảo vệ tăng thêm không tương xứng, khó có cơ sở khẳng định yêu cầu tương xứng theo nghĩa hẹp được đáp ứng.

Trên cơ sở bốn tiêu chí, khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 thỏa mãn mục tiêu chính đáng và tính phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng trong phần lớn vụ án công khai thông thường.

3.2. Khoảng trống của

Dự thảo Thông tư và dấu hiệu vượt phạm vi ủy quyền Dự thảo Thông tư gồm 08 điều, trong đó, Điều 3 quy định nội quy phiên tòa và Điều 6 quy định việc ghi âm, ghi hình. Điểm o khoản 3 Điều 3 đã phân loại hậu quả pháp lý theo loại vụ án, một điểm tiến bộ về kỹ thuật lập pháp, song còn ba khoảng trống: (i) điểm l khoản 3 Điều 3 chỉ thừa nhận thẻ nhà báo, hẹp hơn khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025, trong khi hạn chế phạm vi chủ thể thuộc thẩm quyền lập pháp của Quốc hội; (ii) cả 05 trường hợp ghi âm, ghi hình tại khoản 1 Điều 6 đều phục vụ nội bộ ngành, còn việc ghi hình phần khai mạc, tuyên án theo điểm b khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 chưa được cụ thể hóa cho báo chí; (iii) tiêu chí về sự đồng ý của Thẩm phán chủ tọa được giữ nguyên, không xác định các trường hợp không được từ chối, khiến vấn đề về khả năng dự đoán trước không được xử lý ở văn bản dưới luật.

Cả ba hạn chế trên đều cho thấy những bất cập về kỹ thuật lập pháp. Khoản 4 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 ủy quyền Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết việc ghi âm, ghi hình, nhưng khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đòi hỏi việc hạn chế quyền chỉ được thực hiện theo quy định của luật. Khi một văn bản dưới luật thu hẹp điều kiện nhận diện chủ thể tác nghiệp so với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025, văn bản đó có dấu hiệu vượt phạm vi ủy quyền lập quy và chuyển nội dung khác biệt sang quy định của thông tư.

4. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích, đánh giá trên, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về ghi hình tại phiên tòa công khai như sau:

Thứ nhất, sửa đổi khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 theo hướng chuyển từ hạn chế theo giai đoạn sang hạn chế theo nội dung và chủ thể.

Theo đó, ghi hình được thực hiện trong toàn bộ phiên tòa, trừ các trường hợp bảo vệ đặc biệt do luật quy định gồm người làm chứng được bảo vệ, người chưa thành niên, nạn nhân tội phạm xâm hại tình dục và vụ án có yếu tố bí mật nhà nước hoặc bí mật đời tư. Với các trường hợp này, Hội đồng xét xử có thẩm quyền hạn chế ghi hình theo từng phân đoạn, lý do ghi rõ trong biên bản. Chế độ pháp lý cũng cần phân loại theo bốn dạng hoạt động: ghi hình lưu trữ phục vụ đối chiếu chịu ràng buộc thấp nhất, khai thác thương mại bị nghiêm cấm, còn phát trực tiếp chịu ràng buộc cao nhất trong các dạng còn lại.

Đề xuất về thủ tục minh bạch nhằm bảo đảm khả năng dự đoán trước của biện pháp hạn chế quyền và từ cơ chế biên bản, khiếu nại, tố cáo đã có trong pháp luật tố tụng. Khi Hội đồng xét xử quyết định không cho phép ghi hình ở một phân đoạn, quyết định nên được ghi vào biên bản kèm lý do; nhà báo có thể kiến nghị bằng văn bản và kiến nghị được lưu hồ sơ để xem xét khi giải quyết khiếu nại, tố cáo. Về tính khả thi, để không tạo gánh nặng cho các Tòa án, trách nhiệm làm mờ hình ảnh, che giọng nên thuộc về cơ quan báo chí dưới sự kiểm tra của Tòa án; mô hình một nhóm ghi hình đại diện dùng chung tư liệu, như kinh nghiệm của Đức, giúp giảm thiết bị trong phòng xử; việc lưu trữ, bảo mật dữ liệu cần được quy định kèm chế tài ràng buộc trách nhiệm của cơ quan báo chí.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư.

Trước hết, cần sửa đổi điểm l khoản 3 Điều 3 Dự thảo Thông tư để thừa nhận cả thẻ nhà báo và giấy giới thiệu hợp lệ làm căn cứ tác nghiệp, như hệ quả trực tiếp của thứ bậc hiệu lực pháp luật. Đồng thời, bổ sung vào Điều 6 trường hợp ghi hình phục vụ báo chí ở phần khai mạc và tuyên án theo điểm b khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, kèm thủ tục đăng ký trước, vị trí đặt thiết bị và biện pháp bảo vệ người làm chứng yếu thế. Bên cạnh đó, cần cụ thể hóa điểm đ khoản 1 Điều 3 về phát trực tiếp bằng tiêu chí khách quan để Chủ tọa quyết định, gồm loại vụ án, sự hiện diện của nhóm yếu thế, mức độ quan tâm của công chúng và rủi ro về trật tự phiên tòa, đồng thời, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để bảo đảm tương thích với văn bản hướng dẫn Luật Báo chí.

Thứ ba, cơ chế tổ chức thực hiện.

Ở cấp tổ chức, bộ phận Văn phòng của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và một số Tòa án khu vực có số lượng vụ án lớn có thể làm đầu mối tiếp nhận đăng ký tác nghiệp và cho phép vào phiên tòa mà không phát sinh biên chế. Đồng thời, với sự tham vấn của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội Nhà báo Việt Nam nên ban hành bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với hoạt động tác nghiệp báo chí tư pháp, tập trung vào việc cấm đưa tin kết tội trước phán quyết, ranh giới giữa thông tin tố tụng và đời tư, trách nhiệm đính chính và ứng xử với nội dung giả mạo. So với các quy định mang tính cấm đoán trực tiếp, bộ quy tắc này ít hạn chế quyền hơn, vừa định hướng hành nghề, vừa tạo cơ sở xử lý lạm dụng. Đồng thời, cần tiếp tục bồi dưỡng kỹ năng điều hành phiên tòa có báo chí tham dự để các tiêu chí phân loại được áp dụng thống nhất.

Kết luận

Khi đánh giá theo khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 thỏa mãn mục tiêu chính đáng và tính phù hợp, nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng trong phần lớn vụ án công khai thông thường, bởi mục tiêu bảo vệ nhóm yếu thế và trật tự phiên tòa có thể đạt được ở mức tương đương thông qua cơ chế phân loại theo nội dung và chủ thể. Mâu thuẫn giữa quy định này với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và Dự thảo Thông tư có dấu hiệu vượt phạm vi ủy quyền lập quy, do đó, cần xem xét mức độ hạn chế quyền của biện pháp được lựa chọn. Từ đó, cần chuyển từ hạn chế theo giai đoạn sang hạn chế theo nội dung và chủ thể, kèm bộ tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư, nhằm bảo đảm hài hòa giữa trật tự tư pháp và chức năng giám sát mà Hiến pháp đã trao cho báo chí.

Nguyễn Việt Bách

Trường Đại học Luật Hà Nội

Ảnh: Internet

Bài viết sử dụng bản Dự thảo 2 ngày 30/01/2026, xem tại: https://vbpq.toaan.gov.vn/webcenter/portal/htvb/chi-tiet-vbdt?dDocName=TAND372489, truy cập ngày 18/5/2026.

[1]. Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.

[2]. Phạm Đông, Cần thống nhất quy định tác nghiệp báo chí tại phiên tòa, https://laodong.vn/thoi-su/can-thong-nhat-quy-dinh-tac-nghiep-bao-chi-tai-phien-toa-1670818.ldo, truy cập ngày 18/5/2026.

[3]. R. Alexy (2002), A Theory of Constitutional Rights (J. Rivers dịch), Oxford University Press, p.66-69, 401-414; A. Barak (2012), Proportionality: Constitutional Rights and their Limitations, Cambridge University Press, p.340-370.

[4]. Về vai trò “public watchdog” của báo chí và phạm vi bảo vệ theo Điều 10 Công ước châu Âu về quyền con người (xem ECtHR, Magyar Helsinki Bizottság v. Hungary [GC], App. No. 18030/11, phán quyết ngày 08/11/2016, đoạn 165; ECtHR, Axel Springer AG v. Germany [GC], App. No. 39954/08, ngày 07/02/2012, đoạn 79-81 (công chúng có lợi ích chính đáng được thông tin về thủ tục tố tụng hình sự).

[5]. Human Rights Committee (2011), General Comment No. 34 on Article 19, CCPR/C/GC/34, đoạn 13 và đoạn 21-22. Mô hình đánh giá giới hạn quyền tại Điều 19(3) Công ước phản ánh đúng logic ba điều kiện tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, là cơ sở đối chiếu hữu ích do Việt Nam là thành viên Công ước.

[6]. Giá trị pháp lý của giấy giới thiệu đã được cụ thể hóa: Thông tư số 13/2026/TT-BVHTTDL ngày 03/6/2026 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định về điều kiện, hoạt động, hồ sơ thông báo thành lập cơ quan thường trú, văn phòng đại diện, cử phóng viên thường trú và mẫu giấy giới thiệu khi hoạt động nghiệp vụ báo chí (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) quy định mẫu giấy giới thiệu khi hoạt động nghiệp vụ báo chí theo khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025.

[7]. The Bangalore Principles of Judicial Conduct (2002), Lời nói đầu và Giá trị 1, do Judicial Integrity Group soạn thảo dưới sự bảo trợ của UNODC; Human Rights Committee (2007), General Comment No. 32, CCPR/C/GC/32, đoạn 28.

[8]. Cao Thị Ngọc Yến (2023), Quyền của cá nhân đối với hình ảnh: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 04/2023, tr.31-39.

[9]. Khái niệm quyền tự quyết về thông tin (informationelle Selbstbestimmung) được Tòa án Hiến pháp Liên bang Đức xác lập trong phán quyết về Tổng điều tra dân số năm 1983 (BVerfGE 65, 1).

[10]. R. Alexy (2002), sđd, p.401-414 (“Law of Balancing” và Weight Formula). Bài viết vận dụng cấu trúc định tính của học thuyết cân bằng của Alexy, không sử dụng dạng định lượng của công thức trọng số, phù hợp với truyền thống lập luận của luật học Việt Nam.

[11]. ECtHR, Bédat v. Switzerland [GC], App. No. 56925/08, phán quyết ngày 29/3/2016, đoạn 51-55, áp dụng bộ tiêu chí Axel Springer cho xung đột giữa Điều 10 và Điều 6 §1, gồm sự đóng góp vào tranh luận công, mức độ nổi tiếng của người liên quan, nội dung và hệ quả của bài báo.

[12]. Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Những điểm mới cơ bản của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2024, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn, truy cập ngày 22/5/2026.

[13]. Về tính cần thiết như bước đòi hỏi biện pháp thay thế phải có hiệu quả tương đương (equally effective) (xem: R. Alexy (2002), sđd, p.397-401; N. Petersen (2017), Proportionality and Judicial Activism, Cambridge University Press, p.53-78).

[14]. BVerfGE 103, 44; Điều 169 Gerichtsverfassungsgesetz (GVG), sửa đổi bởi Gesetz zur Erweiterung der Medienöffentlichkeit in Gerichtsverfahren (EMöGG) ngày 08/10/2017, BGBl. I S. 3546.

[15]. Tòa án tối cao Hàn Quốc, Quy tắc về phát sóng phiên tòa năm 2017; The Crown Court (Recording and Broadcasting) Order 2020, S.I. 2020/637 (Anh và xứ Wales); Điều 38 quater Loi du 29 juillet 1881, bổ sung bởi Loi n° 2021-1729 ngày 22/12/2021 và Décret n° 2022-462 ngày 31/3/2022 (Pháp).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Alexy, R. (2002), A Theory of Constitutional Rights (J. Rivers dịch), Oxford University Press.

2. Barak, A. (2012), Proportionality: Constitutional Rights and their Limitations, Cambridge University Press.

3. Bédat v. Switzerland [GC] (2016), App. No. 56925/08, European Court of Human Rights.

4. Human Rights Committee (2011), General Comment No. 34 on Article 19, CCPR/C/GC/34.

5. Vũ Công Giao (2025), Bảo đảm tính công khai, minh bạch của hoạt động tư pháp theo Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 03/2025.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (455) - tháng 6/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Tóm tắt: Xác định bản chất pháp lý của khoản tiền mà người sử dụng lao động phải trả khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm tính thống nhất của pháp luật lao động. Trên cơ sở phân tích Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ những bất cập trong xác định căn cứ phát sinh, thời gian tính trả và giới hạn áp dụng của nghĩa vụ tài chính này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng xác định khoản tiền phải trả là nghĩa vụ tài chính mang tính trách nhiệm lao động đặc thù, đồng thời, bổ sung các tiêu chí về thời gian tính trả và giới hạn nghĩa vụ nhằm bảo đảm tính thống nhất và cân bằng lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Tóm tắt: Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là yêu cầu quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; trong đó, không thể thiếu sự đóng góp của các doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; nghiên cứu đánh giá thực tiễn sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế những năm qua; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các doanh nghiệp, với tư cách là một thành tố cơ bản trong xây dựng, phát triển đất nước và chủ thể đồng kiến tạo thể chế, phục vụ phát triển đất nước.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: