Thứ năm 29/10/2026 04:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Đấu giá tài sản là phương thức quan trọng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch trong chuyển dịch tài sản, khai thác hiệu quả các nguồn lực và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân. Sau gần 10 năm thi hành, một số nội dung của Luật Đấu giá tài sản năm 2016[I], phát sinh bất cập như không còn phù hợp với thực tiễn, mâu thuẫn, chồng chéo với một số quy định trong các luật mới được ban hành gần đây. Trên cơ sở phân tích chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện và đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi, chi phí tuân thủ thấp, phát huy hiệu quả nguồn lực tài sản và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Từ khóa: đấu giá tài sản; hoàn thiện pháp luật; cải cách hành chính; đấu giá quyền sử dụng đất; chuyển đổi số.

Đặt vấn đề

Đấu giá tài sản có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công khai, minh bạch khi chuyển dịch quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất, khai thác hiệu quả nguồn lực và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, trong đó yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực; đồng thời, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản trị quốc gia đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Thực tiễn thi hành pháp luật về đấu giá tài sản cho thấy, một số quy định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng, không còn phù hợp với thực tiễn, thậm chí một số quy định phát sinh mâu thuẫn, chồng chéo với một số văn bản pháp luật có liên quan. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá sự cần thiết và đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đấu giá, khai thác nguồn lực tài sản và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

1. Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản

Trong bối cảnh đất nước đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật cải cách hành chính, chuyển đổi số và huy động các nguồn lực cho phát triển, pháp luật về đấu giá tài sản cần tiếp tục được rà soát, hoàn thiện đồng bộ nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Thứ nhất, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Kỷ nguyên mới là kỷ nguyên vươn mình phát triển, giàu mạnh dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu; mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của thế giới, hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu[1]. Trên tinh thần đó, Đảng xác định phải đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng, pháp luật vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, vừa khuyến khích đổi mới sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển, dứt khoát từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm”; các quy định của luật phải dễ tuân thủ, chi phí thấp, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm[2]. Đặc biệt, việc xây dựng pháp luật phải bảo đảm đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, phải tạo điều kiện để nắm bắt mọi cơ hội, mở đường, khơi thông mọi nguồn lực, tạo nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”, nâng cao đời sống của Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước[3]. Vì thế, hoàn thiện thể chế được xác định là một trong ba đột phá chiến lược nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo động lực cho phát triển đất nước[4].

Như vậy, các chủ trương của Đảng về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đặt ra yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đối với lĩnh vực đấu giá tài sản, yêu cầu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vì đấu giá là phương thức pháp lý quan trọng để xác định giá bán tài sản thông qua bỏ giá cạnh tranh, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản và hạn chế nguy cơ thất thoát, lãng phí. Vì vậy, những quy định pháp luật chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ hoặc không phù hợp với thực tiễn có thể gây khó khăn trong tổ chức thực hiện, làm tăng chi phí tuân thủ và tạo điều kiện cho hành vi lợi dụng hoạt động đấu giá để trục lợi.

Từ yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản cần xác định rõ những vấn đề phải được điều chỉnh ở cấp luật và những nội dung có thể giao Chính phủ, bộ, ngành quy định chi tiết theo thẩm quyền; đồng thời, phân định rõ trách nhiệm của người có tài sản, tổ chức hành nghề đấu giá tài sản, đấu giá viên và người tham gia đấu giá. Việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản cũng cần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các lĩnh vực pháp luật có liên quan, nhất là pháp luật về đất đai, quản lý và sử dụng tài sản công; thi hành án dân sự; tín dụng, ngân hàng, đầu tư, doanh nghiệp và xử lý vi phạm hành chính. Bên cạnh đó, cần xác định rõ quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư trong xây dựng pháp luật về đấu giá tài sản. Ngoài ra, pháp luật về đấu giá cần quy định rõ phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp; rà soát việc giao quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành theo hướng rõ nội dung, thẩm quyền và trách nhiệm, hạn chế tình trạng phân tán quy định ở nhiều văn bản, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật.

Thứ hai, đáp ứng yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

Để đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững, thời gian qua, Đảng đã ban hành nhiều văn kiện, nghị quyết, kết luận về huy động mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế đất nước[5]. Trước yêu cầu của Đảng và trong bối cảnh nền kinh tế cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nhất là tăng trưởng hai con số, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lực, đấu giá tài sản có vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ chế phân bổ tài sản dựa trên cạnh tranh và hoạt động thị trường. Đối với tài sản công và quyền sử dụng đất, đấu giá còn gắn trực tiếp với yêu cầu quản lý chặt chẽ tài sản thuộc sở hữu toàn dân, bảo đảm công khai, minh bạch và phòng, chống thất thoát, lãng phí. Tuy nhiên, hiệu quả của đấu giá không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng cuộc đấu giá hoặc mức giá trúng đấu giá cao, vì trong nhiều trường hợp, đấu giá phải hướng tới việc lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực, có uy tín và có khả năng thực hiện, triển khai dự án đầu tư sau khi đã trúng đấu giá như đấu giá quyền sử dụng đất, quyền khai thác khoáng sản…

Vì vậy, trước yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế đất nước, pháp luật về đấu giá tài sản cần thiết lập cơ chế vừa thúc đẩy cạnh tranh, tạo thuận lợi cho các chủ thể tham gia, vừa phòng ngừa, kiểm soát rủi ro, bảo đảm việc đấu giá được thực hiện công khai, minh bạch và kết quả đấu giá được thực hiện trên thực tế.

Thứ ba, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động đấu giá tài sản.

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã, đang làm thay đổi phương thức quản lý, cung cấp dịch vụ và thực hiện các giao dịch kinh tế. Vì vậy, thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản pháp luật để thúc đẩy phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo[6].

Trên thực tế, ứng dụng công nghệ trong đấu giá tài sản không chỉ giới hạn ở việc tổ chức đấu giá trực tuyến mà có thể triển khai ở nhiều khâu của quy trình đấu giá, từ tiếp nhận hồ sơ, công khai thông tin, đăng ký tham gia, nộp tiền đặt trước, tổ chức cuộc đấu giá đến xác nhận kết quả, lưu trữ hồ sơ và phục vụ công tác kiểm tra, giám sát. Đặc biệt, trí tuệ nhân tạo và công nghệ phân tích dữ liệu có tiềm năng hỗ trợ phát hiện những dấu hiệu bất thường trong hoạt động đấu giá, chẳng hạn, đối chiếu thông tin để nhận diện các trường hợp trùng lặp về thông tin người tham gia đấu giá, phân tích mối liên hệ bất thường giữa các chủ thể tham gia cuộc đấu giá, phát hiện những mô hình trả giá có dấu hiệu thông đồng hoặc tình trạng thường xuyên trúng đấu giá nhưng không thực hiện nghĩa vụ… Các công cụ này cũng có thể hỗ trợ cơ quan quản lý phân tích dữ liệu về giá khởi điểm, giá trúng đấu giá và kết quả đấu giá theo từng nhóm tài sản, địa bàn, thời gian, qua đó nâng cao chất lượng quản lý và cảnh báo rủi ro. Tuy nhiên, kết quả phân tích của hệ thống công nghệ chỉ có giá trị hỗ trợ nhận diện, đánh giá rủi ro; việc xác định hành vi vi phạm và xử lý phải căn cứ vào chứng cứ và quy định của pháp luật.

Việc ứng dụng công nghệ đặt ra những vấn đề pháp lý mới như xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể có liên quan, bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu và kiểm soát tính chính xác, độ tin cậy của kết quả do hệ thống công nghệ tạo ra. Những vấn đề này đặt ra yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản theo hướng tạo cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ, bảo đảm khả năng thích ứng với tiến bộ khoa học, công nghệ, đồng thời, duy trì tính minh bạch, khả năng kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình trong hoạt động đấu giá, tránh quy định cứng nhắc gây cản trở đổi mới sáng tạo.

Thứ tư, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và xây dựng Chính phủ số.

Cải cách hành chính, cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và xây dựng Chính phủ số là những yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Vì vậy, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, văn bản, đề án để thực hiện cải cách hành chính, cắt giảm đơn giản hóa thủ tục hành chính, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và thực hiện thủ tục trên môi trường số[7].

Trong lĩnh vực đấu giá tài sản, thủ tục hành chính và quy trình nghiệp vụ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận tài sản, chi phí tham gia và mức độ cạnh tranh của cuộc đấu giá. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản cần gắn với rà soát toàn diện các thủ tục trong hoạt động đấu giá, xác định rõ thành phần hồ sơ, phương thức thực hiện, thời hạn giải quyết và trách nhiệm của từng chủ thể; đồng thời, loại bỏ những yêu cầu không cần thiết, trùng lặp hoặc không còn phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính.

Cùng với đơn giản hóa thủ tục, cần tiếp tục làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước và trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức có liên quan đến đấu giá tài sản. Đồng thời, việc xây dựng Chính phủ số cũng đặt ra yêu cầu đấu giá tài sản phải phù hợp với phương thức quản lý dựa trên dữ liệu, kết nối và chia sẻ thông tin giữa các cơ quan có thẩm quyền.

Thứ năm, đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ, tăng cường công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đấu giá tài sản.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo tác động sâu, rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội; đồng thời, trong bối cảnh quản trị quốc gia hiện đại, việc quản trị, ra quyết định ngày càng dựa trên dữ liệu. Vì vậy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác, được cập nhật thường xuyên và có khả năng kết nối, chia sẻ là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và hiệu quả quản lý nhà nước.

Hiện, thông tin phục vụ hoạt động đấu giá có thể liên quan đến nhiều cơ quan và hệ thống khác nhau, như thông tin về tài sản, quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, tình trạng pháp lý của tài sản, giá khởi điểm, thông báo đấu giá, người tham gia, kết quả đấu giá và việc thực hiện nghĩa vụ của người trúng đấu giá. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản gắn với việc xây dựng, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu về đấu giá theo hướng thống nhất, đồng bộ, chính xác, thường xuyên được cập nhật và có khả năng kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu có liên quan theo quy định của pháp luật. Đồng thời, cơ sở dữ liệu về đấu giá cần phục vụ trực tiếp cho yêu cầu minh bạch hóa thị trường. Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu cần được khai thác để hỗ trợ công tác kiểm tra, giám sát, phòng ngừa và phát hiện vi phạm, thay vì chỉ phục vụ mục đích thống kê.

Như vậy, xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ về đấu giá tài sản vừa là yêu cầu của chuyển đổi số, vừa là điều kiện nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và tăng cường giám sát xã hội.

2. Một số hạn chế, bất cập trong quy định và thực hiện pháp luật về đấu giá tài sản

Từ khi ban hành đến nay, Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đã góp phần tạo lập khuôn khổ pháp lý về trình tự, thủ tục đấu giá chặt chẽ; giải quyết tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật; nâng cao tính công khai, minh bạch, hiệu quả trong việc xử lý tài sản, đặc biệt là tài sản công; từng bước chuyên nghiệp hóa hoạt động đấu giá tài sản; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hoạt động đấu giá tài sản cả ở trung ương và địa phương. Hoạt động đấu giá tài sản đã phát triển về số lượng, chất lượng với gần 1.200 đấu giá viên, gần 500 doanh nghiệp đấu giá tài sản và 32 Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tại các tỉnh, thành phố. Số lượng các cuộc đấu giá tài sản công ngày càng tăng, nhiều cuộc đấu giá được tổ chức thành công với giá trị tài sản bán được cao hơn nhiều lần so với giá khởi điểm, đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công; các hình thức đấu giá được áp dụng phong phú, đa dạng; việc ứng dụng công nghệ thông tin được quan tâm và đã thu được những kết quả ban đầu[8]. Tuy nhiên, sau gần 10 năm thi hành cho thấy, Luật Đấu giá tài sản năm 2016 còn một số hạn chế, bất cập cần khắc phục[9]. Cụ thể:

Thứ nhất, pháp luật về đấu giá tài sản chưa thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng pháp luật, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; đồng thời, một số quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa bảo đảm đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật hiện hành nhất là các văn bản pháp luật mới được ban hành những năm gần đây.

Thứ hai, một số quy định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa đủ rõ ràng, chặt chẽ hoặc chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn, dẫn đến khó khăn trong áp dụng và tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng.

Đối với những tài sản mà pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá, một số quy định về niêm yết, thông báo công khai, thời hạn thực hiện thủ tục và trình tự tổ chức cuộc đấu giá chưa thực sự phù hợp với đặc điểm của từng nhóm tài sản. Một số quy trình đấu giá chưa có cơ chế đủ mạnh để xử lý các trường hợp người tham gia đã nộp hồ sơ, tiền đặt trước nhưng không thực sự có nhu cầu mua; tham gia nhằm cản trở cuộc đấu giá; hoặc trả giá cao bất thường mà không thực hiện nghĩa vụ.

Đối với đấu giá tài sản thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân tự nguyện lựa chọn bán thông qua đấu giá, quy định hiện hành còn tản mạn, chưa tạo thành khuôn khổ pháp lý đầy đủ và linh hoạt. Bên cạnh đó, quy định về trách nhiệm của người có tài sản đấu giá trong toàn bộ quá trình tổ chức đấu giá và cơ chế hủy kết quả đấu giá còn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện. Đặc biệt, một số quy định về trình tự, thủ tục đấu giá tài sản bất cập, không phù hợp với thực tiễn, gây khó khăn cho tổ chức hành nghề đấu giá, người có tài sản đấu giá và các tổ chức, cá nhân liên quan[10].

Thứ ba, quy định của pháp luật về xác định giá khởi điểm và đấu giá quyền sử dụng đất còn bất cập.

Đấu giá quyền sử dụng đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến nguồn thu ngân sách, khai thác nguồn lực đất đai, phát triển đô thị và thị trường bất động sản. Tuy nhiên, việc xác định giá khởi điểm đối với một số tài sản, đặc biệt là quyền sử dụng đất còn có trường hợp chưa phản ánh sát giá thị trường[11].

Giá khởi điểm quá thấp so với giá trị thị trường có thể làm tăng nguy cơ thất thoát tài sản công nếu cuộc đấu giá không tạo ra cạnh tranh thực chất. Thực tiễn đấu giá quyền sử dụng đất cho thấy, tình trạng người trúng đấu giá trả giá cao nhưng không thực hiện nghĩa vụ tài chính đúng hạn, chấp nhận mất tiền đặt trước hoặc tìm cách kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ[12]. Pháp luật về đấu giá tài sản chưa có cơ chế xử lý hiệu quả đối với các trường hợp này, trong khi việc xử lý còn phụ thuộc vào quy định pháp luật có liên quan và đặc điểm của từng loại tài sản. Đồng thời, hệ thống thông tin đất đai và hệ thống thông tin đấu giá chưa được kết nối, liên thông đầy đủ, gây khó khăn cho việc khai thác thông tin phục vụ hoạt động đấu giá và quản lý nhà nước.

Thứ tư, quy định của pháp luật về phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi thông đồng, dìm giá, thao túng trong đấu giá tài sản còn hạn chế, bất cập.

Một trong những điều kiện quan trọng để đấu giá phát huy hiệu quả là người tham gia được cạnh tranh bình đẳng, tự do trả giá và không bị đe dọa, cưỡng ép hoặc chi phối bởi các thỏa thuận “ngầm”. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng “cò mồi”, đe dọa, cưỡng ép và thông đồng trong đấu giá còn xảy ra và có diễn biến phức tạp. Trong khi đó, quy định của pháp luật và việc tổ chức thực hiện còn những hạn chế trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi này. Đồng thời, việc lưu trữ thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu về đấu giá chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn để khai thác, phòng ngừa và xử lý vi phạm xảy ra trong quá trình đấu giá tài sản.

Thứ năm, đội ngũ đấu giá viên và chất lượng hoạt động của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản còn những hạn chế, bất cập nhất định.

Đấu giá viên và tổ chức hành nghề đấu giá là những chủ thể trực tiếp bảo đảm việc tuân thủ trình tự, thủ tục và tính khách quan của cuộc đấu giá. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ đấu giá viên và hoạt động của một số tổ chức hành nghề đầu giá chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Quy định về tiêu chuẩn đấu giá viên cần được đánh giá trên cả hai phương diện: khả năng mở rộng nguồn nhân lực và bảo đảm chất lượng nghề nghiệp; đồng thời, quy định của pháp luật còn thiên về kiểm soát bằng cấp chuyên môn ban đầu, mà chưa thực sự quan tâm đến yêu cầu về năng lực chuyên môn như kỹ năng điều hành phiên đấu giá, đạo đức nghề nghiệp. Bên cạnh đó, số lượng đấu giá viên tăng nhưng chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn và những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển như thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hải Phòng. Đồng thời, chất lượng chuyên môn, kỹ năng hành nghề và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận đấu giá viên chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu[13].

Đối với tổ chức hành nghề đấu giá, số lượng tổ chức hành nghề tăng nhưng chất lượng hoạt động chưa đồng đều. Bên cạnh đó, một số Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản gặp khó khăn về kinh phí, khả năng tự chủ hoặc chịu áp lực sắp xếp, tinh gọn tổ chức. Đồng thời, thực tiễn còn ghi nhận biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề đấu giá, trong đó, có tình trạng không tuân thủ nghiêm trình tự, thủ tục hoặc trích lại một phần phí cho cơ quan, đơn vị có tài sản nhằm thu hút khách hàng.

Thứ sáu, quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện trách nhiệm của người có tài sản đấu giá và công tác quản lý nhà nước còn hạn chế, bất cập.

Hiệu quả của cuộc đấu giá không chỉ phụ thuộc vào tổ chức hành nghề đấu giá, mà còn gắn với trách nhiệm của người có tài sản. Tổng kết thực tiễn thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016 cho thấy, còn tình trạng một số người có tài sản lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá chưa bảo đảm tính khách quan; việc giám sát quá trình tổ chức đấu giá chưa thường xuyên; có trường hợp tổ chức hành nghề đã bị cơ quan có thẩm quyền kết luận vi phạm hoặc kiến nghị hủy kết quả đấu giá nhưng vẫn tiếp tục được lựa chọn.

Đối với công tác quản lý nhà nước, thực tiễn cho thấy, nhận thức về vai trò, trách nhiệm và phạm vi quản lý trong lĩnh vực đấu giá tài sản tại một số cơ quan, tổ chức, địa phương chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra[14].

Thứ bảy, quy định của pháp luật và thực tiễn ứng dụng công nghệ thông tin, đấu giá trực tuyến và công khai dữ liệu còn hạn chế, bất cập[15].

Chuyển đổi số có khả năng làm thay đổi căn bản phương thức tổ chức và giám sát hoạt động đấu giá tài sản, tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa đồng đều, đấu giá trực tuyến chưa phát huy hết tiềm năng; dữ liệu phục vụ hoạt động đấu giá và quản lý hoạt động đấu giá chưa đầy đủ, chưa được chuẩn hóa, chưa kết nối, liên thông, chia sẻ; chưa bảo đảm, chưa đáp ứng được yêu cầu cho việc khai thác, quản lý trên thực tế.

Đấu giá trực tuyến có ưu điểm về khả năng tiếp cận, tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời, tạo điều kiện lưu trữ lịch sử giao dịch. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai và mở rộng phương thức đấu giá này. Đồng thời, số lượng vụ việc/tài sản được bán theo phương thức đấu giá trực tuyến còn hạn chế.

3. Định hướng hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Trên cơ sở các chủ trương, định hướng chính trị, pháp lý và những hạn chế, bất cập đã phân tích, việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản cần được triển khai theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại. Đặc biệt, việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản cần bảo đảm thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng pháp luật, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, khai thác hiệu quả nguồn lực tài chính, thúc đẩy kinh tế phát triển và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, các định hướng hoàn thiện cần trực tiếp giải quyết những hạn chế, bất cập trong quy định và phát sinh trong thực hiện pháp luật về đấu giá tài sản. Cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật.

Trước hết, pháp luật về đấu giá tài sản cần được hoàn thiện trong mối quan hệ tổng thể với các lĩnh vực pháp luật có liên quan, nhất là pháp luật doanh nghiệp, đất đai, tài sản công, thi hành án dân sự và các lĩnh vực khác có quy định về bán tài sản thông qua đấu giá, tránh cách tiếp cận sửa đổi riêng lẻ, mà không giải quyết được sự thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng. Yêu cầu đồng bộ không chỉ là bảo đảm các điều khoản không mâu thuẫn về mặt câu chữ, mà còn phải bảo đảm thống nhất về mục tiêu, thẩm quyền, trình tự, trách nhiệm và hậu quả pháp lý. Quy định về đấu giá trực tuyến cần bảo đảm tính tương thích với pháp luật về giao dịch điện tử, dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định về định danh, xác thực, lưu trữ dữ liệu.

Trong quá trình hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản, cần phân định rõ những vấn đề phải được quy định trực tiếp trong luật với những vấn đề có thể giao Chính phủ, bộ, ngành quy định chi tiết; những vấn đề cần điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật công và những vấn đề cần điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật tư theo đúng tinh thần xây dựng, hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Bên cạnh đó, tính khả thi cần được coi là tiêu chí quan trọng trong xây dựng và đánh giá quy định pháp luật. Đặc biệt, đối với các nhóm tài sản có đặc điểm khác nhau, cần xây dựng quy định pháp luật phù hợp với tính chất pháp lý của từng nhóm tài sản, đồng thời, bảo đảm những nguyên tắc chung về công khai, minh bạch, cạnh tranh bình đẳng và trách nhiệm của các chủ thể tham gia đấu giá. Cách tiếp cận này góp phần bảo đảm pháp luật về đấu giá tài sản vừa bảo vệ lợi ích công, vừa tạo điều kiện cho thị trường đấu giá phát triển lành mạnh.

Thứ hai, hoàn thiện các quy định pháp luật về tài sản đấu giá, giá khởi điểm và trách nhiệm của người có tài sản đấu giá.

Từ những bất cập trong xác định giá khởi điểm và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, pháp luật về đấu giá tài sản cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng làm rõ điều kiện đưa tài sản ra đấu giá, trách nhiệm xác định giá và nghĩa vụ cung cấp thông tin của người có tài sản.

Trước hết, cần bảo đảm tài sản được đưa ra đấu giá có tình trạng pháp lý rõ ràng, đáp ứng điều kiện chuyển giao theo quy định của pháp luật. Đối với giá khởi điểm, cần hoàn thiện cơ chế xác định theo hướng có căn cứ, minh bạch, phù hợp với tính chất tài sản và biến động thị trường. Cùng với đó, cần làm rõ trách nhiệm của người có tài sản trong việc lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá, cung cấp thông tin, phối hợp tổ chức đấu giá và giám sát việc tuân thủ pháp luật. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế xác định rõ trách nhiệm và xử lý phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm trong trường hợp người có tài sản cung cấp thông tin sai lệch, xác định giá khởi điểm không có căn cứ, lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá thiếu khách quan hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ giám sát. Đặc biệt, đối với tài sản công, cần chú trọng yêu cầu bảo vệ lợi ích của Nhà nước, kiểm soát xung đột lợi ích và bảo đảm việc xử lý tài sản đúng mục đích, thẩm quyền, góp phần phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong hoạt động bán đấu giá tài sản.

Thứ ba, hoàn thiện các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục đấu giá theo hướng công khai, minh bạch, cạnh tranh bình đẳng và chi phí tuân thủ thấp.

Trình tự, thủ tục đấu giá là công cụ trực tiếp để bảo đảm các nguyên tắc công khai, khách quan, bình đẳng và trung thực. Vì vậy, trước hết, cần rà soát, đánh giá và hoàn thiện toàn bộ các bước từ thông báo đấu giá, đăng ký tham gia, nộp tiền đặt trước, tổ chức cuộc đấu giá, xác định kết quả đến thực hiện nghĩa vụ sau đấu giá. Việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản cần phân biệt giữa yêu cầu thủ tục đối với tài sản công, tài sản thuộc trường hợp pháp luật quy định phải bán thông qua đấu giá và tài sản tự nguyện được lựa chọn bán thông qua đấu giá, bảo đảm yêu cầu quản lý phù hợp với tính chất của từng nhóm tài sản.

Đối với trường hợp cuộc đấu giá không có người trả giá, cần nghiên cứu cơ chế xử lý phù hợp với phương thức đấu giá và quy định pháp luật áp dụng đối với từng loại tài sản. Trong đó, cần đánh giá tính cần thiết, tính khả thi và hệ quả pháp lý của phương án coi người đã nộp hồ sơ, tiền đặt trước hợp lệ và tham dự cuộc đấu giá là người chấp nhận mua tài sản theo giá khởi điểm khi không có người trả giá. Quá trình nghiên cứu cần bảo đảm quyền tự định đoạt của người tham gia, tính chất của từng loại tài sản và sự phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật về đấu giá tài sản.

Đối với việc lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá, cần bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, cạnh tranh và phù hợp với giá trị, tính chất của tài sản. Đồng thời, cần hoàn thiện quy định pháp luật về lưu trữ hồ sơ, biên bản, dữ liệu trả giá và thông báo kết quả để tạo điều kiện kiểm tra, đối chiếu, xử lý khi có khiếu nại, tố cáo hoặc tranh chấp.

Thứ tư, hoàn thiện các quy định pháp luật để thiết lập cơ chế phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi thông đồng, dìm giá, thao túng kết quả đấu giá và bỏ cọc.

Trước yêu cầu phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và bảo vệ hiệu quả sử dụng tài sản, pháp luật về đấu giá cần thiết lập cơ chế hữu hiệu để phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm. Các quy định pháp luật cần rõ ràng, có tính răn đe và có tính khả thi trong thực tiễn.

Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện quy định về tiền đặt trước theo hướng phù hợp với tính chất, giá trị và mức độ rủi ro của tài sản. Mức tiền đặt trước cần được xem xét cùng với giá trị tài sản, mức độ rủi ro, điều kiện tài chính của người tham gia và hậu quả pháp lý của việc không thực hiện nghĩa vụ.

Đối với trường hợp bỏ cọc, cần phân biệt rõ việc người trúng đấu giá không thực hiện nghĩa vụ với hành vi cố ý lợi dụng đấu giá để trục lợi. Việc áp dụng biện pháp cấm tham gia đấu giá phải bảo đảm tính tương xứng, có thời hạn cụ thể và cơ chế công khai thông tin phù hợp, không tạo ra hạn chế quyền thiếu căn cứ. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy định về hành vi thông đồng, dìm giá, thổi giá, cản trở người tham gia và thao túng kết quả trong hoạt động đấu giá tài sản.

Để tăng khả năng phát hiện vi phạm, cần kết hợp kiểm tra hồ sơ với khai thác dữ liệu điện tử, phân tích các biểu hiện bất thường trong quá trình đăng ký, trả giá, đối chiếu thông tin giữa các cuộc đấu giá và tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra khi cần thiết. Kết quả phân tích dữ liệu chỉ có giá trị hỗ trợ nhận diện, đánh giá rủi ro; việc xác định hành vi vi phạm và xử lý phải căn cứ vào chứng cứ, quy định của pháp luật.

Đặc biệt, việc hoàn thiện cơ chế xử lý vi phạm cần hướng đến việc bảo vệ tính trung thực của cuộc đấu giá, ngăn ngừa hành vi trục lợi nhưng không được làm suy giảm quyền tham gia bình đẳng của các chủ thể hợp pháp.

Thứ năm, hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức hành nghề đấu giá, đấu giá viên theo hướng chuyên nghiệp, cạnh tranh và trách nhiệm.

Chất lượng hoạt động đấu giá phụ thuộc rất nhiều vào năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của đấu giá viên và khả năng tổ chức dịch vụ của tổ chức hành nghề đấu giá, Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản.

Đối với tiêu chuẩn đấu giá viên, việc hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng mở rộng nguồn nhân lực đáp ứng điều kiện bổ nhiệm cần đi cùng với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực như đào tạo kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, tập sự, kiểm tra năng lực và bồi dưỡng thường xuyên. Pháp luật cần quy định tiêu chuẩn nghề nghiệp gắn với năng lực thực tế cần thiết để hành nghề đấu giá tài sản, không chỉ căn cứ vào ngành đào tạo. Đồng thời, pháp luật cần tăng cường các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp, trách nhiệm độc lập, khách quan và nghĩa vụ tránh xung đột lợi ích.

Đối với tổ chức hành nghề đấu giá, cần rà soát điều kiện thành lập và hoạt động theo hướng phù hợp với chủ trương cắt giảm điều kiện kinh doanh, thúc đẩy cạnh tranh và xã hội hóa dịch vụ.

Đối với Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản, cần bảo đảm sự phù hợp giữa mô hình tổ chức, cơ chế tự chủ, nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước và yêu cầu cạnh tranh bình đẳng trên thị trường.

Ngoài ra, cần hoàn thiện cơ chế kiểm soát cạnh tranh không lành mạnh, minh bạch hóa phí dịch vụ, ngăn chặn việc chi trả lợi ích không phù hợp để giành hợp đồng đấu giá và nâng cao trách nhiệm của tổ chức hành nghề trong toàn bộ quá trình thực hiện.

Thứ sáu, hoàn thiện các quy định pháp luật để đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển đấu giá trực tuyến và xây dựng cơ sở dữ liệu về đấu giá tài sản.

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản cần phải chuyển từ việc coi công nghệ là công cụ hỗ trợ sang xác định môi trường số là một phương thức tổ chức đấu giá có đầy đủ cơ sở pháp lý. Vì vậy, cần hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản để phát triển mô hình bán đấu giá tài sản trực tuyến.

Đồng thời, cần hoàn thiện quy định về đấu giá trực tuyến theo hướng tạo điều kiện thực hiện các khâu của quy trình đấu giá trên môi trường điện tử, từ công khai thông tin, đăng ký tham gia, xác thực danh tính, nộp tiền đặt trước, trả giá cho đến công bố kết quả và lưu trữ hồ sơ. Vì vậy, pháp luật cần quy định cụ thể về giá trị pháp lý của dữ liệu điện tử, thời điểm ghi nhận việc trả giá, cách xử lý trường hợp hệ thống gặp sự cố, trách nhiệm của tổ chức vận hành nền tảng và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến lỗi kỹ thuật.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quy định về xây dựng, quản lý và vận hành Cổng Đấu giá tài sản quốc gia theo hướng trở thành đầu mối công khai thông tin và hỗ trợ giám sát hoạt động đấu giá. Đối với đấu giá quyền sử dụng đất, cần chú trọng kết nối dữ liệu đấu giá với dữ liệu đất đai và các hệ thống thông tin liên quan, trong phạm vi pháp luật cho phép. Đặc biệt, pháp luật cần quy định về việc công khai dữ liệu gắn với nguyên tắc bảo vệ thông tin (các dữ liệu được công khai cung cấp và dữ liệu hạn chế công khai tiếp cận), bảo đảm quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Thứ bảy, hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy phát triển đấu giá tài sản tự nguyện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan.

Một định hướng quan trọng khác là hoàn thiện pháp luật để đấu giá tài sản không chỉ là cơ chế xử lý tài sản trong những trường hợp pháp luật bắt buộc, mà còn trở thành phương thức giao dịch được cá nhân, tổ chức chủ động lựa chọn.

Đối với tài sản tự nguyện, quan hệ đấu giá được xác lập trên cơ sở ý chí của các chủ thể, trong đó, quyền tự định đoạt của chủ sở hữu cần được tôn trọng trong giới hạn pháp luật. Vì vậy, pháp luật cần hoàn thiện theo hướng tăng cường quyền tự định đoạt của chủ sở hữu trong lựa chọn tổ chức hành nghề, phương thức trả giá, điều kiện giao dịch và quy trình đấu giá. Trong đó, phương thức trả giá xuống và cơ chế không công khai giá khởi điểm đối với một số trường hợp tài sản tự nguyện cần được xem xét trên cơ sở đặc điểm giao dịch, thông lệ và phù hợp với tình hình thực tế của đất nước.

Cùng với việc thúc đẩy thị trường tự nguyện, cần hoàn thiện quy định về các cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người có tài sản, người tham gia, người trúng đấu giá và người thứ ba có liên quan. Đặc biệt, các quy định pháp luật về việc hủy kết quả đấu giá cần cân bằng giữa yêu cầu khắc phục vi phạm và bảo đảm ổn định giao dịch. Bên cạnh đó, cần xác định rõ căn cứ, thẩm quyền, trình tự và hậu quả pháp lý của việc hủy kết quả đấu giá, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, hạn chế tranh chấp kéo dài.

Bên cạnh đó, pháp luật cần bảo đảm người tham gia đấu giá được tiếp cận thông tin bình đẳng, không bị phân biệt đối xử hoặc cản trở trái pháp luật; người trúng đấu giá được bảo vệ quyền nhận tài sản khi đã hoàn thành nghĩa vụ theo quy định; người có tài sản được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi cuộc đấu giá được tổ chức đúng quy định.

4. Một số nhận xét, đánh giá đối với dự thảo Luật[16]

Dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi) trình Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ hai gồm 07 chương, 69 điều. So với Luật Đấu giá tài sản năm 2016, dự thảo Luật giữ nguyên 18 điều; sửa đổi, bổ sung 46 điều; bổ sung 07 điều, lược bỏ 10 điều của Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và có một số điểm mới cơ bản sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về điều kiện hành nghề và tổ chức hoạt động đấu giá tài sản. Dự thảo Luật đã mở rộng đối tượng có thể trở thành đấu giá viên theo hướng chấp nhận người có trình độ đại học trở lên ở tất cả các ngành, lĩnh vực (Điều 11); đơn giản hóa việc thành lập doanh nghiệp đấu giá tài sản, không tiếp tục coi đấu giá tài sản là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện; đồng thời, cho phép tổ chức hành nghề đấu giá hợp tác với các tổ chức đấu giá trong và ngoài nước đối với tài sản tự nguyện (khoản 1 Điều 56).

Thứ hai, hoàn thiện trình tự, thủ tục đấu giá tài sản. Dự thảo Luật đã quy định rõ ràng, chặt chẽ và khả thi hơn về niêm yết, thông báo công khai, tổ chức phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, đấu giá rút gọn và hủy kết quả đấu giá (từ Điều 31 đến Điều 39). Đồng thời, sửa đổi các quy định về hành vi bị nghiêm cấm (Điều 10); quyền và nghĩa vụ của đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá (Điều 15, Điều 20), người có tài sản và người trúng đấu giá, nhằm tăng cường tính khách quan, minh bạch và hạn chế vi phạm trong quá trình tổ chức cuộc đấu giá.

Thứ ba, bổ sung các quy định nhằm nâng cao hiệu quả đấu giá và khắc phục tình trạng trục lợi. Dự thảo Luật đơn giản hóa tiêu chí lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá đối với tài sản có giá khởi điểm dưới 200 triệu đồng (Điều 21); xác lập nguyên tắc người tham gia đấu giá đã hoàn tất hồ sơ, tiền đặt trước hợp lệ và tham dự phiên đấu giá được coi là đồng ý mua tài sản bằng giá khởi điểm (từ Điều 31 đến Điều 34); nâng mức tiền đặt trước khi đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất ở cho cá nhân lên từ 20% đến 50% giá khởi điểm; đồng thời, bổ sung quy định về cấm tham gia đấu giá quyền sử dụng đất ở đối với cá nhân trúng đấu giá nhưng bỏ cọc.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Dự thảo Luật đã mở rộng các trường hợp thực hiện đấu giá trực tuyến trên Hệ thống đấu giá trực tuyến (Điều 34); quy định thống nhất việc thực hiện một số thủ tục trên hệ thống điện tử (Điều 21, Điều 25, Điều 41); mở rộng đối tượng sử dụng tài khoản định danh điện tử mức độ 2 và yêu cầu đăng tải, cập nhật kết quả đấu giá trên Cổng Đấu giá tài sản quốc gia (Điều 41). Dự thảo Luật cũng bổ sung chương riêng (Chương IV) về đấu giá trực tuyến đối với tài sản tự nguyện của cá nhân, tổ chức, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các hình thức, phương thức đấu giá linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thứ năm, cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Dự thảo Luật lược bỏ một số quy định về đăng ký hoạt động của doanh nghiệp đấu giá và trình tự, thủ tục đấu giá. Việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo pháp luật về doanh nghiệp; thủ tục cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá được đơn giản hóa. Đồng thời, phân cấp thẩm quyền cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và giao Chính phủ quy định chi tiết việc phê duyệt trang thông tin đấu giá trực tuyến của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản.

Như vậy, về cơ bản, dự thảo Luật đã thể chế hóa tương đối đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước trong hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển đất nước và đổi mới công tác xây dựng pháp luật trong kỷ nguyên mới. Đặc biệt, dự thảo Luật đã cơ bản khắc phục được những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ theo hướng minh bạch, chuyên nghiệp, hiện đại và thuận lợi hơn; tăng cường ứng dụng công nghệ số, giảm chi phí tuân thủ, hạn chế hành vi thông đồng, thao túng và trục lợi, nhất là trong đấu giá quyền sử dụng đất; nâng cao hiệu quả xử lý tài sản, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đấu giá tài sản và quản lý nhà nước trong lĩnh vực này, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Tuy nhiên, để bảo đảm các mục tiêu trên được hiện thực hóa, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật có liên quan và tính khả thi trong tổ chức thực hiện. Đồng thời, cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc thi hành Luật, nhất là xây dựng, ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành (sau khi dự thảo Luật được thông qua); bảo đảm nguồn lực và đẩy mạnh truyền thông, phổ biến các quy định mới đến đội ngũ đấu giá viên, tổ chức hành nghề đấu giá và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Kết luận

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản là yêu cầu tất yếu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu lực, hiệu quả, quản lý, khai thác các nguồn lực của đất nước.

Thực tiễn thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016 cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật và thực tiễn tổ chức đấu giá tài sản còn những hạn chế, bất cập trong xác định giá khởi điểm, đấu giá quyền sử dụng đất, phòng ngừa hành vi thông đồng, dìm giá, bỏ cọc, bảo đảm chất lượng đội ngũ đấu giá viên, xác định trách nhiệm của người có tài sản và hiệu quả quản lý nhà nước. Từ các quan điểm, chủ trương, định hướng, chính sách của Đảng,̀ Nhà nước và những hạn chế, bất cập phát sinh, định hướng hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào việc bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; hoàn thiện quy định về tài sản đấu giá, giá khởi điểm và trách nhiệm của các chủ thể; chuẩn hóa trình tự, thủ tục đấu giá; tăng cường cơ chế phòng ngừa, phát hiện và xử lý vi phạm; phát triển đội ngũ đấu giá viên chuyên nghiệp; đẩy mạnh chuyển đổi số; đồng thời, tạo điều kiện cho thị trường đấu giá tự nguyện phát triển và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan.

Mục tiêu của việc hoàn thiện pháp luật là xây dựng thị trường đấu giá tài sản công khai, minh bạch, cạnh tranh thực chất, chuyên nghiệp và có khả năng thích ứng với môi trường số. Để đạt được mục tiêu đó, cần bảo đảm thông tin về tài sản đưa ra đấu giá rõ ràng, quy trình tổ chức có thể kiểm tra, kết quả đấu giá phản ánh đúng diễn biến cạnh tranh và hành vi vi phạm được phát hiện, xử lý kịp thời./.

TS. Trương Thế Côn

Tổng Biên tập Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[I]. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15, Luật số 37/2024/QH15, Luật số 142/2025/QH15 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016).

[1]. Tô Lâm, Cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới và những định hướng chiến lược, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4376, truy cập ngày 01/10/2026.

[2]. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Nghị quyết số 66-NQ/TW).

[3]. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 66-NQ/TW, tlđd.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (tập 1), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr.37.

[5]. Như: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV; Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân; Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước; Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”…

[6]. Như: Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết 52-NQ/TW về ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW); Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025; Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025, Luật Dữ liệu năm 2024…

[7]. Như: Nghị quyết số 57-NQ/TW; Nghị quyết số 66-NQ/TW; Chính phủ (2025), Nghị quyết 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 - 2026; Chính phủ (2026), Nghị quyết 66.17/2026/NQ-CP ngày 15/5/2026 quy định lĩnh vực đấu giá tài sản không thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; Chính phủ (2026), Nghị quyết 66.18/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 về phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; Chính phủ (2021), Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách thủ tục hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030…

[8]. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 424/BC-BTP, tlđd.

[9]. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 424/BC-BTP ngày 10/6/2026 tổng kết thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2024).

[10]. Thùy Linh, Hoàn thiện pháp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động đấu giá tài sản, https:// tapchikinhtetaichinh.vn/hoan-thien-phap-ly-de-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-dau-gia-tai-san-156588. html, truy cập ngày 01/10/2026.

[11]. Nguyễn Thị Thư, Một số vướng mắc từ thực tiễn áp dụng Luật Đấu giá tài sản và góp ý hoàn thiện luật, https://phaply.net.vn/mot-so-vuong-mac-tu-thuc-tien-ap-dung-luat-dau-gia-tai-san-va-gop-y-hoan-thienluat-a258087.html, truy cập ngày 01/10/2026.

[12]. Đỗ Văn Nhân, Nâng cao hiệu quả đấu giá quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2024, https://lsvn.vn/nang-cao-hieu-qua-dau-gia-quyen-su-dung-dat-theo-luat-dat-dai-nam-2024-1714840425-a143339.html, truy cập ngày 01/10/2026.

[13]. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 424/BC-BTP, tlđd.

[14]. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 424/BC-BTP, tlđd.

[15]. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 424/BC-BTP, tlđd.

[16]. Dự thảo Luật Đấu giá tài sản kèm theo Tờ trình số 434/TTr-CP ngày 24/7/2026 của Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

2. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

4. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

5. Bộ Chính trị (2026), Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.

6. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 424/BC-BTP ngày 10/6/2026 tổng kết thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2024).

7. Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (2026), Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

9. Chính phủ (2021), Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030.

10. Chính phủ (2025), Nghị quyết số 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh năm 2025 - 2026.

11. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 66.17/2026/NQ-CP ngày 15/5/2026 quy định lĩnh vực đấu giá tài sản không thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

12. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 về phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh.

13. Chính phủ (2026), Tờ trình số 434/TTr-CP ngày 24/7/2026 của Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi).

14. Tô Lâm, Cơ sở định vị mục tiêu đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới và những định hướng chiến lược, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/thong-tin-khac.aspx?ItemID=4376, truy cập ngày 01/10/2026.

15. Thùy Linh, Hoàn thiện pháp lý để nâng cao hiệu quả hoạt động đấu giá tài sản, https://tapchikinhtetaichinh.vn/hoan-thien-phap-ly-de-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-dau-gia-tai-san-156588.html, truy cập ngày 01/10/2026.

16. Đỗ Văn Nhân, Nâng cao hiệu quả đấu giá quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2024, https://lsvn.vn/nang-cao-hieu-qua-dau-gia-quyen-su-dung-dat-theo-luat-dat-dai-nam-2024-1714840425-a143339.html, truy cập ngày 01/10/2026.

17. Nguyễn Thị Thư, Một số vướng mắc từ thực tiễn áp dụng Luật Đấu giá tài sản và góp ý hoàn thiện luật, https://phaply.net.vn/ mot-so-vuong-mac-tu-thuc-tien-ap-dung-luat-dau-gia-tai-san-va-gop-y-hoan-thien-luat-a258087.html, truy cập ngày 01/10/2026.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, ấn phẩm “Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản”, xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, việc phát triển kinh tế tư nhân đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện, phù hợp với định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Sau gần 10 năm thi hành Luật Đấu giá tài sản năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2024 (Luật Đấu giá tài sản năm 2016) cho thấy một số quy định về đấu giá tài sản tự nguyện không phù hợp với thực tế, vì vậy, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về đấu giá tài sản tự nguyện của tổ chức, cá nhân là cấp thiết. Nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện ở Việt Nam, tham khảo pháp luật một số quốc gia về đấu giá tự nguyện, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản tự nguyện đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá

Tóm tắt: Hoạt động đấu giá tài sản ngày càng được mở rộng về quy mô, giá trị và phương thức tổ chức, đặt ra yêu cầu kiểm soát năng lực thực sự của người tham gia đấu giá. Luật Đấu giá tài sản năm 2016 chưa thiết lập cơ chế thống nhất để xác minh năng lực tài chính, nguồn vốn, khả năng thực hiện nghĩa vụ và lịch sử tuân thủ của người tham gia đấu giá. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu luận giải sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản xuất phát từ quan điểm, chủ trương của Đảng và hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật hiện hành. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát năng lực của người tham gia đấu giá tài sản nhằm bảo đảm tính minh bạch, cạnh tranh, thực chất và hiệu quả của hoạt động đấu giá.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của đấu giá viên trong đấu giá tài sản đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trách nhiệm pháp lý của đấu giá viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm tính hợp pháp, công khai, minh bạch và khách quan trong hoạt động đấu giá tài sản. Sự phát triển của thị trường dịch vụ đấu giá và phương thức đấu giá trực tuyến đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của đấu giá viên. Trên cơ sở phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và các quy định của dự thảo Luật Đấu giá tài sản (sửa đổi)** (dự thảo Luật), nghiên cứu làm rõ những nội dung được kế thừa, sửa đổi, bổ sung và ý nghĩa pháp lý của các quy định về trách nhiệm nghề nghiệp, xử lý tình huống tại phiên đấu giá, đấu giá trực tuyến, bồi thường thiệt hại và giải quyết hậu quả hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo đảm tổ chức thi hành hiệu quả, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, minh bạch và trách nhiệm của đấu giá viên trong hoạt động đấu giá tài sản.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.

Theo dõi chúng tôi trên: