Thứ năm 22/10/2026 11:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đặt ra những yêu cầu mới đối với việc đào tạo, tập sự và tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Việc hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư không chỉ là vấn đề đổi mới chương trình hay phương pháp giảng dạy, mà còn liên quan trực tiếp đến cơ chế quản lý, phân định trách nhiệm và bảo đảm chất lượng đội ngũ luật sư. Về vấn đề này, phóng viên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc trao đổi với Nhà giáo ưu tú, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp về mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam trong kỷ nguyên mới và vấn đề hoàn thiện dự thảo Luật.
Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn

PV: Thưa PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam cần có cách tiếp cận như thế nào để hoàn thiện một bước mô hình đào tạo nghề luật sư gắn với yêu cầu xây dựng và phát triển thể chế pháp lý về Luật Luật sư trong điều kiện mới?

PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng: Trong hai thập kỷ thi hành Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam hiện đang được xác định là mô hình đào tạo tập trung, thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp. Đến nay, việc vận hành mô hình này luôn có sự hợp tác chặt chẽ, hiệu quả của các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, nhiều Đoàn Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, luật sư, các chuyên gia, nhà khoa học đến từ các cơ sở đào tạo luật có uy tín, các thẩm phán, kiểm sát viên… có kinh nghiệm trong cả nước.

Kế thừa truyền thống đó, trong kỷ nguyên mới, việc phát triển mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam, một mặt cần được đặt trong tổng thể chung của chiến lược hoàn thiện thể chế gắn với thực thi pháp luật, chủ động thích ứng với tầm nhìn của nền quản trị quốc gia hiện đại trong môi trường của kỷ nguyên số, mặt khác có sự đánh giá khách quan đối với một số vấn đề thuộc mô hình này theo tư duy phát triển hiện đại:

Thứ nhất, sự thiếu kết nối chặt chẽ giữa giai đoạn đào tạo nghề và giai đoạn tập sự hành nghề.

Trong nhiều năm qua, có một thực tế khá nổi bật, đó là kết quả của mỗi kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư do Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức thường được gắn với trách nhiệm của Học viện Tư pháp - nơi có chức năng đào tạo ban đầu về nghề cho người học. Cách quan niệm này dẫn tới việc chưa nhận diện đầy đủ, khách quan những yếu tố tác động đến kết quả của mỗi kỳ thi kiểm tra kết quả tập sự, như yếu tố chủ quan - năng lực của người tập sự; yếu tố cơ chế điều chỉnh hoạt động tập sự; vai trò của tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và sự tách rời giữa đào tạo và tập sự hành nghề. Trên thực tế, việc tách rời giữa đào tạo và tập sự nghề vừa làm giảm đi giá trị kết nối của đào tạo lý thuyết kết hợp với đào tạo thực tiễn, vừa làm cho người tập sự hành nghề thiếu đi chỗ dựa đáng tin cậy về chuyên môn, kỹ năng, phẩm chất, tố chất nghề nghiệp của đội ngũ giảng viên cơ hữu, thỉnh giảng đối với giai đoạn đào tạo thực tiễn.

Từ thực tế này, tôi cho rằng, đã đến thời điểm, cần có sự thống nhất và gắn kết giai đoạn đào tạo lý thuyết kỹ năng với thực tiễn hành nghề trong cùng một mô hình đào tạo, có sự phân công rõ ràng về chức năng, sự thống nhất và trách nhiệm trong hợp tác, phối hợp, sự minh bạch, hiệu quả về cơ chế vận hành hệ thống đào tạo, tập sự hành nghề, hoạt động dưới sự quản lý nhà nước theo cơ chế hợp tác công - tư.

Thứ hai, nhận diện việc duy trì nguyên lý dạy nghề truyền thống trong bối cảnh thực hiện và thể chế hóa tư duy quản trị công quốc gia hiện đại, nhằm vận hành hiệu quả mô hình đào tạo nghề luật sư trong kỷ nguyên mới.

Cần thẳng thắn nhận diện rằng, nguyên lý “nghề dạy nghề” truyền thống theo phương thức truyền thống của chủ nghĩa kinh viện, đã từng tồn tại ở một số nước châu Âu những thế kỷ trước, đặt trong điều kiện chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của chiến lược phát triển nền kinh tế số - văn hóa số - xã hội số của Việt Nam hiện nay đã bộc lộ những bất cập, nhất là đặt vào điều kiện của một hệ sinh thái các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam vận hành ở quy mô nhỏ, phân bổ không đồng đều giữa các địa phương trên cả nước. Bên cạnh đó, việc chuyển cơ chế quản lý nhà nước về đào tạo nghề luật sư sang cơ chế tư nhân hóa có thể tác động đáng kể đến việc thực hiện chức năng xã hội, phát huy giá trị nhân văn và sứ mệnh góp phần bảo vệ công lý của nghề luật sư. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng, tạo ra những thay đổi sâu rộng đối với đời sống xã hội và hoạt động nghề nghiệp, việc lựa chọn mô hình đào tạo luật sư càng cần được xem xét thận trọng.

Do đó, vấn đề có nên tư nhân hóa mô hình đào tạo nghề luật sư hay không, xét trong bối cảnh chung của thế giới và điều kiện thực tiễn tại Việt Nam, không chỉ là câu chuyện về tổ chức đào tạo mà phải được nhận thức là vấn đề liên quan trực tiếp đến sự phát triển của nghề luật sư và chất lượng đội ngũ luật sư hành nghề. Việc chuyển mô hình đào tạo nghề luật sư do Nhà nước quản lý sang mô hình tư nhân hóa phải trên cơ sở quyết định chính trị - pháp lý khoa học đúng đắn của Đảng và Nhà nước.

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn
Học viện Tư pháp duy trì, phát huy kinh nghiệm, vị thế, năng lực của trung tâm lớn nhất trong toàn quốc về đào tạo nghề luật sư thông qua việc xác định và thực thi chiến lược làm chủ công nghệ đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng và bảo đảm chất lượng đào tạo, khảo thí hiện đại

Thứ ba, về thay đổi cơ chế đánh giá đối với kết thúc quá trình đào tạo nghề luật sư bằng kỳ thi quốc gia, áp dụng trong mô hình đào tạo nghề luật sư của kỷ nguyên mới.

Việc xây dựng, duy trì và hoàn thiện kỳ thi quốc gia trong dự thảo Luật là đột phá căn bản về lý luận, thể chế và quản trị công quốc gia hiện đại đối với nghề luật sư. Mô hình kỳ thi phi tập trung trên nền tảng số hóa thể hiện tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước và quyết tâm chính trị trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành nghề luật sư theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Áp dụng kỳ thi quốc gia về luật sư là tư duy đặt kỳ thi ở vị thế “rào chắn” về chuyên môn và năng lực cần vượt qua để ứng viên bảo đảm đủ điều kiện tham gia không gian hành nghề truyền thống và phi truyền thống với tư cách pháp lý của một luật sư. Việc ứng viên thi đỗ kỳ thi này có ý nghĩa xác nhận sự đáng tin cậy về chuyên môn, năng lực pháp lý và sự liêm chính để pháp luật trao cho ứng viên tư cách hành nghề luật sư.

PV: Trước yêu cầu đổi mới mô hình đào tạo nghề luật sư trong kỷ nguyên mới, theo Phó Giáo sư, Học viện Tư pháp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cần phát huy vai trò và tăng cường phối hợp như thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết kỹ năng với thực tiễn hành nghề luật sư?

PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng: Trong mô hình đào tạo nghề luật sư, vai trò của các chủ thể cần được phân định lại một cách khoa học, rõ ràng và sớm chấm dứt tình trạng xóa nhòa ranh giới, phạm vi trách nhiệm về chất lượng nguồn nhân lực nghề nghiệp luật sư tại Việt Nam. Cụ thể:

(i) Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp) thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và hỗ trợ phát triển nghề luật sư, trong đó tập trung vào việc xây dựng và hoạch định chính sách; cho ý kiến về một số hoạt động lớn, mang tính định kỳ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, như Đề án tổ chức Đại hội, phương án nhân sự và chỉ đạo Đại hội của Đoàn Luật sư; thực hiện kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư, bồi dưỡng bắt buộc hằng năm cho luật sư; giải quyết khiếu nại, tố cáo; tổ chức cho luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý; hoạch định chính sách phát triển nghề luật sư; hoàn thiện thể chế đào tạo nghề luật sư, kiểm tra, thanh tra và tranh thủ mọi nguồn lực nhằm hỗ trợ phát triển nghề luật sư.

(ii) Học viện Tư pháp duy trì, phát huy kinh nghiệm, vị thế, năng lực của trung tâm lớn nhất trong toàn quốc về đào tạo nghề luật sư thông qua việc xác định và thực thi chiến lược làm chủ công nghệ đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng và bảo đảm chất lượng đào tạo, khảo thí hiện đại; chia sẻ nguồn lực, kinh nghiệm, công nghệ, trách nhiệm với các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong thực thi chức năng đào tạo thực tiễn và tham gia thực hiện kỳ thi quốc gia về luật sư; đồng thời thực hiện tốt vai trò đơn vị cung cấp sản phẩm nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng, đổi mới sáng tạo để cung cấp ý kiến tư vấn chính sách cho công tác quản lý nhà nước về pháp luật của Bộ Tư pháp.

(iii) Tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức hành nghề luật sư (Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các Đoàn Luật sư) thực hiện tốt vai trò phối hợp, hợp tác trong vận hành mô hình đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp; thực hiện vai trò chủ động và cốt yếu trong giai đoạn đào tạo thực tiễn cho người tập sự hành nghề, với sự phối hợp và cộng đồng trách nhiệm của cơ sở đào tạo nghề luật sư; tham gia, phối hợp cùng gánh vác trách nhiệm trong vận hành kỳ thi quốc gia về luật sư và hoạt động quản lý luật sư với cơ quan quản lý nhà nước về luật sư .

PV: Từ thực tiễn đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam hiện nay, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng có thể đưa ra một vài kiến nghị nhằm hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư trong kỷ nguyên số, cũng như những nội dung cần sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật?

PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng: Dự thảo Luật được xây dựng trong bối cảnh thể chế pháp lý, kinh tế và xã hội đang có những chuyển biến sâu sắc dưới tác động của chuyển đổi số, qua đó, đặt ra yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển nghề luật sư trong giai đoạn mới.

Đào tạo nghề luật sư cần gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn
Đào tạo nghề luật sư là hoạt động đào tạo chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp do Học viện Tư pháp đảm nhiệm và đào tạo thực hành năng lực thực tế tại tổ chức hành nghề/tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, với sự quản lý của Nhà nước và cơ chế hợp tác công - tư

Từ phương diện chuyên gia về đào tạo nghề luật sư và với góc độ lãnh đạo cơ sở đào tạo nghề luật sư, tôi cho rằng, dự thảo Luật cần được nghiên cứu, hoàn thiện các quy định liên quan đến những vấn đề sau:

Thứ nhất, bổ sung vào Điều 2 dự thảo Luật về giải thích thuật ngữ, khoản 9 về “Đào tạo nghề luật sư” theo hướng: “Đào tạo nghề luật sư là hoạt động đào tạo chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp do Học viện Tư pháp đảm nhiệm và đào tạo thực hành năng lực thực tế tại tổ chức hành nghề/tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, với sự quản lý của Nhà nước và cơ chế hợp tác công - tư”.

Phù hợp với khái niệm này, các quy định hướng dẫn thi hành Luật có thể làm rõ nghĩa vụ, trách nhiệm và phương thức phối hợp giữa ba bên, gồm Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, đối với từng hoạt động cụ thể trong quá trình đào tạo.

Theo tôi, đào tạo nghề luật sư cần được nhìn nhận là một quá trình thống nhất, gồm hai giai đoạn, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Đào tạo kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp tại cơ sở đào tạo; đào tạo thực hành thông qua hoạt động hướng dẫn, quản lý tập sự tại các tổ chức hành nghề luật sư. Trong đó, Học viện Tư pháp có bề dày kinh nghiệm trong công tác đào tạo, còn các tổ chức hành nghề luật sư, với sự tham gia của Liên đoàn Luật sư Việt Nam lại có lợi thế về kinh nghiệm thực tiễn và khả năng hướng dẫn người tập sự tiếp cận công việc nghề nghiệp. Vì vậy, nếu hai bên phát huy được thế mạnh, đồng thời phối hợp chặt chẽ trong cả hai giai đoạn, chất lượng đào tạo sẽ được nâng cao, góp phần xây dựng đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu thực tiễn và định hướng phát triển nghề luật sư của Đảng, Nhà nước.

Thứ hai, bổ sung vào dự thảo Luật quy định về tập sự hành nghề luật sư. Có thể chỉnh sửa, bổ sung khoản 1 Điều 9 - Tập sự hành nghề luật như sau: "1. Tập sự hành nghề luật sư là giai đoạn đào tạo thực hành bắt buộc. Luật sư tập sự chịu sự hướng dẫn, giám sát chuyên môn phối hợp giữa tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư nhận tập sự và cơ sở đào tạo nghề luật sư. Theo đó, người đáp ứng tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 7 của Luật này thì được gia nhập Đoàn Luật sư để tập sự hành nghề luật sư, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều 10 của Luật này. Thời gian tập sự hành nghề luật sư là 12 tháng, trừ trường hợp được miễn, giảm thời gian tập sự theo quy định tại khoản 4 của Điều này hoặc trường hợp chưa hoàn thành việc tập sự thì phải tiếp tục tập sự. Thời gian tập sự hành nghề luật sư được tính từ ngày có quyết định gia nhập Đoàn Luật sư để trở thành luật sư tập sự".

Việc bổ sung quy định này nhằm hiện thực hóa cơ chế đồng kiểm soát kết quả, chất lượng học tập thực chất của người học trong giai đoạn tập sự hành nghề tại cơ sở thực hành, bảo đảm xóa bỏ tình trạng tập sự hình thức.

Thứ ba, đối với kỳ thi quốc gia về luật sư, cần bổ sung quy định về nguyên tắc kết cấu kỳ thi quốc gia, thể hiện rõ đặc trưng cốt lõi mang tầm chiến lược của mô hình đào tạo luật sư trong điều kiện hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần bổ sung vào dự thảo Luật nguyên tắc xây dựng và vận hành kỳ thi quốc gia về luật sư. Cụ thể, bổ sung khoản 1 Điều 10 - Nguyên tắc của kỳ thi quốc gia về luật sư: “Kỳ thi quốc gia về luật sư tuân thủ nghiêm quy định pháp luật về luật sư, với hai vòng thi độc lập. Kỳ thi được ứng dụng nền tảng số hóa và cơ sở dữ liệu luật sư theo mô hình khảo thí phi tập trung, có kiểm soát trung tâm trong công tác tổ chức, giám sát thi để bảo đảm tính khách quan của kỳ thi”.

Thứ tư, sửa lại khoản 2 Điều 36 - Điều khoản chuyển tiếp trong dự thảo Luật theo hướng, những người đã đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư trước ngày Luật này có hiệu lực nhưng chưa được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì có thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực để hoàn tất thủ tục đề nghị cấp Chứng chỉ; quá thời hạn này, kết quả kiểm tra cũ không còn giá trị.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền và chuyển đổi số

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đề xuất cắt giảm thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong giải quyết một số công việc; đồng thời bước đầu lồng ghép các yếu tố khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong hoạt động hành nghề luật sư và quản lý nhà nước về luật sư, hành nghề luật sư. Những định hướng này nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận dịch vụ pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với nghề luật sư.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Hoàn thiện cơ chế hành nghề, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) do Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng quy định các nội dung liên quan đến luật sư, tổ chức và hoạt động hành nghề của luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư... Theo TS. Bùi Thị Hà, Phó Giám đốc Học viện Tư pháp (đơn vị có chức năng đào tạo các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp, trong đó có luật sư), những thay đổi về vấn đề này cần được xem xét không chỉ ở yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư mà còn ở việc phân định rõ quyền, trách nhiệm và cơ chế bảo đảm thực hiện, qua đó đáp ứng yêu cầu phát triển dịch vụ pháp lý trong bối cảnh mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về luật sư để chuẩn hóa bản lĩnh chính trị và mở rộng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam

Tóm tắt: Tiêu chuẩn luật sư đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm và nâng cao chất lượng hoạt động nghề luật sư. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết phải hoàn thiện tiêu chuẩn luật sư: (i) Luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm; (ii) mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng gắn với cơ chế kiểm soát chất lượng. Trên cơ sở lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh nghiệm quốc tế (mô hình Juris Doctor) và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), nghiên cứu cho thấy, những sửa đổi này có căn cứ khoa học, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Việc kết hợp giữa siết chặt kỷ cương quản lý nhà nước với tiếp cận năng lực liên ngành, thực chất, vừa tạo "màng lọc" phòng ngừa suy thoái đạo đức hành nghề, vừa tạo đột phá thể chế thu hút nhân tài chất lượng cao, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của đội ngũ luật sư Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển mới.
Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Chế định thành viên góp vốn của tổ chức hành nghề luật sư - Cơ chế nâng cao năng lực cạnh tranh của luật sư Việt Nam

Tóm tắt: Nghề luật sư có tính truyền thống, lâu đời tại nhiều quốc gia. Mô hình truyền thống của tổ chức hành nghề luật sư mang tính đối nhân giữa các luật sư, như văn phòng luật sư, công ty luật hợp danh. Cùng với sự phát triển của thị trường và yêu cầu đa dạng hóa dịch vụ pháp lý, mô hình tổ chức đối nhân đã từng bước chuyển hóa thành mô hình đối vốn, như công ty luật hợp danh trách nhiệm hữu hạn, công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Mô hình tổ chức hành nghề mang tính đối vốn kể từ Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006), đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức hành nghề luật sư và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các tổ chức này. Hiện, thị trường dịch vụ pháp lý trên thế giới chịu tác động đáng kể từ yêu cầu của thị trường và sự phát triển của công nghệ. Trước bối cảnh đó, một số quốc gia đã cho phép thành viên góp vốn không phải luật sư có thể tham gia vào hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó, bổ sung nguồn lực tài chính, công nghệ và năng lực quản trị, tạo điều kiện cho các tổ chức này phát triển. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về luật sư để bổ sung quy định về thành viên góp vốn tại tổ chức hành nghề luật sư, góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức này trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Đổi mới quy trình trở thành luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Đổi mới quy trình trở thành luật sư là yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn mới, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam trong sạch, vững mạnh và đạt chuẩn quốc tế. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để luận giải về sự cần thiết phải đổi mới quy trình trở thành luật sư; đồng thời, đưa ra một số giải pháp và đánh giá hiệu quả các giải pháp đổi mới quy trình trở thành luật sư, chế định luật sư tập sự và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành.
Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm tự quản đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng trong tổ chức, hoạt động luật sư ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở phân tích lý luận về sự chuyển dịch tư duy từ “vai trò tự quản” sang “trách nhiệm tự quản” và đánh giá thực trạng công tác tự quản trên thực tế trong Báo cáo số 422/BC-BTP, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện thể chế về trách nhiệm tự quản và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư trong dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật). Các giải pháp tập trung vào việc tái cấu trúc các nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức tự quản; xây dựng cơ chế giải quyết quan hệ nội bộ gắn với quyền khởi kiện tại Tòa án; bảo đảm nguồn lực hỗ trợ từ Nhà nước và mở rộng tính đại diện của tổ chức tự quản. Đặc biệt, đổi mới tổ chức thực hiện nhằm hạn chế tình trạng “hành chính hóa”, nâng cao năng lực tự quản và hiệu quả thực hiện trách nhiệm của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong tình hình mới.
Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Hoàn thiện pháp luật về luật sư đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Pháp luật về luật sư có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; đồng thời, tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Sau gần 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Luật Luật sư năm 2006) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển của đội ngũ luật sư, nghề luật sư và hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới, gắn với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của thị trường dịch vụ pháp lý, một số quy định hiện hành bộc lộ hạn chế, bất cập, không còn phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trên cơ sở phân tích, đánh giá cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về luật sư; nhận diện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiện đại và khả thi; bảo đảm hài hòa giữa quyền hành nghề, trách nhiệm nghề nghiệp và yêu cầu quản lý nhà nước, đồng thời, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý, phù hợp với hội nhập và thông lệ quốc tế của hoạt động luật sư Việt Nam.
Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Đổi mới mô hình quản lý, phát huy hiệu quả tính tự quản của tổ chức luật sư

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng hồ sơ dự án Luật Luật sư (sửa đổi), hướng tới hoàn thiện thể chế pháp lý về luật sư và hành nghề luật sư bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong quá trình hoàn thiện Luật, một trong những yêu cầu được đặt ra là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư trên cơ sở kết hợp giữa quản lý nhà nước và chế độ tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư.
Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Hoàn thiện mô hình quản lý và tự quản về tổ chức, hoạt động luật sư trong bối cảnh mới

Chủ trương xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát huy trách nhiệm tự quản nghề nghiệp của luật sư. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, mô hình quản lý nhà nước và tự quản về luật sư cần tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Về vấn đề này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ, Luật sư Đào Ngọc Chuyền, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam về mô hình quản lý và tự quản về luật sư.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: