![]() |
PV: Thưa PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng, bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam cần có cách tiếp cận như thế nào để hoàn thiện một bước mô hình đào tạo nghề luật sư gắn với yêu cầu xây dựng và phát triển thể chế pháp lý về Luật Luật sư trong điều kiện mới?
PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng: Trong hai thập kỷ thi hành Luật Luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam hiện đang được xác định là mô hình đào tạo tập trung, thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp. Đến nay, việc vận hành mô hình này luôn có sự hợp tác chặt chẽ, hiệu quả của các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, nhiều Đoàn Luật sư, tổ chức hành nghề luật sư, luật sư, các chuyên gia, nhà khoa học đến từ các cơ sở đào tạo luật có uy tín, các thẩm phán, kiểm sát viên… có kinh nghiệm trong cả nước.
Kế thừa truyền thống đó, trong kỷ nguyên mới, việc phát triển mô hình đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam, một mặt cần được đặt trong tổng thể chung của chiến lược hoàn thiện thể chế gắn với thực thi pháp luật, chủ động thích ứng với tầm nhìn của nền quản trị quốc gia hiện đại trong môi trường của kỷ nguyên số, mặt khác có sự đánh giá khách quan đối với một số vấn đề thuộc mô hình này theo tư duy phát triển hiện đại:
Thứ nhất, sự thiếu kết nối chặt chẽ giữa giai đoạn đào tạo nghề và giai đoạn tập sự hành nghề.
Trong nhiều năm qua, có một thực tế khá nổi bật, đó là kết quả của mỗi kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư do Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức thường được gắn với trách nhiệm của Học viện Tư pháp - nơi có chức năng đào tạo ban đầu về nghề cho người học. Cách quan niệm này dẫn tới việc chưa nhận diện đầy đủ, khách quan những yếu tố tác động đến kết quả của mỗi kỳ thi kiểm tra kết quả tập sự, như yếu tố chủ quan - năng lực của người tập sự; yếu tố cơ chế điều chỉnh hoạt động tập sự; vai trò của tổ chức nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và sự tách rời giữa đào tạo và tập sự hành nghề. Trên thực tế, việc tách rời giữa đào tạo và tập sự nghề vừa làm giảm đi giá trị kết nối của đào tạo lý thuyết kết hợp với đào tạo thực tiễn, vừa làm cho người tập sự hành nghề thiếu đi chỗ dựa đáng tin cậy về chuyên môn, kỹ năng, phẩm chất, tố chất nghề nghiệp của đội ngũ giảng viên cơ hữu, thỉnh giảng đối với giai đoạn đào tạo thực tiễn.
Từ thực tế này, tôi cho rằng, đã đến thời điểm, cần có sự thống nhất và gắn kết giai đoạn đào tạo lý thuyết kỹ năng với thực tiễn hành nghề trong cùng một mô hình đào tạo, có sự phân công rõ ràng về chức năng, sự thống nhất và trách nhiệm trong hợp tác, phối hợp, sự minh bạch, hiệu quả về cơ chế vận hành hệ thống đào tạo, tập sự hành nghề, hoạt động dưới sự quản lý nhà nước theo cơ chế hợp tác công - tư.
Thứ hai, nhận diện việc duy trì nguyên lý dạy nghề truyền thống trong bối cảnh thực hiện và thể chế hóa tư duy quản trị công quốc gia hiện đại, nhằm vận hành hiệu quả mô hình đào tạo nghề luật sư trong kỷ nguyên mới.
Cần thẳng thắn nhận diện rằng, nguyên lý “nghề dạy nghề” truyền thống theo phương thức truyền thống của chủ nghĩa kinh viện, đã từng tồn tại ở một số nước châu Âu những thế kỷ trước, đặt trong điều kiện chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của chiến lược phát triển nền kinh tế số - văn hóa số - xã hội số của Việt Nam hiện nay đã bộc lộ những bất cập, nhất là đặt vào điều kiện của một hệ sinh thái các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam vận hành ở quy mô nhỏ, phân bổ không đồng đều giữa các địa phương trên cả nước. Bên cạnh đó, việc chuyển cơ chế quản lý nhà nước về đào tạo nghề luật sư sang cơ chế tư nhân hóa có thể tác động đáng kể đến việc thực hiện chức năng xã hội, phát huy giá trị nhân văn và sứ mệnh góp phần bảo vệ công lý của nghề luật sư. Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển nhanh chóng, tạo ra những thay đổi sâu rộng đối với đời sống xã hội và hoạt động nghề nghiệp, việc lựa chọn mô hình đào tạo luật sư càng cần được xem xét thận trọng.
Do đó, vấn đề có nên tư nhân hóa mô hình đào tạo nghề luật sư hay không, xét trong bối cảnh chung của thế giới và điều kiện thực tiễn tại Việt Nam, không chỉ là câu chuyện về tổ chức đào tạo mà phải được nhận thức là vấn đề liên quan trực tiếp đến sự phát triển của nghề luật sư và chất lượng đội ngũ luật sư hành nghề. Việc chuyển mô hình đào tạo nghề luật sư do Nhà nước quản lý sang mô hình tư nhân hóa phải trên cơ sở quyết định chính trị - pháp lý khoa học đúng đắn của Đảng và Nhà nước.
![]() |
| Học viện Tư pháp duy trì, phát huy kinh nghiệm, vị thế, năng lực của trung tâm lớn nhất trong toàn quốc về đào tạo nghề luật sư thông qua việc xác định và thực thi chiến lược làm chủ công nghệ đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng và bảo đảm chất lượng đào tạo, khảo thí hiện đại |
Thứ ba, về thay đổi cơ chế đánh giá đối với kết thúc quá trình đào tạo nghề luật sư bằng kỳ thi quốc gia, áp dụng trong mô hình đào tạo nghề luật sư của kỷ nguyên mới.
Việc xây dựng, duy trì và hoàn thiện kỳ thi quốc gia trong dự thảo Luật là đột phá căn bản về lý luận, thể chế và quản trị công quốc gia hiện đại đối với nghề luật sư. Mô hình kỳ thi phi tập trung trên nền tảng số hóa thể hiện tư duy chiến lược của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số, nâng cao chất lượng quản trị nhà nước và quyết tâm chính trị trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành nghề luật sư theo tinh thần các nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Áp dụng kỳ thi quốc gia về luật sư là tư duy đặt kỳ thi ở vị thế “rào chắn” về chuyên môn và năng lực cần vượt qua để ứng viên bảo đảm đủ điều kiện tham gia không gian hành nghề truyền thống và phi truyền thống với tư cách pháp lý của một luật sư. Việc ứng viên thi đỗ kỳ thi này có ý nghĩa xác nhận sự đáng tin cậy về chuyên môn, năng lực pháp lý và sự liêm chính để pháp luật trao cho ứng viên tư cách hành nghề luật sư.
PV: Trước yêu cầu đổi mới mô hình đào tạo nghề luật sư trong kỷ nguyên mới, theo Phó Giáo sư, Học viện Tư pháp và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư cần phát huy vai trò và tăng cường phối hợp như thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết kỹ năng với thực tiễn hành nghề luật sư?
PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng: Trong mô hình đào tạo nghề luật sư, vai trò của các chủ thể cần được phân định lại một cách khoa học, rõ ràng và sớm chấm dứt tình trạng xóa nhòa ranh giới, phạm vi trách nhiệm về chất lượng nguồn nhân lực nghề nghiệp luật sư tại Việt Nam. Cụ thể:
(i) Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp) thực hiện chức năng định hướng, điều tiết và hỗ trợ phát triển nghề luật sư, trong đó tập trung vào việc xây dựng và hoạch định chính sách; cho ý kiến về một số hoạt động lớn, mang tính định kỳ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp, như Đề án tổ chức Đại hội, phương án nhân sự và chỉ đạo Đại hội của Đoàn Luật sư; thực hiện kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư, bồi dưỡng bắt buộc hằng năm cho luật sư; giải quyết khiếu nại, tố cáo; tổ chức cho luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý; hoạch định chính sách phát triển nghề luật sư; hoàn thiện thể chế đào tạo nghề luật sư, kiểm tra, thanh tra và tranh thủ mọi nguồn lực nhằm hỗ trợ phát triển nghề luật sư.
(ii) Học viện Tư pháp duy trì, phát huy kinh nghiệm, vị thế, năng lực của trung tâm lớn nhất trong toàn quốc về đào tạo nghề luật sư thông qua việc xác định và thực thi chiến lược làm chủ công nghệ đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng và bảo đảm chất lượng đào tạo, khảo thí hiện đại; chia sẻ nguồn lực, kinh nghiệm, công nghệ, trách nhiệm với các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong thực thi chức năng đào tạo thực tiễn và tham gia thực hiện kỳ thi quốc gia về luật sư; đồng thời thực hiện tốt vai trò đơn vị cung cấp sản phẩm nghiên cứu khoa học pháp lý ứng dụng, đổi mới sáng tạo để cung cấp ý kiến tư vấn chính sách cho công tác quản lý nhà nước về pháp luật của Bộ Tư pháp.
(iii) Tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức hành nghề luật sư (Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các Đoàn Luật sư) thực hiện tốt vai trò phối hợp, hợp tác trong vận hành mô hình đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp; thực hiện vai trò chủ động và cốt yếu trong giai đoạn đào tạo thực tiễn cho người tập sự hành nghề, với sự phối hợp và cộng đồng trách nhiệm của cơ sở đào tạo nghề luật sư; tham gia, phối hợp cùng gánh vác trách nhiệm trong vận hành kỳ thi quốc gia về luật sư và hoạt động quản lý luật sư với cơ quan quản lý nhà nước về luật sư .
PV: Từ thực tiễn đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam hiện nay, PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng có thể đưa ra một vài kiến nghị nhằm hoàn thiện mô hình đào tạo nghề luật sư trong kỷ nguyên số, cũng như những nội dung cần sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Luật?
PGS.TS. Nguyễn Minh Hằng: Dự thảo Luật được xây dựng trong bối cảnh thể chế pháp lý, kinh tế và xã hội đang có những chuyển biến sâu sắc dưới tác động của chuyển đổi số, qua đó, đặt ra yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề luật sư tại Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển nghề luật sư trong giai đoạn mới.
![]() |
| Đào tạo nghề luật sư là hoạt động đào tạo chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp do Học viện Tư pháp đảm nhiệm và đào tạo thực hành năng lực thực tế tại tổ chức hành nghề/tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, với sự quản lý của Nhà nước và cơ chế hợp tác công - tư |
Từ phương diện chuyên gia về đào tạo nghề luật sư và với góc độ lãnh đạo cơ sở đào tạo nghề luật sư, tôi cho rằng, dự thảo Luật cần được nghiên cứu, hoàn thiện các quy định liên quan đến những vấn đề sau:
Thứ nhất, bổ sung vào Điều 2 dự thảo Luật về giải thích thuật ngữ, khoản 9 về “Đào tạo nghề luật sư” theo hướng: “Đào tạo nghề luật sư là hoạt động đào tạo chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp do Học viện Tư pháp đảm nhiệm và đào tạo thực hành năng lực thực tế tại tổ chức hành nghề/tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, với sự quản lý của Nhà nước và cơ chế hợp tác công - tư”.
Phù hợp với khái niệm này, các quy định hướng dẫn thi hành Luật có thể làm rõ nghĩa vụ, trách nhiệm và phương thức phối hợp giữa ba bên, gồm Bộ Tư pháp, Học viện Tư pháp và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, đối với từng hoạt động cụ thể trong quá trình đào tạo.
Theo tôi, đào tạo nghề luật sư cần được nhìn nhận là một quá trình thống nhất, gồm hai giai đoạn, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: Đào tạo kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp tại cơ sở đào tạo; đào tạo thực hành thông qua hoạt động hướng dẫn, quản lý tập sự tại các tổ chức hành nghề luật sư. Trong đó, Học viện Tư pháp có bề dày kinh nghiệm trong công tác đào tạo, còn các tổ chức hành nghề luật sư, với sự tham gia của Liên đoàn Luật sư Việt Nam lại có lợi thế về kinh nghiệm thực tiễn và khả năng hướng dẫn người tập sự tiếp cận công việc nghề nghiệp. Vì vậy, nếu hai bên phát huy được thế mạnh, đồng thời phối hợp chặt chẽ trong cả hai giai đoạn, chất lượng đào tạo sẽ được nâng cao, góp phần xây dựng đội ngũ luật sư đáp ứng yêu cầu thực tiễn và định hướng phát triển nghề luật sư của Đảng, Nhà nước.
Thứ hai, bổ sung vào dự thảo Luật quy định về tập sự hành nghề luật sư. Có thể chỉnh sửa, bổ sung khoản 1 Điều 9 - Tập sự hành nghề luật như sau: "1. Tập sự hành nghề luật sư là giai đoạn đào tạo thực hành bắt buộc. Luật sư tập sự chịu sự hướng dẫn, giám sát chuyên môn phối hợp giữa tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư nhận tập sự và cơ sở đào tạo nghề luật sư. Theo đó, người đáp ứng tiêu chuẩn quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 7 của Luật này thì được gia nhập Đoàn Luật sư để tập sự hành nghề luật sư, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều 10 của Luật này. Thời gian tập sự hành nghề luật sư là 12 tháng, trừ trường hợp được miễn, giảm thời gian tập sự theo quy định tại khoản 4 của Điều này hoặc trường hợp chưa hoàn thành việc tập sự thì phải tiếp tục tập sự. Thời gian tập sự hành nghề luật sư được tính từ ngày có quyết định gia nhập Đoàn Luật sư để trở thành luật sư tập sự".
Việc bổ sung quy định này nhằm hiện thực hóa cơ chế đồng kiểm soát kết quả, chất lượng học tập thực chất của người học trong giai đoạn tập sự hành nghề tại cơ sở thực hành, bảo đảm xóa bỏ tình trạng tập sự hình thức.
Thứ ba, đối với kỳ thi quốc gia về luật sư, cần bổ sung quy định về nguyên tắc kết cấu kỳ thi quốc gia, thể hiện rõ đặc trưng cốt lõi mang tầm chiến lược của mô hình đào tạo luật sư trong điều kiện hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần bổ sung vào dự thảo Luật nguyên tắc xây dựng và vận hành kỳ thi quốc gia về luật sư. Cụ thể, bổ sung khoản 1 Điều 10 - Nguyên tắc của kỳ thi quốc gia về luật sư: “Kỳ thi quốc gia về luật sư tuân thủ nghiêm quy định pháp luật về luật sư, với hai vòng thi độc lập. Kỳ thi được ứng dụng nền tảng số hóa và cơ sở dữ liệu luật sư theo mô hình khảo thí phi tập trung, có kiểm soát trung tâm trong công tác tổ chức, giám sát thi để bảo đảm tính khách quan của kỳ thi”.
Thứ tư, sửa lại khoản 2 Điều 36 - Điều khoản chuyển tiếp trong dự thảo Luật theo hướng, những người đã đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư trước ngày Luật này có hiệu lực nhưng chưa được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì có thời hạn tối đa 06 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực để hoàn tất thủ tục đề nghị cấp Chứng chỉ; quá thời hạn này, kết quả kiểm tra cũ không còn giá trị.