Từ khóa: Luật Luật sư (sửa đổi); tiêu chuẩn luật sư; bản lĩnh chính trị; tư duy liên ngành; kỳ thi quốc gia về luật sư.
Đặt vấn đề
Qua 20 năm thi hành, Luật Luật sư năm 2006 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, thúc đẩy đội ngũ luật sư Việt Nam phát triển về quy mô và năng lực chuyên môn. Từ khi chỉ có hơn 4.000 luật sư, đến nay, Việt Nam đã có hơn 23.000 luật sư1, đóng góp tích cực vào bảo vệ công lý, quyền con người, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và quá trình cải cách tư pháp. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của thị trường dịch vụ pháp lý cùng tính chất phức tạp của các giao dịch thương mại, tiêu chuẩn trở thành luật sư bộc lộ những hạn chế, bất cập, nhất là về chất lượng đầu vào, tình trạng lệch lạc tư tưởng hoặc vi phạm quy tắc đạo đức nghề nghiệp ở một bộ phận luật sư.
Nghị quyết số 27-NQ/TW2 định hướng rõ yêu cầu xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, am hiểu pháp luật và giỏi kỹ năng hành nghề. Đồng thời, Kết luận số 69-KL/TW3 đặt ra nhiệm vụ thắt chặt kỷ cương quản lý nhà nước kết hợp nâng cao tính tự quản, chú trọng nâng cao tiêu chuẩn chính trị, đạo đức và chuyên môn của luật sư. Bên cạnh đó, bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng và sự dịch chuyển sang nền kinh tế số đòi hỏi đội ngũ luật sư không chỉ đáp ứng chuẩn mực tư pháp truyền thống, mà phải có tư duy liên ngành để bảo vệ lợi ích quốc gia và doanh nghiệp trên trường quốc tế.
Từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, việc sửa đổi toàn diện Luật Luật sư năm 2006 là đòi hỏi khách quan. Nghiên cứu phân tích, đánh giá tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với nghĩa vụ bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm nhằm giữ vững kỷ cương hành nghề và mở rộng tiêu chuẩn chuyên môn cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (dù không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng có cơ chế kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt. Nghiên cứu cho thấy, cần kết hợp hài hòa giữa yêu cầu siết chặt kỷ luật nhà nước với mở rộng thu hút nhân tài, tạo đòn bẩy cho nghề luật sư Việt Nam phát triển bền vững trong giai đoạn mới.
1. Sự cần thiết phải chuẩn hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị đối với luật sư
Để nâng cao chất lượng luật sư trong bối cảnh mới, việc luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng gắn với nghĩa vụ bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm nhằm giữ vững kỷ cương hành nghề là yêu cầu cấp thiết.
1.1. Để hoạt động luật sư đáp ứng yêu cầu trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trong lý luận về Nhà nước và pháp luật, nghề luật sư không phải là nghề cung cấp dịch vụ thương mại hay kinh doanh tự do thuần túy, mà là chức danh tư pháp mang tính xã hội - nghề nghiệp đặc thù, trực tiếp tham gia vào quá trình thực thi pháp luật, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo vệ sự nghiêm minh của pháp chế xã hội chủ nghĩa4.
Trong mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nền tư pháp lấy Tòa án làm trung tâm và tranh tụng là khâu đột phá. Hoạt động của luật sư gắn liền với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vì thế, việc thực hiện quyền bào chữa, đại diện pháp lý của luật sư tạo cơ chế cân bằng, phản biện độc lập, bảo đảm áp dụng pháp luật được khách quan, chính xác, chống oan sai và triệt tiêu nguy cơ lạm quyền tư pháp.
Chính vì vị trí đặc thù đó, hoạt động của luật sư luôn mang tính chính trị - pháp lý và xã hội sâu sắc. Tính chính trị - xã hội của nghề luật sư thể hiện ở sứ mệnh bảo vệ sự ổn định của thể chế chính trị, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ công lý, tạo niềm tin của Nhân dân vào công lý. Khi luật sư bảo vệ sự thượng tôn pháp luật và hướng dẫn khách hàng tuân thủ quy định pháp luật chính là trực tiếp bảo vệ trật tự pháp lý và thể chế chính trị của quốc gia. Nghề luật sư, nếu tách rời bản lĩnh chính trị, rất dễ bị chệch hướng hoặc biến chất thành công cụ “chạy án”, trục lợi thương mại; hoặc bị các thế lực “thù địch” lợi dụng để chống phá Nhà nước, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào hệ thống pháp luật5.
Về mặt lý luận, bản lĩnh chính trị của luật sư trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được tạo thành từ sự kết hợp hài hòa của 3 trụ cột cốt lõi “nhân - trí - dũng”6:
- Chữ “nhân” (đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội) thể hiện qua việc luật sư tuyệt đối tuân thủ Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam; sự thấu cảm trước những hoàn cảnh yếu thế, tinh thần trách nhiệm không quản ngại không có thù lao hoặc thù lao thấp khi thực hiện các vụ án chỉ định, trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách.
- Chữ “trí” (tri thức pháp lý và trí tuệ chính trị - xã hội): không chỉ dừng lại ở sự am hiểu điều luật hay kỹ năng tranh tụng, mà là trí tuệ chính trị - pháp lý. Luật sư phải hiểu thấu đáo quy luật vận hành của thể chế, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội để định hình “màng lọc tư duy”, phân biệt rõ giữa việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thân chủ với việc tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật hoặc xâm phạm lợi ích quốc gia, công cộng.
- Chữ “dũng” (dũng cảm bảo vệ lẽ phải và kiên định trước áp lực, cám dỗ): nghề luật sư hoạt động trong môi trường xung đột về lợi ích, đòi hỏi luật sư phải dũng cảm, kiên quyết sử dụng các phương thức pháp lý hợp pháp để đấu tranh bảo vệ cái đúng, phản biện cái sai; đủ kiên trung để từ chối các yêu cầu bất hợp pháp, không bị “bẻ cong” bởi tiền bạc hay đe dọa. Chữ “dũng” chân chính không phải là sự bốc đồng, lợi dụng mạng xã hội để phát ngôn cảm tính hay kích động dư luận, mà là sự kiên trì đấu tranh bằng tri thức pháp luật và thủ tục tố tụng nghiêm minh.
Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy, mô hình quản lý luật sư của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mang lại nhiều giá trị tham chiếu. Cùng xây dựng nền tư pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật Luật sư Trung Quốc (sửa đổi năm 2017) quy định rất khắt khe về tiêu chuẩn chính trị. Theo đó, Điều 2 quy định sứ mệnh bảo vệ sự thực thi đúng đắn của pháp luật; luật sư khi gia nhập tổ chức phải tuyên thệ “trung thành với Tổ quốc, trung thành với Nhân dân, ủng hộ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, ủng hộ hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa...”7. Đồng thời, các công ty luật có từ 03 đảng viên trở lên bắt buộc thành lập Chi bộ Đảng để định hướng chính trị và giám sát đạo đức hành nghề; áp dụng chế tài tước giấy phép vĩnh viễn đối với hành vi phát ngôn bôi nhọ hệ thống tư pháp hoặc kích động gây mất an ninh trật tự. Thực tiễn Trung Quốc chứng minh, chuẩn hóa tiêu chuẩn chính trị không làm suy giảm năng lực chuyên môn, mà sự vững vàng về chính trị đã giúp luật sư tạo dựng niềm tin với Nhà nước để được đảm nhận vai trò tư vấn trong các đại dự án quốc tế. Đây là minh chứng khẳng định luật hóa tiêu chuẩn chính trị là xu thế tất yếu của các quốc gia xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa8.
1.2. Để khắc phục hạn chế về bản lĩnh chính trị của đội ngũ luật sư hiện nay
Thực tiễn thi hành Luật Luật sư năm 2006 cho thấy, đội ngũ luật sư Việt Nam đã có những bước tiến mang tính lịch sử. Số lượng luật sư tăng từ 4.161 người (năm 2007) lên hơn 23.000 người (năm 2026)9; tham gia hơn 1,7 triệu vụ việc, chất lượng tranh tụng tại Tòa án được nâng cao rõ rệt, góp phần quan trọng vào việc chống oan sai, bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý và mang lại công bằng, bình đẳng trước pháp luật cho các chủ thể trong xã hội. Nhiều công ty luật trong nước đã đủ năng lực tư vấn các giao dịch sáp nhập và mua bán doanh nghiệp (M&A), tài chính, tranh chấp quốc tế phức tạp, cạnh tranh bình đẳng với các công ty luật nước ngoài.
Tuy nhiên, thực tiễn thi hành Luật Luật sư năm 2006 cho thấy, bản lĩnh chính trị và kỷ cương hành nghề của luật sư còn những hạn chế nhất định10:
Thứ nhất, nhận thức chính trị lệch lạc ở một bộ phận luật sư: một số luật sư thiên về bảo vệ lợi ích thân chủ bằng mọi giá hoặc chạy theo thù lao mà coi nhẹ nghĩa vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; lợi dụng diễn đàn mạng xã hội, sử dụng danh xưng luật sư để phát ngôn thiếu chuẩn mực, đăng tải thông tin sai sự thật, mang tính quy chụp, bôi nhọ uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng và thể chế.
Thứ hai, vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp gia tăng: trong 15 năm qua (tính đến tháng 6/2026), các Đoàn Luật sư đã xử lý kỷ luật xóa tên 1.601 luật sư (trong đó có 20 trường hợp bị kết án hình sự) và kỷ luật cảnh cáo, tạm đình chỉ 203 trường hợp. Một số luật sư bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội môi giới hối lộ, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lợi dụng các quyền tự do dân chủ...
Thứ ba, ứng xử thiếu chuẩn mực trong tố tụng: tình trạng luật sư vi phạm nội quy phiên tòa, thiếu tôn trọng Hội đồng xét xử, cố tình hoãn tòa kéo dài vụ án, xúi giục khách hàng khai báo sai sự thật hoặc cản trở điều tra còn diễn ra, làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh chung của giới luật sư.
Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ sự thiếu quy định trực tiếp về tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị trong pháp luật về luật sư hiện hành; công tác tự quản tại một số Đoàn Luật sư còn tâm lý nể nang, khâu tập sự ở một số nơi còn mang tính hình thức, chưa chú trọng đào tạo, bồi dưỡng về tri thức bản lĩnh chính trị - xã hội và kỹ năng ứng xử trước áp lực, cám dỗ.
2. Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao bản lĩnh chính trị đối với đội ngũ luật sư
Từ cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về luật sư cho thấy, dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) cần quy định tiêu chuẩn “có bản lĩnh chính trị vững vàng” và nghĩa vụ bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm đối với đội ngũ luật sư.
Thứ nhất, việc quy định tiêu chuẩn này nhằm thể chế hóa kịp thời, đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển đội ngũ luật sư. Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu “tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát triển đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng...”. Đồng thời, Kết luận số 69-KL/TW nhấn mạnh việc chú trọng nâng cao tiêu chuẩn chính trị, đạo đức nghề nghiệp của luật sư. Vì vậy, dự thảo Luật cần quy định tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị để thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm tính thống nhất giữa định hướng chính trị của Đảng và quy định pháp luật của Nhà nước.
Thứ hai, quy định này góp phần lập lại kỷ cương và tạo lập “màng lọc” bảo vệ giới luật sư trước các rủi ro nghề nghiệp. Đặc thù hoạt động nghề nghiệp làm luật sư thường xuyên tiếp xúc với các mặt trái xã hội và áp lực lớn từ lợi ích kinh tế. Việc luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị tạo “hàng rào kỹ thuật” ngay từ khâu gia nhập thị trường, giúp sàng lọc những cá nhân thiếu tu dưỡng ra khỏi đội ngũ luật sư. Đồng thời, chế định bồi dưỡng nhận thức chính trị hằng năm vận hành như cơ chế duy trì tiêu chuẩn liên tục, tăng cường “sức đề kháng” cho luật sư trước rủi ro sai phạm, góp phần giữ vững kỷ cương hành nghề.
Thứ ba, việc chuẩn hóa tiêu chuẩn chính trị góp phần nâng cao vị thế và củng cố niềm tin đối với đội ngũ luật sư. Khi tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị được thể chế hóa và thực thi nghiêm túc, xã hội và các cơ quan tiến hành tố tụng có niềm tin đối với luật sư là lực lượng trí thức pháp lý chân chính, vừa giỏi chuyên môn, vừa có trách nhiệm quốc gia, là đối tác tin cậy của Tòa án trong sứ mệnh bảo vệ công lý và quyền con người.
Tuy nhiên, để quy định về bản lĩnh chính trị của luật sư đi vào thực tiễn một cách thực chất, cần triển khai hệ thống giải pháp đồng bộ từ đào tạo, kiểm tra đến quản lý thực thi. Về công tác đào tạo và tập sự, Học viện Tư pháp cùng các cơ sở đào tạo nghề cần đưa nội dung “Bản lĩnh chính trị và trách nhiệm xã hội của luật sư” thành môn học bắt buộc, giảng dạy thông qua phương pháp phân tích tình huống thực tế (case studies)11. Về khâu đánh giá và bồi dưỡng, cần bổ sung nội dung đánh giá nhận thức chính trị, đạo đức ứng xử vào kỳ thi quốc gia về luật sư; đồng thời, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Liên đoàn Luật sư Việt Nam xây dựng khung chương trình bồi dưỡng chính trị hằng năm thống nhất toàn quốc, gắn kết quả bồi dưỡng với điều kiện gia hạn đăng ký hành nghề. Về công tác quản lý và tự quản, Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các Đoàn Luật sư cần kiên quyết loại bỏ tư duy nể nang, chủ động phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp phát ngôn lệch lạc, vi phạm đạo đức. Đồng thời, Bộ Tư pháp và các Sở Tư pháp tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiên quyết thu hồi chứng chỉ hành nghề đối với các cá nhân suy thoái; thiết lập cơ chế thông tin liên thông nhanh chóng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức tự quản để kịp thời phát hiện, xử lý các vi phạm phát sinh trong quá trình tố tụng.
Như vậy, việc chuẩn hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị của luật sư không làm ảnh hưởng hay làm giảm tính độc lập, khách quan và nghĩa vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của thân chủ theo quy định của pháp luật. Trên thực tế, bản lĩnh chính trị vững vàng và tính độc lập hành nghề không xung đột, mà là hai yếu tố thống nhất, bổ trợ lẫn nhau: chính sự kiên định về tư tưởng và đạo đức là “điểm tựa” giúp luật sư giữ vững tinh thần thượng tôn pháp luật, kiên định bảo vệ lẽ phải và độc lập trước mọi sự tác động bất hợp pháp, tránh nguy cơ bị lợi dụng, dính bẫy trục lợi hay vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng. Việc thể chế hóa tiêu chuẩn này làm vô hiệu hóa các quan điểm sai lệch cho rằng, luật hóa tiêu chuẩn chính trị sẽ hành chính hóa hay triệt tiêu tính độc lập của luật sư, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý vững chắc bảo vệ luật sư trước các áp lực tiêu cực trong quá trình hành nghề.
3. Mở rộng nguồn nhân lực luật sư chất lượng cao trong thời kỳ hội nhập
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng, sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chiến lược chuyển đổi số quốc gia, bản chất các quan hệ pháp luật xã hội và giao dịch thương mại đã có sự thay đổi căn bản. Các vụ việc pháp lý hiện đại không còn đóng khung trong phạm vi tranh tụng truyền thống hay các quan hệ dân sự, hình sự đơn thuần, mà đan xen phức tạp giữa pháp lý với kỹ thuật, tài chính, công nghệ, hàng hải và kinh doanh quốc tế. Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực tư pháp chất lượng cao theo Nghị quyết số 27-NQ/TW và Nghị quyết số 66-NQ/TW12, dự thảo Luật cần quy định cho phép người có bằng thạc sĩ hoặc tiến sĩ luật (dù không có bằng cử nhân luật) được đào tạo, tập sự và dự thi để trở thành luật sư kèm theo cơ chế kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt.
Quy định này thể hiện tư duy lập pháp tiến bộ, chuyển từ quản lý cứng nhắc dựa trên bằng cấp đầu vào sang tiếp cận năng lực thực chất gắn với kiểm soát chuẩn đầu ra.
3.1 Cơ sở khoa học và xu hướng quốc tế về đào tạo pháp lý liên ngành
3.1.1. Luận giải về đào tạo sau đại học liên ngành trong bảo đảm nền tảng tri thức pháp lý
Có quan điểm cho rằng, chương trình đào tạo cử nhân luật là chương trình đào tạo mang tính hệ thống, nền tảng, vì vậy, bắt buộc phải có bằng cử nhân luật mới bảo đảm tri thức pháp lý toàn diện; trong khi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ luật chỉ tập trung vào nghiên cứu chuyên sâu một lĩnh vực hẹp13. Dưới góc độ khoa học giáo dục đại học hiện đại và quy định pháp luật về đào tạo sau đại học, quan điểm này chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn thiết kế chương trình và bản chất của quy trình đào tạo liên ngành. Thực tế cho thấy, có nhiều chương trình đào tạo thạc sĩ theo định hướng ứng dụng.
Về cơ chế tích lũy học phần chuyển đổi và kiến thức pháp lý bắt buộc: theo quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ hiện hành tại Việt Nam (do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định), những người tốt nghiệp đại học chuyên ngành khác (không phải ngành luật) khi dự tuyển và được tiếp nhận vào chương trình đào
tạo thạc sĩ, tiến sĩ luật chưa được nghiên cứu chuyên sâu nếu chưa hoàn thành khối lượng kiến thức bổ sung. Người học bắt buộc phải học và thi đạt các học phần chuyển đổi kiến thức pháp luật nền tảng, bảo đảm được trang bị tư duy pháp lý hệ thống, phương pháp luận phân tích quy phạm và nền tảng lý luận cần thiết trước khi thực hiện luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ.
Chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ luật đòi hỏi người học không dừng lại ở việc học thuộc các điều luật thực định (vốn thường xuyên thay đổi), mà phải đạt đến trình độ nhất định như: phân tích chính sách pháp luật, giải thích quy phạm, so sánh pháp luật… Khi một người đã tích lũy được phương pháp luận nghiên cứu ở bậc sau đại học, khả năng tự học, tự cập nhật và tư duy logic pháp lý của họ đạt độ sâu sắc nhất định. Vì vậy, quan điểm đánh đồng việc không có bằng cử nhân luật với sự thiếu hụt kiến thức pháp lý cơ bản là chưa nhìn nhận chính xác cấu trúc tích lũy tri thức khắt khe của hệ thống giáo dục sau đại học.
3.1.2. Kinh nghiệm và mô hình đào tạo tư pháp tiên tiến trên thế giới
Xét trên phạm vi quốc tế, xu hướng đào tạo pháp luật phục vụ cho hành nghề luật ngày càng coi trọng mô hình liên ngành. Các hệ thống giáo dục pháp luật phát triển nhất thế giới đã chứng minh: việc bắt buộc có bằng cử nhân luật theo mô hình truyền thống không phải là con đường duy nhất, cũng không phải là con đường tối ưu nhất để tạo ra những luật sư giỏi.
Mô hình Juris Doctor (JD): tại Hoa Kỳ, Canada và nhiều quốc gia theo hệ thống Common Law, không tồn tại bằng cử nhân luật (LL.B) ở bậc đại học dành cho học sinh vừa tốt nghiệp trung học phổ thông. Để được nhận vào trường luật (Law School) và chuẩn bị cho kỳ thi hành nghề luật sư (Bar Exam), bắt buộc ứng viên phải có bằng cử nhân (Bachelor's Degree) ở một ngành bất kỳ - từ tài chính, kinh tế, công nghệ thông tin, kỹ thuật, hóa học cho đến y khoa hay triết học. Sau khi đã có nền tảng tri thức chuyên ngành và sự trưởng thành về tư duy, người học mới chính thức bước vào chương trình đào tạo luật chuyên nghiệp trong thời gian 03 năm để nhận bằng JD14.
Bản chất của mô hình JD là đào tạo luật sư trên nền tảng liên ngành. Các quốc gia này quan niệm, luật pháp là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nếu người học luật không hiểu thấu đáo về kinh tế, kỹ thuật, công nghệ hay xã hội học, họ chỉ là những “thợ luật” đơn thuần, thiếu năng lực thấu hiểu bản chất của các giao dịch phức tạp. Việc tiếp nhận sinh viên từ đa
dạng các ngành nghề bậc đại học vào học luật chuyên nghiệp chính là nguồn cung cấp sức sống, tính đa dạng và năng lực phân tích vượt trội cho giới luật sư.
Mặc dù, Việt Nam thuộc hệ thống Civil Law và duy trì hệ thống đào tạo cử nhân luật truyền thống, nhưng kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (với nền tảng đại học ngành khác) được đào tạo, tập sự và dự thi để trở thành luật sư chính là hình thức tiệm cận với tư duy đào tạo JD tiên tiến; cho phép tích hợp khối lượng kiến thức chuyên ngành đa dạng ở bậc đại học với trình độ pháp lý chuyên sâu ở bậc sau đại học, tạo ra lực lượng luật sư có năng lực cạnh tranh toàn cầu.
3.2. Thực tiễn thi hành và lợi thế của luật sư liên ngành
3.2.1. Tính thống nhất của hệ thống pháp luật và thực tiễn áp dụng Điều 17 Luật Luật sư năm 2006
Xét dưới góc độ về tính thống nhất của hệ thống pháp luật, việc dự thảo Luật quy định cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) trở thành luật sư không phải là quy định thiếu cơ sở thực tiễn, mà là sự kế thừa, hoàn thiện và minh bạch hóa quy định đã tồn tại trong pháp luật hiện hành. Cụ thể:
Sự thiếu đồng bộ giữa Điều 10 và Điều 17 Luật Luật sư năm 2006, theo đó, Điều 10 quy định tiêu chuẩn chung của luật sư là có bằng cử nhân luật, nhưng Điều 17 quy định về hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư lại cho phép người nộp hồ sơ cung cấp bằng cử nhân luật hoặc bằng thạc sĩ luật hoặc bằng tiến sĩ luật. Quy định tại Điều 17 mở ra cơ sở thực tiễn cho phép những cá nhân có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (dù bậc đại học học ngành khác) hoàn thành tập sự và được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Đồng thời, trong những năm qua, cơ quan quản lý nhà nước đã xem xét, cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã cấp Thẻ luật sư cho những trường hợp thuộc diện này. Thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của luật sư thời gian qua cho thấy, chưa có bằng chứng hay số liệu thống kê cho thấy lực lượng luật sư từ nguồn thạc sĩ, tiến sĩ luật (không qua cử nhân luật) có tỷ lệ vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật hay yếu kém về năng lực tố tụng cao hơn so với những người có bằng cử nhân luật truyền thống. Ngược lại, đa số họ đều thích ứng nhanh chóng, phát huy tốt năng lực và có những đóng góp rất tích cực cho thị trường dịch vụ pháp lý.
3.2.2. Năng lực cạnh tranh vượt trội của luật sư liên ngành trong các lĩnh vực pháp lý cao cấp
Trong nền kinh tế hiện đại, cấu trúc của các vụ việc tư vấn và tranh chấp pháp lý đã vượt ra khỏi phạm vi áp dụng các quy phạm pháp luật đơn thuần. Lực lượng luật sư có tư duy liên ngành, kết hợp giữa chuyên môn đại học chuyên sâu với trình độ pháp luật sau đại học thể hiện những ưu thế vượt trội mà lực lượng đào tạo đơn ngành khó thay thế được:
- Lĩnh vực M&A và tài chính - ngân hàng: trong vụ việc về giao dịch M&A hay tái cấu trúc tài chính tập đoàn đòi hỏi luật sư không chỉ nắm vững Luật Doanh nghiệp hay Luật Các tổ chức tín dụng, mà phải đọc hiểu rất kỹ báo cáo tài chính, thẩm định bảng cân đối kế toán, hiểu về mô hình định giá doanh nghiệp, cấu trúc dòng tiền và quản trị rủi ro tài chính. Thông thường, luật sư có bằng cử nhân tài chính - ngân hàng hoặc kế toán, sau đó hoàn thành chương trình học thạc sĩ/tiến sĩ luật sẽ có năng lực phân tích hồ sơ, nhận diện rủi ro tiềm ẩn và đàm phán hợp đồng M&A sắc bén hơn so với luật sư chỉ thuần túy học lý thuyết luật.
- Lĩnh vực sở hữu trí tuệ, công nghệ thông tin và tài chính số: các tranh chấp về bản quyền phần mềm, sáng chế công nghệ, dữ liệu cá nhân hay tài sản mã hóa đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về kỹ thuật công nghệ. Luật sư có gốc là kỹ sư công nghệ thông tin, điện tử viễn thông hoặc sinh học, khi bổ sung trình độ thạc sĩ/tiến sĩ luật sở hữu trí tuệ, sẽ trở thành những chuyên gia hiểu rõ bản chất kỹ thuật của sáng chế hay đoạn mã nguồn, từ đó, bảo vệ tối ưu quyền lợi của khách hàng tại Tòa án hoặc Trọng tài quốc tế.
- Lĩnh vực thương mại quốc tế, hàng hải và hàng không: các hợp đồng vận tải biển, bảo hiểm hàng hải, thuê mua tàu bay hay giải quyết tranh chấp tại Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC) đòi hỏi luật sư phải thông thạo thuật ngữ thương mại quốc tế (Incoterms, Charterparty), hiểu quy trình logistics và có trình độ ngoại ngữ chuyên sâu.
Thực tế cho thấy, lực lượng cử nhân ngoại thương, hàng hải, ngoại giao, sau khi hoàn thành chương trình thạc sĩ/tiến sĩ luật ở trong nước hoặc ngoài nước đã và đang đảm nhận các vị trí thành viên (Partner), luật sư điều hành tại các công ty luật hàng đầu. Họ là hạt nhân giúp các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, giữ vững “sân nhà” và vươn ra thị trường quốc tế, bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp Việt Nam trong các vụ kiện chống bán phá giá hay tranh chấp đầu tư xuyên biên giới.
3.3. Giải pháp kiểm soát chất lượng
Mặc dù, việc mở rộng cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư là tiến bộ và có căn cứ khoa học, nhưng để bảo đảm chất lượng đầu vào của luật sư, dự thảo Luật cần quy định chặt chẽ các điều kiện, tiêu chuẩn như:
Thứ nhất, không miễn, giảm thời gian đào tạo và tập sự: để giải quyết lo ngại về việc người không có bằng cử nhân luật thiếu kỹ năng hành nghề, kỹ năng tranh tụng, dự thảo Luật cần quy định nguyên tắc: các trường hợp có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật nhưng không có bằng cử nhân luật không được hưởng bất kỳ chính sách miễn hoặc giảm thời gian đào tạo nghề hay tập sự hành nghề luật sư nào.
- Bắt buộc tham gia chương trình đào tạo nghề luật sư: dù ứng viên đã có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ luật, họ bắt buộc phải hoàn thành khóa đào tạo nghề luật sư 12 tháng tại Học viện Tư pháp hoặc cơ sở đào tạo nghề. Khóa học không giảng lại lý thuyết pháp luật, mà tập trung 100% vào việc rèn luyện kỹ năng thực hành: nghiên cứu hồ sơ vụ án; viết luận cứ bào chữa; hỏi và tranh tụng tại phiên tòa; đàm phán, soạn thảo hợp đồng, đặc biệt là Bộ Quy tắc Đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.
- Bắt buộc hoàn thành tập sự hành nghề luật sư: sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo nghề, ứng viên tiếp tục phải tập sự thực tế 12 tháng tại tổ chức hành nghề luật sư dưới sự hướng dẫn trực tiếp của một luật sư đủ điều kiện. Quá trình tập sự giúp ứng viên thâm nhập thực tế đời sống tư pháp, cọ xát với các áp lực hành nghề, tiếp xúc với khách hàng và rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức dưới sự giám sát của luật sư hướng dẫn và Đoàn Luật sư.
Như vậy, với tổng thời gian 24 tháng (02 năm) đào tạo nghề và tập sự thực tế bắt buộc, kỹ năng hành nghề hay quy tắc ứng xử đặc thù của người không có bằng cử nhân luật sẽ được bù đắp và rèn luyện trọn vẹn, đầy đủ, chi tiết.
Thứ hai, cần quy định kỳ thi quốc gia về luật sư được tổ chức liên ngành, nghiêm túc, độc lập, khách quan để đánh giá năng lực, thống nhất và công bằng. Kỳ thi này đóng vai trò là “màng lọc” chất lượng, xóa bỏ mọi sự phân biệt về nguồn gốc bằng cấp đầu vào.
- Kỳ thi là thước đo bình đẳng cho mọi đối tượng: khi kỳ thi quốc gia về luật sư được tổ chức theo chuẩn mực thống nhất, tất cả các ứng viên bất kể là người có bằng cử nhân luật hay người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật đều phải hoàn thành cùng đề thi, cùng hội đồng chấm thi và cùng chuẩn mực đánh giá khắt khe do Nhà nước (Bộ Tư pháp) quản lý.
- Tách biệt giữa bằng cấp và năng lực thực hành: tư duy quản lý tư pháp hiện đại cho thấy, bằng cấp (dù là cử nhân, thạc sĩ hay tiến sĩ) chỉ phản ánh quá trình tích lũy tri thức lý thuyết; còn năng lực hành nghề luật sư phải được khẳng định qua việc giải quyết các tình huống pháp lý thực tế, tư duy phản biện và đạo đức nghề nghiệp. Kỳ thi quốc gia về luật sư là công cụ hữu hiệu nhất để xác định cá nhân có đủ năng lực bảo vệ quyền lợi của người dân và xã hội hay không. Khi ứng viên xuất thân từ nguồn thạc sĩ/tiến sĩ luật vượt qua kỳ thi quốc gia khắt khe này, không còn lý do khoa học hay thực tiễn để nghi ngờ về năng lực pháp lý của họ.
Như vậy, việc quy định cho phép người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) trở thành luật sư thông qua lộ trình đào tạo, tập sự và kỳ thi quốc gia về luật sư bắt buộc là bước tiến về thể chế, vừa bảo đảm tính kế thừa thực tiễn thi hành Luật Luật sư năm 2006, vừa bảo đảm kỷ cương quản lý nhà nước, đồng thời, giải phóng nguồn lực, thu hút nhân tài có tư duy liên ngành phục vụ tiến trình hội nhập quốc tế sâu, rộng và phát triển đất nước.
4. Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, pháp luật về tiêu chuẩn luật sư cần thực hiện đồng bộ các giải pháp để các quy định pháp luật được tổ chức thực hiện nghiêm túc trên thực tế. Vì vậy, bên cạnh việc nâng cao chất lượng đào tạo và siết chặt kỷ cương quản lý, tiến trình đưa chính sách mới vào thực tiễn đòi hỏi phải được hỗ trợ bởi các công cụ đo lường định lượng, hạ tầng công nghệ hiện đại và cơ chế bảo vệ hữu hiệu người hành nghề.
Thứ nhất, nhằm bảo đảm việc áp dụng tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng và đạo đức nghề nghiệp được thống nhất, tránh nguy cơ áp dụng cảm tính hay thiếu đồng bộ giữa các Đoàn Luật sư, cần có hướng dẫn về việc áp dụng quy định này trong quá trình thẩm tra cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và quá trình giám sát hành nghề. Bên cạnh đó, Bộ Tư pháp phối hợp với Liên đoàn Luật sư Việt Nam nghiên cứu xây dựng Sổ tay hướng dẫn chuẩn mực hành nghề luật sư và Bộ chỉ số nhận diện vi phạm. Sổ tay này sẽ cụ thể hóa các tiêu chí định lượng và định tính đối với bản lĩnh chính trị của luật sư trong nền tư pháp hiện đại, đồng thời, nhận diện các hành vi rủi ro nghiêm trọng như lợi dụng truyền thông để kích động dư luận làm sai lệch hồ sơ, xúi giục khách hàng khiếu kiện trái pháp luật hay lợi dụng danh xưng luật sư để xâm phạm lợi ích quốc gia, công cộng. Việc định hình tiêu chí rõ ràng giúp các cơ quan quản lý và tổ chức tự quản có cơ sở để thẩm định tiêu chuẩn đầu vào cũng như đánh giá chất lượng hành nghề luật sư định kỳ hằng năm.
Thứ hai, chuyển đổi số toàn diện công tác quản lý luật sư đóng vai trò là giải pháp hạ tầng then chốt không chỉ để đơn giản hóa thủ tục hành chính, mà còn nâng cao hiệu lực quản trị. Cần khẩn trương xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về luật sư liên thông giữa Bộ Tư pháp, các Sở Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cho phép số hóa 100% hồ sơ từ giai đoạn tập sự, tích lũy giờ bồi dưỡng chính trị hằng năm đến quá trình hành nghề thực tế. Giải pháp liên thông dữ liệu giúp việc giám sát quá trình tự tu dưỡng, rèn luyện về nhận thức chính trị minh bạch hơn, qua đó, kịp thời chấn chỉnh các luật sư không hoàn thành nghĩa vụ này.
Thứ ba, cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng đào tạo và tập sự của người có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ luật (không phải cử nhân luật) tham gia hành nghề luật sư. Các cơ sở đào tạo nghề cần đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tiệm cận chuẩn mực quốc tế, lấy phương pháp nghiên cứu tình huống (case-study) và diễn án thực hành làm trung tâm. Thời gian tập sự hành nghề luật sư cần được giám sát chặt chẽ hơn, đặc biệt là vai trò của luật sư hướng dẫn, tổ chức hành nghề luật sư và các Đoàn luật sư. Điều này giúp nâng cao chất lượng đầu vào của đội ngũ luật sư nói chung và các trường hợp có bằng thạc sĩ, tiến sĩ mà không có bằng cử nhân luật nói riêng.
Thứ tư, cần xây dựng cơ chế đồng bộ nhằm bảo vệ và tôn vinh người hành nghề luật sư. Bản lĩnh chính trị vững vàng chỉ có thể được phát huy tối đa khi luật sư được làm việc trong môi trường tư pháp an toàn, minh bạch. Vì vậy, cần thể chế hóa cơ chế phản ứng nhanh giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các cơ quan tiến hành tố tụng để bảo đảm quyền hành nghề của luật sư, đồng thời, sớm phát hiện, xử lý nghiêm các luật sư lợi dụng quyền hành nghề để thực hiện các hành vi trái pháp luật, đạo đức. Cần hoàn thiện quy chế khen thưởng, tôn vinh định kỳ đối với các luật sư, tổ chức hành nghề tích cực tham gia trợ giúp pháp lý cho người yếu thế và phục vụ các nhiệm vụ chính trị - xã hội. Việc kết hợp hài hòa giữa kiểm soát tiêu chuẩn đầu vào, chuẩn hóa quy trình đào tạo và thiết lập hành lang bảo vệ người hành nghề là giải pháp căn cơ để xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam vừa “hồng”, vừa “chuyên”, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Kết luận
Nghiên cứu định hướng sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn luật sư cho thấy, đây là nội dung có ý nghĩa quan trọng trong hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tư pháp. Trên cơ sở phân tích lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xu hướng phát triển tư pháp quốc tế và thực tiễn 20 năm thi hành Luật Luật sư năm 2006 cho thấy: (i) việc quy định, luật hóa tiêu chuẩn bản lĩnh chính trị vững vàng đối với luật sư góp phần thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, nâng cao tính tự quản của nghề luật sư, góp phần nâng cao uy tín xã hội và củng cố mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với luật sư; (ii) quy định cho phép những người có bằng thạc sĩ, tiến sĩ luật (không có bằng cử nhân luật) được tham gia hành nghề luật sư nhưng có kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm chất lượng là bước chuyển đổi phù hợp với yêu cầu đào tạo tư pháp liên ngành. Quy định này vừa kế thừa quy định của Luật Luật sư năm 2006, vừa tạo cơ chế thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao có nền tảng đa ngành, từ đó, nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ pháp lý và sức cạnh tranh của các tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam; (iii) quy định tổ chức kỳ thi quốc gia về luật sư và chương trình đào tạo, tập sự bắt buộc là cơ chế bảo đảm chất lượng đầu vào thống nhất, bảo đảm mọi cá nhân được cấp chứng chỉ hành nghề đều đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về kiến thức, kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp.
Như vậy, dự thảo Luật cần quy định về tiêu chuẩn luật sư, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa yêu cầu tăng cường kỷ cương quản lý nhà nước với tư duy mở rộng thu hút nhân tài. Việc triển khai đồng bộ các quy định cùng hệ thống giải pháp thi hành thực chất góp phần xây dựng đội ngũ luật sư Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn về chính trị, chuyên môn và đạo đức, phục vụ hiệu quả cho công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
ThS. Đào Thùy Linh
Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận, Đảng ủy Bộ Tư pháp
[1]. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 422/BC-BTP ngày 10/6/2026 về tổng kết thi hành Luật Luật sư (Báo cáo số 422/BC-BTP).
[2]. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW).
[3]. Ban Bí thư (2020), Kết luận số 69-KL/TW ngày 24/02/2020 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 30/3/2009 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư (Kết luận số 69-KL/TW).
[4]. Nguyễn Quốc Vinh, Đặng Kim Hoa (2024), Xây dựng bản lĩnh chính trị nghề luật sư, những vấn đề đặt ra trong sửa đổi Luật Luật sư, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam”.
[5]. Nguyễn Quốc Vinh, Đặng Kim Hoa (2024), tlđd.
[6]. Nguyễn Quốc Vinh, Đặng Kim Hoa (2024), tlđd.
[7]. Trần Anh Tú (2024), Một số quy định pháp luật của Trung Quốc về luật sư, quản lý đối với hoạt động của luật sư và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về luật sư tại Việt Nam”.
[8]. Phạm Thùy Linh (2022), Đoàn công tác Bộ Tư pháp nghiên cứu kinh nghiệm quản lý, phát triển nghề luật sư tại Trung Quốc, https://bttp.moj.gov.vn/portal/tin-tuc/chi-tiet/oan-cong-tac-bo-tu-phapnghien-cuu-kinh-nghiem-quan-ly-phat-trien-nghe-luat-su-tai-trung-quoc-tj0ti2a22d.htm, truy cập ngày 01/10/2026.
[9]. Báo cáo số 422/BC-BTP.
[10]. Báo cáo số 422/BC-BTP. 11. Lê Mai Anh, Nguyễn Minh Hằng (2024), Rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng của luật sư tiếp cận từ hoạt động đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp, Tạp chí Nghề luật, số 03/2024.
[11]. Lê Mai Anh, Nguyễn Minh Hằng (2024), Rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng của luật sư tiếp cận từ hoạt động đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp, Tạp chí Nghề luật, số 03/2024.
[12]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[13]. Nguyễn Ngọc (2026), Đề xuất phải tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để được cấp chứng chỉ hành nghề, https://tuoitre.vn/plo/de-xuat-phai-tham-du-ky-thi-quoc-gia-ve-luat-su-de-duoc-cap-chungchi-hanh-nghe-109911374.htm, truy cập ngày 01/10/2026.
[14]. Nguyễn Hữu Đức, Nguyễn Thị Bình, Lê Quang Y, Lê Hồng Phúc (2026), Phân loại trình độ tiến sĩ tại Hoa Kỳ và địa vị của văn bằng Juris Doctor (J.D.): Gợi mở cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tiến sĩ hành nghề luật, https://lsvn.vn/phan-loai-trinh-do-tien-si-tai-hoa-ky-va-dia-vi-cua-van-bang-jurisdoctor-j-d-goi-mo-cho-viet-nam-trong-xay-dung-mo-hinh-tien-si-hanh-nghe-luat-a177498.html, truy cập ngày 01/10/2026.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Ban Bí thư (2020), Kết luận số 69-KL/TW ngày 24/02/2020 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của luật sư.
3. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
4. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 422/BC-BTP ngày 10/6/2026 về tổng kết thi hành Luật Luật sư.
5. Nguyễn Quốc Vinh, Đặng Kim Hoa (2024), Xây dựng bản lĩnh chính trị nghề luật sư, những vấn đề đặt ra trong sửa đổi Luật Luật sư, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam”.
6. Lê Mai Anh, Nguyễn Minh Hằng (2024), Rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng của luật sư tiếp cận từ hoạt động đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp, Tạp chí Nghề luật, số 03/2024. Trần Anh Tú (2024), Một số quy định pháp luật của Trung Quốc về luật sư, quản lý đối với hoạt động của luật sư và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề “Hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam”.
7. Phạm Thùy Linh (2022), Đoàn công tác Bộ Tư pháp nghiên cứu kinh nghiệm quản lý, phát triển nghề luật sư tại Trung Quốc, https://bttp.moj.gov.vn/portal/tin-tuc/chitiet/oan-cong-tac-bo-tu-phap-nghien-cuukinh-nghiem-quan-ly-phat-trien-nghe-luatsu-tai-trung-quoc-tj0ti2a22d.htm, truy cập 01/10/2026.
8. Nguyễn Ngọc (2026), Người không có bằng cử nhân luật có nên được hành nghề luật sư?, https://tuoitre.vn/plo/de-xuat-phai-thamdu-ky-thi-quoc-gia-ve-luat-su-de-duoc-capchung-chi-hanh-nghe-109911374.htm, truy cập 01/10/2026.
9. Nguyễn Hữu Đức, Nguyễn Thị Bình, Lê Quang Y, Lê Hồng Phúc (2026), Phân loại trình độ tiến sĩ tại Hoa Kỳ và địa vị của văn bằng Juris Doctor (J.D.): Gợi mở cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tiến sĩ hành nghề luật, https://lsvn.vn/phan-loai-trinh-do-tien-si-taihoa-ky-va-dia-vi-cua-van-bang-juris-doctorj-d-goi-mo-cho-viet- nam-trong-xay-dung-mohinh-tien-si-hanh-nghe-luat-a177498.html, truy cập 01/10/2026.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, ấn phẩm “Hoàn thiện thể chế về luật sư và hành nghề luật sư trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, xuất bản năm 2026)
Ảnh: Internet