Thứ bảy 27/06/2026 11:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Mục đích của hình phạt trong chính sách pháp luật hình sự và pháp luật thi hành án hình sự ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết đưa ra những nhận thức lý luận về tính chất, tác dụng và mục đích của hình phạt, từ đó, luận giải sự tác động của nhận thức đó đối với việc xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về hình phạt, hệ thống hình phạt, cũng như phục vụ cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật về thi hành án hình sự ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: The article gives theoretical perceptions about the nature, effects and purposes of punishment, thereby explaining the impact of that perceptions on the formation and improvement of the criminal law provisions on punishment, punishment system, as well as serving the formation and improvement of legal policies on criminal judgment execution in Vietnam today.

1. Dẫn nhập

Pháp luật thi hành án hình sự (THAHS) có quan hệ chặt chẽ với pháp luật hình sự. Pháp luật THAHS nhằm bảo đảm cho các quyết định về trách nhiệm hình sự nói chung và hình phạt nói riêng trong bản án của Tòa án được thực hiện trên thực tế nhằm “lập lại trật tự xã hội đã bị hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm, trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, phòng ngừa tội phạm, thực thi công lý, công bằng xã hội”[1]. Như vậy, về mặt hình thức pháp lý, THAHS là thi hành bản án hình sự có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Xét cho cùng, THAHS là bảo đảm mục đích của hình phạt quy định trong Bộ luật Hình sự được thực hiện trên thực tế trên cơ sở bản án của Tòa án. Bởi vì, tư pháp hình sự xét dưới góc độ hệ thống là một quá trình vận hành bao gồm các khâu do các chủ thể khác nhau vận hành nhằm giải quyết một số nhiệm vụ của tư pháp hình sự mà “đầu vào” của hệ thống đó là người phạm tội và “đầu ra” của nó là một người phạm tội đã được giáo dục, cải tạo. THAHS là một khâu của tư pháp hình sự - khâu cuối cùng có quan hệ chặt chẽ với pháp luật hình sự, tố tụng hình sự. Chính vì vậy, khi bàn đến chính sách THAHS phải bắt đầu từ nhận thức về mục đích của hình phạt, bản chất, nội dung, phạm vi của các loại hình phạt và của cả hệ thống hình phạt. Từ nhận thức về mục đích của hình phạt, hệ thống hình phạt mới xây dựng chính sách THAHS, xây dựng các biện pháp thi hành hình phạt trên thực tế trong THAHS để bảo đảm mục đích của nó. Tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng: Cần làm rõ vấn đề này (mục đích hình phạt) bởi vì, xác định đúng đắn mục đích của hình phạt là một trong những yêu cầu quan trọng để xác định hiệu quả của hình phạt ngay trong khi xây dựng hệ thống hình phạt cũng như áp dụng hình phạt và thi hành hình phạt[2].

2. Mục đích hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam

Mục đích của hình phạt là điều mà Nhà nước mong muốn đạt được khi quy định hình phạt trong Bộ luật Hình sự. THAHS (thi hành hình phạt trong bản án hình sự) là phương tiện để đạt được mục đích đó. Về mặt luật thực định, Bộ luật Hình sự Việt Nam từ trước đến nay đều quy định: Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Với cách diễn giải như vậy, rõ ràng quan điểm của nhà lập pháp Việt Nam là hình phạt có mục đích trừng trị bên cạnh mục đích giáo dục, cải tạo. Quy định của luật thực định này dựa trên cách giải thích về mặt khoa học mục đích của hình phạt trước hết là trừng trị người phạm tội: Trừng trị là mục đích, đồng thời cũng là phương tiện để đạt được mục đích cuối cùng và chủ yếu của hình phạt đối với người phạm tội là giáo dục, cải tạo họ[3]. Về logic hình thức, tác giả cho rằng, khó chỉ ra được một đối tượng nào đó vừa là phương tiện vừa là mục đích và có mục đích là phương tiện sẽ dẫn đến những hậu quả nguy hại.

Quan điểm khác cho rằng, hình phạt không có nội dung trừng trị, thuộc tính của hình phạt là trừng trị chứ không có mục đích trừng trị. Mục đích của hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội và trừng trị là bản chất, là thuộc tính của hình phạt chứ không phải là mục đích của hình phạt. Hình phạt có nội dung trừng trị và nội dung giáo dục cải tạo. Vấn đề cơ bản đặt ra là kết hợp hai yếu tố đó như thế nào trong hình phạt để bảo đảm hiệu quả áp dụng của chúng[4]. Nếu mục đích của hình phạt trong luật hình sự chỉ giải quyết vấn đề quy định trong pháp luật và áp dụng hình phạt của Tòa án thì trong THAHS tiếp tục cụ thể mục đích của hình phạt trong quá trình thi hành hình phạt, do đó, thi hành hình phạt không xa rời mục đích của hình phạt.

Các quan điểm này tác động đến các nguyên tắc, tổ chức hoạt động, chế độ thi hành án, quyền, nghĩa vụ của người bị kết án trong pháp luật THAHS ở các phương diện sau đây:

Thứ nhất, nếu hình phạt có mục đích trừng trị tác động đến hệ thống nguyên tắc của pháp luật THAHS và thực tiễn áp dụng nó. Trong các nguyên tắc của pháp luật THAHS hiện nay được quy định trong Luật Thi hành án hình sự “kết hợp giữa trừng trị và cải tạo” trong khi đó, về lý thuyết thừa nhận nguyên tắc “người phạm tội có khả năng giáo dục, cải tạo được”[5] hoặc nguyên tắc “kết hợp giữa giáo dục, cải tạo và cưỡng chế”[6]. Rõ ràng, các nguyên tắc là khác nhau về nội dung, đòi hỏi và phản ánh quan điểm về mục đích của hình phạt trong luật hình sự.

Thứ hai, mục đích của hình phạt sẽ tác động đến cơ cấu của hệ thống hình phạt, nội dung của loại hình phạt cụ thể và đương nhiên cả các biện pháp THAHS. Nếu mục đích hình phạt là trừng trị thì hệ thống hình phạt sẽ bao gồm các loại hình phạt mang tính chất hà khắc, tác động mạnh mẽ đến hệ thống pháp luật THAHS. Các biện pháp hình phạt cũng vì thế mà nặng về tính trừng trị để phục vụ cho mục đích của hình phạt. Có thể chứng minh được điều này trong pháp luật hình sự, THAHS và thực tiễn thi hành nó trong lịch sử tư pháp hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay[7]. Hình phạt không có mục đích gây đau đớn về thể xác và hạ thấp phẩm giá con người. Bên cạnh đó, nếu coi mục đích của hình phạt là trừng trị khó có thể lý giải trong các thời kỳ khác nhau, hình phạt tù, hình phạt tử hình (một trong hình phạt có tính chất trừng trị đang có xu hướng giảm dần theo xu hướng nhân đạo hóa hình luật và tinh thần của cải cách tư pháp: Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số tội phạm là giảm bớt tính chất trừng trị của hình phạt.

Thứ ba, mục đích của hình phạt sẽ quyết định các chế định quan trọng nhất của pháp luật THAHS như: Chế độ THAHS, các quyền của người phải THAHS và các biện pháp THAHS, thậm chí cả hệ thống THAHS, bao gồm, các chủ thể có trách nhiệm thi hành hình phạt.

Về vấn đề hình phạt tác giả cho rằng, cần rành mạch các khái niệm cơ bản, đó là: Tính chất của hình phạt, tác dụng của hình phạt và mục đích của hình phạt. Mục đích của hình phạt là cách nói chưa chuẩn xác về mặt khoa học. Hình phạt không có mục đích mà hình phạt chỉ có tính chất và tác dụng. Mục đích ở đây là việc Nhà nước quy định và áp dụng hình phạt trong Bộ luật Hình sự và thi hành nó trên thực tế. Tính chất của hình phạt hay là thuộc tính chứa đựng trong hình phạt là tính chất trừng trị. Thiếu tính chất trừng trị thì hình phạt không còn là nó. Bởi vì, nguyên nghĩa của hình phạt là “sự đau đớn và thiệt hại mà quốc gia nhân danh công ích buộc kẻ phạm tội phải chịu sau khi đã có bản án xác định tội lỗi về sự vi phạm luật lệ”[8]. Trên thực tế, sự trừng trị này được thể hiện thành ba nhóm hình phạt cơ bản: Thể hình, tước đoạt tự do và ngân hình (phạt tiền). Tuy nhiên, trong Bộ luật Hình sự Việt Nam và pháp luật THAHS từ trước đến nay chưa cho thấy tính chất trừng trị của các loại hình phạt cụ thể. Một trong những tính chất của hình phạt là tước bỏ hoặc hạn chế một số quyền cơ bản của người phạm tội. Nhưng trên thực tế, Bộ luật Hình sự quy định quyền và lợi ích nào bị tước bỏ hay hạn chế đối với từng loại hình phạt được quy định trong hệ thống hình phạt nước ta. Từ đó, dẫn đến hậu quả “quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án được luận giải thông qua chế độ chấp hành các loại hình phạt. Vì vậy, cơ quan thi hành án và người bị kết án không biết quyền nào của mình bị hạn chế, quyền nào bị tước bỏ”[9]. Trên thực tế, có những quyền mà người chấp hành hình phạt không bị tước bỏ. Ví dụ, quyền kết hôn, quyền hiến xác cho y học… Nhưng có quyền buộc phải tước bỏ hay hạn chế thể hiện tính chất trừng trị của hình phạt như quyền tự do thân thể, quyền tự do đi lại… Như vậy, khi làm rõ tính chất trừng trị của từng loại hình phạt sẽ loại bỏ được các quyền không nằm trong nội dung trừng trị, đồng thời, tước bỏ và hạn chế các quyền nhằm thể hiện tính chất trừng trị của tội phạm.

Tác dụng của hình phạt là kết quả khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội. Với ý nghĩa như vậy, cái mà lâu nay nhiều người cho rằng, mục đích của hình phạt chính là tác dụng của hình phạt. Khi quy định và áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, hình phạt sẽ có tác dụng sau đây: Không để cho người phạm tội hoặc các cá nhân khác trong xã hội tiếp tục phạm tội; giáo dục, cải tạo người phạm tội ý thức tôn trọng pháp luật để không tiếp tục phạm tội. Người phạm tội là đối tượng đặc biệt, để phòng ngừa họ không tiếp tục phạm tội, Nhà nước phải dùng biện pháp đặc biệt là áp dụng hình phạt, một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất nhằm hạn chế hoặc tước bỏ các quyền quan trọng nhất của họ. Nói cách khác, để phòng ngừa tội phạm phải sử dụng hình phạt. Như vậy, chứng minh thêm cho luận điểm trừng trị là thuộc tính của hình phạt, bản thân hình phạt đã chứa đựng tính chất trừng trị trong nó. Phòng ngừa là tác dụng đầu tiên của hình phạt. Phòng ngừa có thể được hiểu là loại trừ các nguyên nhân, điều kiện để người phạm tội tiếp tục phạm tội.

Hình phạt còn có tác dụng giáo dục cải tạo, tác giả cho rằng, giáo dục, cải tạo là mức độ cao nhất của mục đích hình phạt mang tính bền vững hơn. Nếu hình phạt chú trọng quá đến giáo dục cải tạo là duy ý chí. Bởi giáo dục, cải tạo cần có những điều kiện, phương pháp khác so với phòng ngừa và khó khăn hơn phòng ngừa. Hình thức giáo dục nhằm làm cho phạm nhân chuyển biến tư tưởng, tình cảm, nhận rõ tội lỗi, sai lầm, khuyết điểm; có ý thức sửa chữa sai lầm; tôn trọng pháp luật, quy chế, nội quy trại giam; có ý thức, thói quen lao động. Nếu có thể, pháp luật THAHS cần tách bạch phòng ngừa, giáo dục cải tạo và tương ứng với nó là các biện pháp THAHS khác nhau trên tính thần trước hết là phòng ngừa tiến tới là giáo dục, cải tạo.

Mục đích của hình phạt là vấn đề có tính lịch sử xuất phát từ các lý thuyết khác nhau về tội phạm và hình phạt, theo đó, hình phạt luôn gắn liền với quan niệm về tội phạm, về công lý trong mỗi xã hội.

Tác giả cho rằng, vấn đề cần bàn luận ở đây không phải là mục đích của hình phạt là gì, mà là “hình phạt nên có mục đích trừng trị hay trừng phạt” trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Điều này cho thấy, bàn về mục đích của hình phạt không phải xuất phát từ pháp luật của mỗi quốc gia mà xuất phát từ quan niệm về tội phạm và phòng ngừa tội phạm, đánh giá hiệu quả của hình phạt trong thực tế gắn với xu thế chung của thế giới và điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia. Bởi lẽ, “bản chất của hình phạt tùy thuộc vào quan điểm của Nhà nước trong tổ chức hình phạt ấy. Nếu người ta chấp nhận rằng quốc gia có sứ mệnh tuyệt đối giữ gìn trật tự xã hội chứ không phải trật tự luân lý, thì người ta sẵn lòng chấp nhận rằng hình phạt phải đặt trên sự cần thiết bảo vệ trật tự pháp lý; hình phạt không phải là mục tiêu, mà là một phương tiện cho Nhà nước thỏa mãn chức vụ ấy”[10]. Cesar Beccaria cha đẻ học thuyết cổ điển về tội phạm trong cuốn “On Crimes and Punishment” xuất bản năm 1764 đả phá quyết liệt sự dã man, tàn bạo của hình luật phong kiến và nhà thờ, đưa ra luận điểm: Hình phạt không phải là nặng hay nhẹ mà nằm ở chỗ “chắc chắn”. Montesquieu trong cuốn “L’esprit des lois” xuất bản năm 1748 cho rằng: Hình phạt không cứ nặng nhẹ mà nằm ở chỗ công lý sơ xuất để cho kẻ phạm tội tránh bị trừng phạt. Lenin viết tương tự: “Hình phạt không nằm ở chỗ nặng hay nhẹ mà ở chỗ không tội phạm nào tránh khỏi bị trừng phạt”[11]. Xa hơn nữa là thời tài phán tư (Justice privée) cho phép cá nhân tự xử “nợ máu trả máu” được ưa thích. Công lý trong luật hình sự là người phạm tội chắc chắn bị phát hiện và trừng trị không phụ thuộc vào trừng trị nặng hay nhẹ. Đạt được mục đích này phải nhờ vào tác phòng ngừa, giáo dục, cải tạo ở phương diện ý thức pháp luật của người dân.

Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nhà nước mà ở đó quyền con người được tôn trọng và bảo vệ, thì mục đích của luật hình sự cần được nhận thức phù hợp với tiễn đó[12]. Chính vì vậy, Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ đạo rất đúng đắn: Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm.

Chính vì vậy, tác giả cho rằng, hình phạt không có mục đích trừng trị mà mục đích của hình phạt là duy trì trật tự xã hội trước sự xâm phạm của tội phạm, duy trì công lý, bảo vệ quyền lợi của các cá nhân trong xã hội.

Như vậy, chính sách pháp luật và pháp luật hình sự trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai cần phải dựa trên quan điểm về mục đích của hình phạt để xây dựng thành nguyên tắc nhất quán trong quy định, áp dụng và thi hành hình phạt trong bản án của Tòa án. Đề xuất trong Luật Thi hành án hình sự phải có điều luật quy định rõ ràng mục đích, nhiệm vụ của hiện nay dựa trên cơ sở mục đích của hình phạt trong Bộ luật Hình sự[13].

3. Hệ thống hình phạt

Hệ thống hình phạt là các loại hình phạt được sắp xếp theo nguyên tắc nhất định nhằm mục đích nhất định. Hệ thống hình phạt có thể hiểu là mức độ phản ứng của Nhà nước đối với tính chất mức độ nguy hiểm khác nhau của tội phạm. Hệ thống hình phạt mang nhiều ý nghĩa như bảo đảm nguyên tắc công bằng và nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt… Nói đến hệ thống hình phạt là nói đến các loại hình phạt cụ thể và các nguyên tắc sắp xếp các loại hình phạt đó trong một chỉnh thể. Tiêu chí đánh giá hệ thống hình phạt dựa vào hệ thống thang bậc, mức độ nghiêm khắc của hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; cách sắp xếp các loại hình phạt theo trình tự logic và khoa học bảo đảm đồng bộ; hệ thống hình phạt phải bảo đảm sự cân đối nhất định; quy định rõ ràng cụ thể, nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng của từng loại hình phạt…

Hiện nay, hệ thống hình phạt ở các nước trên thế giới là không giống nhau ở các phương diện, các loại hình phạt cụ thể, số lượng các hình phạt trong hệ thống hình phạt. Hệ thống hình phạt của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Điều kiện lịch sử cụ thể về kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức, tình hình tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, kinh nghiệm và truyền thông lập pháp… của mỗi nước. Đánh giá chung, hệ thống hình phạt của các nước trên thế giới đều thể hiện tính đa dạng ở các mức độ khác nhau nhằm bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa hình phạt bảo đảm công bằng trong áp dụng hình phạt và xu thế nhân đạo hơn.

Ngoài những hình phạt có tính chất kinh điển như: Tử hình, tù có thời hạn, tù chung thân, phạt tiền, xu hướng đang được đề xuất là hệ thống hình phạt ở các nước cần được đa dạng hóa các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt bảo đảm nguyên tắc phân hóa, cá thể hóa trong THAHS triệt để hơn, đặc biệt là, hệ thống hình phạt bổ sung bên cạnh các loại hình phạt chính có tính chất truyền thống như: Tù có thời hạn, tù chung thân hay tử hình. Nhìn vào hệ thống hình phạt Việt Nam hiện nay bao gồm bảy loại hình phạt chính, bảy loại hình phạt bổ sung được áp dụng cho tất cả các tội phạm cụ thể dẫn đến tình trạng các loại tội phạm do những con người cụ thể thực hiện trong xã hội xét đến cùng đều chỉ bị áp dụng một trong các loại hình phạt nói trên là cứng nhắc và không bảo đảm tối đa nguyên tắc tắc cá thể hóa hình phạt trong luật hình sự và kéo theo là cá thể hóa trong THAHS. Với sự đa dạng và phong phú của tội phạm trên thực tế, đòi hỏi hệ thống hình phạt cần phải có các hình có tính chất chuyên biệt phù hợp với từng loại tội cụ thể. Ví dụ: Khi áp dụng hình phạt cho một số tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em (ấu dâm), Tòa án bị hạn chế trong hệ thống hình phạt gồm bảy loại chính, bảy loại bổ sung nói trên dẫn đến người phạm tội xâm phạm sở hữu và xâm hại tính trẻ em đều áp dụng các loại hình phạt giống nhau. Trong khi đó, rõ ràng, tội xâm phạm tình dục trẻ em nhiều khi có dấu hiệu bệnh lý và hình phạt phải tiếp cận dưới góc độ bệnh lý. Do đó, đối với những người này, ngoài hình phạt tù còn phải áp dụng thêm các hình phạt hạn chế tự do được tiếp cận dưới dạng như bệnh lý[14]. Chính vì vậy, ở một số nước hình phạt chính đối với loại tội phạm này có vẻ như rất nhẹ, nhưng hình phạt bổ sung mới là quan trọng và có giá trị phòng ngừa cao.

Nghiên cứu lý luận đã chỉ ra sự cần thiết phải thay đổi quan điểm, tư duy về mục đích hình phạt theo hướng giáo dục tại cộng đồng, mà không phải là trừng trị. Như vậy, Bộ luật Hình sự và Luật Thi hành án hình sự và các luật liên quan cần sửa đổi theo hướng bỏ quy định mục đích hình phạt là trừng trị. Điều đó phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế và luật nhiều nước trên thế giới về hình phạt. Có ý nghĩa cải tạo xã hội và bảo đảm quyền con người của người bị kết án.

Mặt khác, tác giả đề xuất hệ thống hình phạt của Việt Nam cũng cần sửa đổi, bổ sung theo xu hướng đa dạng hơn nữa các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt, đặc biệt là các hình phạt bổ sung. Cần quan niệm lại hình phạt bổ sung trong Bộ luật Hình sự. Liệu có nên cho rằng hình phạt bổ sung luôn và bao giờ cũng ít nghiêm khắc hơn hình phạt chính? và chỉ áp dụng kèm với hình phạt chính? Thay vào đó là xem xét nó dưới góc độ hiệu quả hình phạt.

Trương Thị Thu Hằng

Khoa Luật hình sự, Trường Đại học luật, Đại học Huế

[1]. Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng (2006), Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, tr. 21.

[2]. Trịnh Quốc Toản, Nghiên cứu hình phạt trong luật hình sự Việt Nam dưới góc độ bảo vệ quyền con người, Nxb. Chính trị quốc gia, 2015, tr. 45

[3]. Nguyễn Ngọc Hòa, Mục đích của hình phạt, Tạp chí Luật học số 1/1999, tr. 10 - 11.

[4]. Võ Khánh Vinh, Hình phạt và hệ thống hình phạt, trong sách Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 1994, tr. 218.

[5]. Trần Quang Tiệp, Một số vấn đề về thi hành án hình sự, Nxb. Công an nhân dân, H. 2002, tr. 28.

[6]. Võ Khánh Vinh, Nguyễn Mạnh Kháng (2006), Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Tư pháp, tr. 47.

[7]. Trước đây, các đạo luật về hình sự đều phản ánh tính chất trừng trị rất rõ: Pháp lệnh trừng trị tội phản cách mạng năm 1967, Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa năm 1970.

[8]. Nguyễn Huy Chiểu, Hình luật, Giáo trình dành cho cử nhân năm thứ 2, Khoa luật, Viện Đại học Sài Gòn, niên khóa 1973 - 1974, tr. 15.

[9]. Trần Văn Độ, Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án trong sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án hình sự, Tham luận tại Hội thảo: Chính sách pháp luật về thi hành án hình sự - Những vấn đề lý luận và thực tiến cấp bách, do học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức, Hà Nội tháng 4/2019.

[10]. Nguyễn Huy Chiểu, sđd, tr. 49.

[11]. V.I Lenin Toàn tập, tập 3 Nxb. Tiến Bộ Matxcova 1987, tr. 217.

[12]. Trần Văn Độ, Không nước nào hiện nay coi trừng trị là mục đích của hình phạt, http://vneconomy.vn/thoi-su/duy-nhat-viet-nam-van-coi-trung-tri-la-muc-dich-cua-hinh-phat-2015103102125414.htm, truy cập ngày 26/4/2019.

[13]. Có thể tham khảo Điều 1 Bộ luật Thi hành án hình sự Liên bang Nga quy định: Mục đích của pháp luật thi hành án hình sự Liên bang Nga là cải tạo người bị kết án và phòng ngừa họ cũng như người khác phạm tội mới; nhiệm vụ của pháp luật thi hành án hình sự là điều chỉnh trình tự và điều kiện thi hành và chấp hành hình phạt, xác định phương tiện cải tạo người phạm tội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ và giúp đỡ người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng.

[14]. Dữ liệu của Trung tâm Quốc gia về Trẻ em bị mất tích và lạm dụng Mỹ cho thấy, tại quốc gia này, mỗi năm có gần 800.000 trẻ mất tích, tương đương 2.000 vụ xảy ra mỗi ngày, Mỹ cũng quy định nhiều đạo luật liên quan đến việc lưu lại thông tin, kiểm soát hành vi, công khai danh tính của kẻ phạm tội để các cộng đồng dân cư biết được và đề phòng, cấm người phạm tội tiếp xúc với trẻ em trong bán kính nhất định… Trường hợp chính cha mẹ lạm dụng con cái thì sẽ bị tước quyền nuôi con.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 379), tháng 4/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Quản trị linh hoạt: Đột phá thể chế nhằm giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho khu vực tư nhân tại Việt Nam

Trong tiến trình hướng tới mục tiêu phát triển quốc gia năm 2045, cấu trúc chi phí tuân thủ pháp luật không cân đối đang là rào cản hệ thống đối với khu vực tư nhân. Bài viết vận dụng khung lý thuyết về Quản trị linh hoạt (Agile Governance) và kinh tế học thể chế để nhận diện các bất cập của mô hình quản trị truyền thống. Phân tích cho thấy cơ chế điều tiết tiền kiểm, sự phân mảnh dữ liệu và khuynh hướng phòng vệ trong thực thi công vụ là các tác nhân chính làm gia tăng chi phí giao dịch và chi phí cơ hội cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất bốn giải pháp mang tính cấu trúc: (i) Thể chế hóa “ủy quyền có kiểm soát”; (ii) Chuyển đổi chiến lược quản trị sang “hậu kiểm”; (iii) Thể chế hóa “quyền được thử nghiệm” (Sandbox); (iv) Quản trị bằng dữ liệu thời gian thực. Việc chuyển đổi sang quản trị thích ứng là điều kiện tiên quyết để tối ưu hóa môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc theo dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nội dung quan trọng nhất của Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (Luật năm 2016), cũng như dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật). Bài viết phân tích, so sánh các quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trong dự thảo Luật với Luật năm 2016, tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan và so sánh pháp luật của một số quốc gia có mô hình quản lý khác nhau. Từ đó, chỉ ra những điểm mới căn bản của dự thảo Luật so với Luật năm 2016 và một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu về quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, như: ranh giới giữa “đăng ký” và “xin phép”, tiền kiểm và hậu kiểm, quyền quản lý tài sản, tài chính… Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu quản lý và quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt, trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế…
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Để đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứtư và thực tiễn hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có những sửa đổi, bổ sung nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Những quy định này là cơ sở để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong hoạt động quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo mang lại những hiệu quả tích cực. Tuy nhiên, sự nhạy cảm đặc biệt trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và thuộc tính công nghệ của AI đặt ra những vấn đề pháp lý cần quan tâm. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo đảm AI được ứng dụng hiệu quả, vừa tôn trọng, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, thể chế, pháp luật nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển đất nước, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Nội dung cơ bản và những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Sau 08 năm thi hành, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế, bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, hoàn thiện. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (dự thảo Luật) được xây dựng theo các quan điểm đổi mới của Đảng, dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Hoàn thiện pháp luật tiếp cận thông tin nhằm bảo đảm quyền của người khuyết tật trong kỷ nguyên số

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, quyền tiếp cận thông tin là tiền đề quan trọng để người khuyết tật hòa nhập xã hội. Tuy nhiên, “khoảng cách số” và những khoảng trống của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 làm tăng nguy cơ người khuyết tật bị “bỏ lại phía sau”. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu, nghiên cứu đánh giá thực trạng khung pháp lý cũng như thực tiễn thi hành quyền tiếp cận thông tin của người khuyết tật; từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Kết quả nghiên cứu cho thấy có ba điểm nghẽn lớn là thiếu quy định bắt buộc về định dạng thông tin dễ tiếp cận; giới hạn về chủ thể cung cấp thông tin và thiếu cơ chế phối hợp hỗ trợ. Để giải quyết, nghiên cứu đề xuất ba giải pháp trọng tâm: (i) đa dạng hóa phương thức cung cấp qua nền tảng số và bắt buộc cung cấp định dạng chuyên biệt; (ii) mở rộng trách nhiệm cung cấp thông tin đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thiết yếu, thiết lập cơ chế để hệ thống trợ giúp pháp lý trở thành đầu mối hỗ trợ, “phiên dịch” thông tin cho người khuyết tật; (iii) hoàn thiện các điều kiện bảo đảm thông qua chính sách miễn phí tiếp cận thông tin và đầu tư hạ tầng công nghệ bao trùm.
Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã có những quy định mới quan trọng về xây dựng chính sách, đánh giá tác động của chính sách. Các quy định này đã và đang được triển khai trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.
Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý hoạt động tôn giáo - Một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại một số quốc gia như Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nga, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á; từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Nghiên cứu tập trung phân tích ba nội dung chính: (i) mô hình pháp luật điều chỉnh quan hệ Nhà nước - tôn giáo; (ii) cơ chế bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân; (iii) phương thức quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số quốc gia ASEAN: tiếp cận từ mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo

Tóm tắt: Trong xã hội đa dạng về tín ngưỡng và tôn giáo, pháp luật không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn thiết lập cơ chế duy trì trật tự công, ổn định xã hội và thúc đẩy hòa hợp cộng đồng. Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và được cụ thể hóa trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, các cách tiếp cận hiện chưa làm rõ đầy đủ cơ sở lý luận của mô hình quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo như một nền tảng cho cải cách pháp luật. Nghiên cứu phân tích các mô hình lý luận về quan hệ giữa Nhà nước và tôn giáo, đánh giá mô hình chính sách, pháp luật hiện hành của Việt Nam và xu hướng sửa đổi trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua tham chiếu kinh nghiệm của Singapore như một trường hợp điển hình trong ASEAN, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong cách tiếp cận pháp luật hiện nay ở Việt Nam và đề xuất các định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật theo hướng vừa bảo đảm tốt hơn quyền tự do tôn giáo, vừa đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước và hội nhập quốc tế.
Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số, dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã bước đầu thiết lập hành lang pháp lý cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. Nghiên cứu phân tích các chính sách, quy định mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, đánh giá tính tương thích và khả thi trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Bằng phương pháp phân tích quy phạm và so sánh đối chiếu, nghiên cứu làm rõ sự biến đổi của các hình thức thực hành tôn giáo trong môi trường số và trách nhiệm của các chủ thể liên quan, đặc biệt là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạng, qua đó, xác định các yêu cầu đối với tổ chức thực thi nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong bối cảnh số hóa.
Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Thực trạng chính sách, pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu, rộng và sự đa dạng ngày càng gia tăng của các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, hệ thống chính sách, pháp luật Việt Nam đã có nhiều bước hoàn thiện, đặc biệt, với việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành chính sách, pháp luật còn tồn tại một số hạn chế như tính minh bạch chưa cao, thủ tục hành chính còn phức tạp và sự thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật giữa các địa phương. Nghiên cứu phân tích thực trạng chính sách, pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tốt hơn quyền con người và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới

Truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Truyền thông chính sách trong xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) có ý nghĩa quan trọng nhằm định hướng nhận thức xã hội và góp phần bảo đảm an ninh tôn giáo trong bối cảnh hiện nay. Nghiên cứu làm rõ các yêu cầu đặt ra đối với hoạt động truyền thông chính sách trong quá trình xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), đồng thời, phân tích những kết quả đạt được và hạn chế trong truyền thông chính sách đối với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực thi trong thực tiễn.
Thực trạng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Thực trạng chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 2, ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Sau hơn 08 năm thi hành, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, một số chính sách, quy định pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện những thành công, hạn chế, bất cập để hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới là cần thiết. Nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất một số định hướng hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: