Thứ sáu 07/08/2026 16:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.

Từ khóa: phổ biến, giáo dục pháp luật; dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi); chuyển đổi số; chính quyền địa phương hai cấp; tổ chức thi hành pháp luật.

Đặt vấn đề

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và bảo đảm hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 được ban hành, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc triển khai thống nhất, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi cả nước. Sau hơn 13 năm thi hành, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đạt nhiều kết quả tích cực, từng bước đi vào nền nếp, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập, cần được rà soát, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn.

Thực hiện Chương trình lập pháp năm 2026, Bộ Tư pháp đã chủ trì xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), ngày 24/7/2026, Chính phủ đã trình Quốc hội dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[1]. Dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở 06 chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 128/NQ-CP[2]. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các nội dung sửa đổi của dự thảo Luật và tiếp tục kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa quan trọng nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới.

1. Sáu chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 13 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Nghị quyết số 128/NQ-CP đã thông qua 06 chính sách lớn của dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi). Các chính sách này tập trung xử lý những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, đồng thời, thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Dự thảo Luật gồm 05 chương với 39 điều (giữ nguyên số lượng chương và giảm 02 điều so với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012), trong đó, sửa đổi, hoàn thiện, cơ cấu lại nội dung của 40/41 điều, cơ bản giữ nguyên nội dung 01 điều về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bổ sung nhiều quy định mới về truyền thông chính sách, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phổ biến, giáo dục pháp luật, đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

1.1. Chính sách 1: phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước, thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật

Chính sách này được xây dựng nhằm khắc phục tình trạng trách nhiệm trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn phân tán, thiếu tính xuyên suốt giữa các khâu xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành pháp luật. Thực tiễn thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cho thấy, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong phổ biến, giáo dục pháp luật còn phân tán, chưa được phân định rõ ràng.

Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025[3], dự thảo Luật tiếp cận theo hướng xác lập trách nhiệm truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật từ giai đoạn đề xuất chính sách, soạn thảo dự thảo đến khi văn bản được ban hành và tổ chức thi hành. Nguyên tắc này được thể hiện trong quy định về nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách của dự thảo Luật khi xác định phải gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hoạt động khác trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo Luật là bổ sung và làm rõ trách nhiệm của các nhóm chủ thể trong hoạt động truyền thông chính sách và phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, gồm: xây dựng thông cáo báo chí, tài liệu giới thiệu về văn bản quy phạm pháp luật; biên soạn, đăng tải tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng Pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử của cơ quan mình trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày văn bản được công bố hoặc ký ban hành; cập nhật các tài liệu này; cử báo cáo viên pháp luật hoặc giới thiệu chuyên gia, người có trình độ chuyên môn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản do cơ quan mình chủ trì soạn thảo. Bên cạnh đó, trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán Nhà nước cũng được bổ sung, hoàn thiện nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong tổ chức thực hiện.

Đặc biệt, dự thảo Luật quy định một mục riêng về truyền thông chính sách, xác định đây là hoạt động cung cấp thông tin và tương tác hai chiều về chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình đề xuất và soạn thảo. Dự thảo Luật quy định mục đích, nội dung, hình thức truyền thông chính sách và trách nhiệm chủ trì thực hiện của cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; các cơ quan báo chí, phương tiện thông tin đại chúng chủ động hoặc phối hợp thực hiện truyền thông chính sách theo đúng mục đích, nội dung quy định. Đây là bước thể chế hóa kịp thời yêu cầu về đẩy mạnh truyền thông chính sách trong toàn bộ quá trình xây dựng và thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW[4], Kết luận số 09-KL/TW[5] của Bộ Chính trị và Kết luận số 80-KL/TW[6] của Ban Bí thư.

1.2. Chính sách 2: điều chỉnh cơ chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Chính sách này được xây dựng trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và yêu cầu tiếp tục đổi mới, tinh gọn tổ chức bộ máy. Trong khi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 vẫn thiết kế Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo mô hình ba cấp (trung ương, tỉnh, huyện), thì mô hình tổ chức chính quyền hiện nay đã có sự thay đổi, không còn cấp huyện. Cấp xã hiện nay có tính chất, quy mô khác với cấp xã trước đây và được phân cấp thực hiện nhiều nhiệm vụ từ cấp trên.

Theo dự thảo Luật, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục được tổ chức ở trung ương và cấp tỉnh. Đối với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương, người đứng đầu được trao quyền chủ động quyết định thành lập Hội đồng căn cứ tình hình thực tiễn. Đây là bước cụ thể hóa chủ trương đẩy mạnh phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước.

Đặc biệt, dự thảo Luật quy định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong tổ chức thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ tình hình thực tiễn của địa phương, quyết định việc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp mình theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Cách tiếp cận linh hoạt này vừa bảo đảm tính chủ động của chính quyền cơ sở, vừa phù hợp với yêu cầu tinh gọn bộ máy, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho thực tiễn đã hình thành ở nhiều địa phương trong thời gian qua. Chính phủ được giao quy định chi tiết để bảo đảm tính thống nhất trong triển khai thực hiện.

1.3. Chính sách 3: mở rộng đối tượng đặc thù và quy định chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đối tượng đặc thù

Chính sách này được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật đối với các nhóm đối tượng cần được ưu tiên hỗ trợ trong bối cảnh hiện nay. Thực tiễn thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cho thấy, phạm vi đối tượng đặc thù còn tương đối hẹp, trong khi cơ chế hỗ trợ và trách nhiệm của cơ quan quản lý đối tượng chưa thực sự rõ ràng.

Dự thảo Luật kế thừa các nhóm đối tượng đặc thù của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và bổ sung, chỉnh lý các nhóm mới: người dân cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo; người cao tuổi; người lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, người lao động có mức lương bằng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của pháp luật; người bị bạo lực, người có hành vi bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, bạo lực học đường hoặc bạo lực khác; nạn nhân của hành vi mua bán người; người bị phạt tù được hưởng án treo, người bị phạt cải tạo không giam giữ, người chấp hành xong hình phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng. Dự thảo Luật còn quy định theo hướng “mở”: “đối tượng khác có khó khăn, hạn chế trong tiếp cận pháp luật do Chính phủ quy định” để bảo đảm tính linh hoạt trong quá trình thực hiện.

Dự thảo Luật bổ sung các chính sách ưu tiên đối với đối tượng đặc thù: bảo đảm tiếp cận pháp luật thường xuyên; thiết kế nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với nhu cầu, trình độ, hoàn cảnh, ngôn ngữ của từng nhóm; xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo từng thời kỳ; tập huấn, bồi dưỡng cho báo cáo viên, tuyên truyền viên thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhóm đối tượng này. Dự thảo Luật cũng xác định trách nhiệm cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến từng nhóm đối tượng, chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội và doanh nghiệp sử dụng lao động là đối tượng đặc thù. Chính phủ được giao quy định chi tiết các nội dung này nhằm bảo đảm tính khả thi trong triển khai thực hiện.

Những sửa đổi này thể hiện sự chuyển biến trong tư duy xây dựng chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng không chỉ mở rộng phạm vi đối tượng thụ hưởng, mà còn từng bước chuyển từ hỗ trợ mang tính hình thức sang bảo đảm khả năng tiếp cận pháp luật thực chất, phù hợp với điều kiện, nhu cầu của từng nhóm đối tượng cụ thể.

1.4. Chính sách 4: đổi mới giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và bồi dưỡng pháp luật cho công chức, viên chức

Giáo dục pháp luật là nền tảng để hình thành ý thức pháp luật và văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. So với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, dự thảo Luật cụ thể hóa hơn trách nhiệm giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời, bổ sung yêu cầu bồi dưỡng pháp luật đối với công chức, viên chức.

Dự thảo Luật xác định rõ mục đích của giáo dục pháp luật là trang bị kiến thức pháp luật, nâng cao kỹ năng sử dụng pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật cho người học; giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua chương trình giáo dục chính khóa và giáo dục ngoại khóa.

Dự thảo Luật quy định nội dung giáo dục pháp luật chính khóa phải phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo; được lồng ghép trong chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; thiết kế thành môn học, học phần riêng hoặc tích hợp phù hợp trong các môn học, học phần khác tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; người học tại cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức pháp luật phù hợp với ngành, nghề đào tạo. Dự thảo Luật cũng phân định rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trong giáo dục pháp luật và giao Chính phủ quy định chi tiết.

Đặc biệt, dự thảo Luật quy định Nhà nước thực hiện bồi dưỡng kiến thức pháp luật, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật để nâng cao kỷ luật, kỷ cương, sự gương mẫu của công chức, viên chức trong hoạt động công vụ và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật - một nội dung mới so với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, thể chế hóa yêu cầu của Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng[7].

1.5. Chính sách 5: bổ sung quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số, truyền thông chính sách và ứng dụng công nghệ số

Chính sách này được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và sự thay đổi trong phương thức tiếp cận thông tin pháp luật của người dân, doanh nghiệp. Thực tiễn cho thấy, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng được thực hiện trên môi trường số thông qua các nền tảng trực tuyến, mạng xã hội và các công cụ ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 được xây dựng trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số chưa phát triển mạnh như hiện nay nên chưa có quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số và cơ chế quản lý đối với các hình thức cung cấp thông tin pháp luật mới.

Dự thảo Luật bổ sung quy định về chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phổ biến, giáo dục pháp luật: khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phổ biến, giáo dục pháp luật; yêu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật trên không gian mạng phải thông qua tài khoản đã được xác thực theo quy định; hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ứng dụng trí tuệ nhân tạo được quản lý theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Luật Trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó, cùng với hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua Cổng Pháp luật quốc gia, cổng, trang thông tin điện tử, báo chí, phương tiện thông tin đại chúng, dự thảo Luật bổ sung hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua “hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, các nền tảng số, ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo” để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho các phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật số đang triển khai rộng rãi trên thực tế.

Đồng thời, dự thảo Luật bổ sung nguyên tắc: việc phổ biến, giáo dục pháp luật phải bảo đảm không vi phạm quy định của pháp luật về an ninh mạng, an toàn thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân - thiết lập khung pháp lý an toàn cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên không gian số. Đặc biệt, dự thảo Luật bổ sung hành vi bị nghiêm cấm về sử dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo hoặc các phương tiện khác để tạo lập, phát tán thông tin, tài liệu giả mạo hoặc sai lệch về nội dung pháp luật, nội dung chính sách được truyền thông, nhằm xử lý tình trạng thông tin pháp luật sai lệch do trí tuệ nhân tạo tạo ra lan truyền trên không gian mạng, tiềm ẩn nguy cơ gây nhầm lẫn cho người dân. Những sửa đổi này cho thấy dự thảo Luật đang từng bước thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số và hướng tới hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, tổ chức và cung cấp thông tin pháp luật trên môi trường số.

1.6. Chính sách 6: hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực và xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Chính sách này được xây dựng nhằm xử lý những khó khăn về nguồn lực và cơ chế bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian qua. Thực tiễn thi hành Luật cho thấy, tại nhiều địa phương, kinh phí dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế và chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ ngày càng mở rộng. Cơ chế xã hội hóa tuy đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa đồng đều; việc huy động sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp và nguồn lực xã hội vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn gặp nhiều khó khăn.

Về bảo đảm nguồn lực, dự thảo Luật quy định kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm và huy động từ các nguồn hợp pháp khác; giao Chính phủ quy định chi tiết việc ưu tiên nguồn lực tương xứng cho phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đối tượng đặc thù. Dự thảo Luật cũng bổ sung chính sách Nhà nước bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phổ biến, giáo dục pháp luật, ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù, tích hợp, lồng ghép nguồn lực phổ biến, giáo dục pháp luật trong các chương trình, đề án có liên quan - thể chế hóa yêu cầu ưu tiên nguồn lực tương xứng của Nghị quyết số 66-NQ/TW. Về xã hội hóa, dự thảo Luật phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với tổ chức, cá nhân thực hiện xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Một điểm mới đáng chú ý là dự thảo Luật sửa đổi quy định về đội ngũ thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật mở rộng phạm vi báo cáo viên pháp luật theo hướng không chỉ giới hạn trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân mà gồm cả luật sư, luật gia; đồng thời, hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn, thẩm quyền lựa chọn, công bố danh sách, quyền và nghĩa vụ của báo cáo viên pháp luật, giao Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp quản lý, bảo đảm cho hoạt động của đội ngũ này. Tuyên truyền viên pháp luật được xác định là già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, có kiến thức, am hiểu về pháp luật, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lựa chọn, công bố danh sách trên địa bàn. Dự thảo Luật bổ sung quy định về chuyên gia, người có trình độ chuyên môn phù hợp, am hiểu pháp luật được cơ quan, tổ chức mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật - mở rộng nguồn lực tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ra ngoài đội ngũ công chức, viên chức; luật sư, luật gia, tư vấn viên pháp luật phát huy trách nhiệm xã hội và được khuyến khích tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật - huy động nguồn lực chuyên môn từ khu vực tư trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Dự thảo Luật quy định điều khoản chuyển tiếp, theo đó, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật đã được công nhận theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nếu đáp ứng tiêu chuẩn của Luật này được ưu tiên lựa chọn; trường hợp chưa đáp ứng tiêu chuẩn thì cơ quan, tổ chức quản lý rà soát, báo cáo người có thẩm quyền miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật, cho thôi tuyên truyền viên pháp luật trước ngày 01/7/2027. Bên cạnh đó, dự thảo Luật bổ sung cơ chế đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo định kỳ hoặc đột xuất, trong đó, hiệu quả hoạt động được đánh giá gắn với các tiêu chí về tiếp cận pháp luật, sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng và các nội dung khác phù hợp, nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả tổ chức thực hiện.

2. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật và tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới

Sau hơn 13 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, thực tiễn cho thấy, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của các quy định pháp luật, mà còn phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức thực hiện, sự phối hợp liên ngành, mức độ ứng dụng công nghệ số và khả năng bảo đảm nguồn lực trong quá trình triển khai. Vì vậy, bên cạnh hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, quá trình tổ chức thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trong thời gian tới sẽ đặt ra một số yêu cầu sau:

Thứ nhất, yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp cơ sở.

Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò của cấp xã trong tổ chức thi hành pháp luật và phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Dự thảo Luật trao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền chủ động trong tổ chức thực hiện và quyết định thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Tuy nhiên, sau sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều địa phương có thể đối mặt với áp lực gia tăng khối lượng công việc, trong khi năng lực, nhân lực và điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã chưa đồng đều. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế hướng dẫn, phối hợp và tăng cường năng lực tổ chức thực hiện cho cấp cơ sở.

Thứ hai, yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ, xuyên suốt giữa phổ biến, giáo dục pháp luật với xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, trong đó, cần quan tâm thực hiện truyền thông chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo sự đồng thuận xã hội trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về nội dung của chính sách; giúp người dân hiểu rõ ý nghĩa, lợi ích của chính sách để tự giác tuân thủ và thực hiện nghiêm túc sau khi ban hành; góp phần nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; định hướng dư luận, kịp thời đấu tranh, phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc chính sách, pháp luật.

Thứ ba, yêu cầu tăng cường chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm chất lượng và độ tin cậy của thông tin pháp luật trên môi trường số.

Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản phương thức tiếp cận thông tin pháp luật. Trong bối cảnh đó, việc bảo đảm tính chính xác, thống nhất, khả năng cập nhật và kiểm chứng của thông tin pháp luật trên môi trường số trở thành yêu cầu quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành Luật. Điều này đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện cơ chế kết nối, chia sẻ và chuẩn hóa dữ liệu pháp luật; tăng cường vai trò của Cổng Pháp luật quốc gia; đồng thời, nâng cao khả năng quản lý, xác thực và cung cấp thông tin pháp luật chính thống trên không gian mạng, ngăn chặn tình trạng thông tin pháp luật chưa được kiểm chứng hoặc thông tin sai lệch gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của thông tin và an ninh chính trị.

Thứ tư, yêu cầu bảo đảm kinh phí và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.

Việc mở rộng đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số và đa dạng hóa phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật kéo theo yêu cầu quan tâm bố trí kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó, ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù; bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật có trọng tâm, trọng điểm, hướng về cơ sở. Bên cạnh yêu cầu bảo đảm nguồn lực, quá trình triển khai Luật cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là kỹ năng truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật, ứng dụng công nghệ số, khả năng tương tác với người dân trên môi trường mạng và năng lực xử lý, cung cấp thông tin pháp luật trong bối cảnh số hóa.

Thứ năm, yêu cầu tăng cường tính tương tác và bảo đảm khả năng tiếp cận pháp luật thực chất.

Một trong những định hướng lớn, quan trọng của dự thảo Luật là lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều này đòi hỏi hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian tới không chỉ truyền đạt thông tin pháp luật theo phương thức một chiều mà cần tăng cường khả năng tương tác, tiếp nhận nhu cầu thông tin pháp luật và phản ánh từ thực tiễn. Nhu cầu tiếp cận pháp luật giữa các nhóm đối tượng khác nhau là rất khác nhau, đặc biệt là đối tượng đặc thù, yếu thế, nhóm có hạn chế trong tiếp cận công nghệ số. Vì vậy, quá trình tổ chức thi hành Luật đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đa dạng, linh hoạt và phù hợp hơn với từng nhóm đối tượng, địa bàn; phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Thứ sáu, yêu cầu nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật với thực tiễn đời sống và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật.

Dự thảo Luật đã mở rộng và đổi mới nhiều nội dung liên quan đến giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, để các quy định này phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục chú trọng các phương pháp giáo dục pháp luật gắn với trải nghiệm, tình huống thực tiễn và kỹ năng vận dụng pháp luật trong đời sống. Đồng thời, việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà cần được triển khai đồng bộ thông qua sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội. Đây sẽ là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tăng cường ý thức thượng tôn pháp luật trong xã hội.

Kết luận

Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là yêu cầu khách quan nhằm đáp ứng đòi hỏi của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật. Các nội dung sửa đổi không chỉ góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, mà còn tạo cơ sở để nâng cao chất lượng, hiệu quả tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội.

Để các mục tiêu của Luật được hiện thực hóa, cần tiếp tục cụ thể hóa, bảo đảm tính khả thi của các quy định, tăng cường nguồn lực tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả của các phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiện đại. Qua đó, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[1]. Kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP và Tờ trình tóm tắt số 432/TTr-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ.

[2]. Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 14/5/2026 của Chính phủ về chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

[3]. Luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15.

[4]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[5]. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[6]. Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân.

[7]. “Giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, coi trọng danh dự của cán bộ, đảng viên”, “tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2012), Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 ngày 20/6/2012.

2. Chính phủ (2026), Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.

3. Chính phủ (2026), Tờ trình số 431/TTr-CP và Tờ trình tóm tắt số 432/TTr-CP ngày 24/7/2026 về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi); Báo cáo số 433/BC-CP ngày 24/7/2026 tiếp thu, giải trình kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đối với dự án Luật.

4. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 14/5/2026 về chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

5. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

6. Bộ Chính trị (2026), Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

7. Ban Chấp hành Trung ương (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

8. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 5/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 5/2026

Trong tháng 5/2026, nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân, doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: