Thứ hai 21/09/2026 17:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.

Từ khóa: phổ biến, giáo dục pháp luật; dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi); chuyển đổi số; chính quyền địa phương hai cấp; tổ chức thi hành pháp luật.

Đặt vấn đề

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc đưa pháp luật vào cuộc sống, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật và bảo đảm hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật. Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 được ban hành, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc triển khai thống nhất, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trên phạm vi cả nước. Sau hơn 13 năm thi hành, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đạt nhiều kết quả tích cực, từng bước đi vào nền nếp, góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập, cần được rà soát, hoàn thiện cho phù hợp với thực tiễn.

Thực hiện Chương trình lập pháp năm 2026, Bộ Tư pháp đã chủ trì xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), ngày 24/7/2026, Chính phủ đã trình Quốc hội dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)[1]. Dự thảo Luật được xây dựng trên cơ sở 06 chính sách đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 128/NQ-CP[2]. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các nội dung sửa đổi của dự thảo Luật và tiếp tục kiến nghị hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa quan trọng nhằm góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới.

1. Sáu chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 13 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, Nghị quyết số 128/NQ-CP đã thông qua 06 chính sách lớn của dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi). Các chính sách này tập trung xử lý những vấn đề đặt ra từ thực tiễn thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, đồng thời, thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Dự thảo Luật gồm 05 chương với 39 điều (giữ nguyên số lượng chương và giảm 02 điều so với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012), trong đó, sửa đổi, hoàn thiện, cơ cấu lại nội dung của 40/41 điều, cơ bản giữ nguyên nội dung 01 điều về Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bổ sung nhiều quy định mới về truyền thông chính sách, chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phổ biến, giáo dục pháp luật, đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

1.1. Chính sách 1: phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước, thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật

Chính sách này được xây dựng nhằm khắc phục tình trạng trách nhiệm trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn phân tán, thiếu tính xuyên suốt giữa các khâu xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành pháp luật. Thực tiễn thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cho thấy, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong phổ biến, giáo dục pháp luật còn phân tán, chưa được phân định rõ ràng.

Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025[3], dự thảo Luật tiếp cận theo hướng xác lập trách nhiệm truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật từ giai đoạn đề xuất chính sách, soạn thảo dự thảo đến khi văn bản được ban hành và tổ chức thi hành. Nguyên tắc này được thể hiện trong quy định về nguyên tắc phổ biến, giáo dục pháp luật, truyền thông chính sách của dự thảo Luật khi xác định phải gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng với tổ chức thi hành pháp luật, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hoạt động khác trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Một trong những điểm mới quan trọng của dự thảo Luật là bổ sung và làm rõ trách nhiệm của các nhóm chủ thể trong hoạt động truyền thông chính sách và phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, gồm: xây dựng thông cáo báo chí, tài liệu giới thiệu về văn bản quy phạm pháp luật; biên soạn, đăng tải tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật trên Cổng Pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử của cơ quan mình trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày văn bản được công bố hoặc ký ban hành; cập nhật các tài liệu này; cử báo cáo viên pháp luật hoặc giới thiệu chuyên gia, người có trình độ chuyên môn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật về văn bản do cơ quan mình chủ trì soạn thảo. Bên cạnh đó, trách nhiệm của các cơ quan của Quốc hội, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán Nhà nước cũng được bổ sung, hoàn thiện nhằm bảo đảm tính đồng bộ trong tổ chức thực hiện.

Đặc biệt, dự thảo Luật quy định một mục riêng về truyền thông chính sách, xác định đây là hoạt động cung cấp thông tin và tương tác hai chiều về chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình đề xuất và soạn thảo. Dự thảo Luật quy định mục đích, nội dung, hình thức truyền thông chính sách và trách nhiệm chủ trì thực hiện của cơ quan lập đề xuất chính sách, cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; các cơ quan báo chí, phương tiện thông tin đại chúng chủ động hoặc phối hợp thực hiện truyền thông chính sách theo đúng mục đích, nội dung quy định. Đây là bước thể chế hóa kịp thời yêu cầu về đẩy mạnh truyền thông chính sách trong toàn bộ quá trình xây dựng và thi hành pháp luật theo Nghị quyết số 66-NQ/TW[4], Kết luận số 09-KL/TW[5] của Bộ Chính trị và Kết luận số 80-KL/TW[6] của Ban Bí thư.

1.2. Chính sách 2: điều chỉnh cơ chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Chính sách này được xây dựng trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và yêu cầu tiếp tục đổi mới, tinh gọn tổ chức bộ máy. Trong khi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 vẫn thiết kế Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật theo mô hình ba cấp (trung ương, tỉnh, huyện), thì mô hình tổ chức chính quyền hiện nay đã có sự thay đổi, không còn cấp huyện. Cấp xã hiện nay có tính chất, quy mô khác với cấp xã trước đây và được phân cấp thực hiện nhiều nhiệm vụ từ cấp trên.

Theo dự thảo Luật, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tiếp tục được tổ chức ở trung ương và cấp tỉnh. Đối với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức ở trung ương, người đứng đầu được trao quyền chủ động quyết định thành lập Hội đồng căn cứ tình hình thực tiễn. Đây là bước cụ thể hóa chủ trương đẩy mạnh phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước.

Đặc biệt, dự thảo Luật quy định trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong tổ chức thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn. Theo đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ tình hình thực tiễn của địa phương, quyết định việc thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp mình theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Cách tiếp cận linh hoạt này vừa bảo đảm tính chủ động của chính quyền cơ sở, vừa phù hợp với yêu cầu tinh gọn bộ máy, đồng thời, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho thực tiễn đã hình thành ở nhiều địa phương trong thời gian qua. Chính phủ được giao quy định chi tiết để bảo đảm tính thống nhất trong triển khai thực hiện.

1.3. Chính sách 3: mở rộng đối tượng đặc thù và quy định chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đối tượng đặc thù

Chính sách này được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật đối với các nhóm đối tượng cần được ưu tiên hỗ trợ trong bối cảnh hiện nay. Thực tiễn thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 cho thấy, phạm vi đối tượng đặc thù còn tương đối hẹp, trong khi cơ chế hỗ trợ và trách nhiệm của cơ quan quản lý đối tượng chưa thực sự rõ ràng.

Dự thảo Luật kế thừa các nhóm đối tượng đặc thù của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và bổ sung, chỉnh lý các nhóm mới: người dân cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo; người cao tuổi; người lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, người lao động có mức lương bằng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của pháp luật; người bị bạo lực, người có hành vi bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, bạo lực học đường hoặc bạo lực khác; nạn nhân của hành vi mua bán người; người bị phạt tù được hưởng án treo, người bị phạt cải tạo không giam giữ, người chấp hành xong hình phạt tù đang tái hòa nhập cộng đồng. Dự thảo Luật còn quy định theo hướng “mở”: “đối tượng khác có khó khăn, hạn chế trong tiếp cận pháp luật do Chính phủ quy định” để bảo đảm tính linh hoạt trong quá trình thực hiện.

Dự thảo Luật bổ sung các chính sách ưu tiên đối với đối tượng đặc thù: bảo đảm tiếp cận pháp luật thường xuyên; thiết kế nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với nhu cầu, trình độ, hoàn cảnh, ngôn ngữ của từng nhóm; xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo từng thời kỳ; tập huấn, bồi dưỡng cho báo cáo viên, tuyên truyền viên thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhóm đối tượng này. Dự thảo Luật cũng xác định trách nhiệm cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến từng nhóm đối tượng, chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội và doanh nghiệp sử dụng lao động là đối tượng đặc thù. Chính phủ được giao quy định chi tiết các nội dung này nhằm bảo đảm tính khả thi trong triển khai thực hiện.

Những sửa đổi này thể hiện sự chuyển biến trong tư duy xây dựng chính sách phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng không chỉ mở rộng phạm vi đối tượng thụ hưởng, mà còn từng bước chuyển từ hỗ trợ mang tính hình thức sang bảo đảm khả năng tiếp cận pháp luật thực chất, phù hợp với điều kiện, nhu cầu của từng nhóm đối tượng cụ thể.

1.4. Chính sách 4: đổi mới giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và bồi dưỡng pháp luật cho công chức, viên chức

Giáo dục pháp luật là nền tảng để hình thành ý thức pháp luật và văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. So với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, dự thảo Luật cụ thể hóa hơn trách nhiệm giáo dục pháp luật trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời, bổ sung yêu cầu bồi dưỡng pháp luật đối với công chức, viên chức.

Dự thảo Luật xác định rõ mục đích của giáo dục pháp luật là trang bị kiến thức pháp luật, nâng cao kỹ năng sử dụng pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật cho người học; giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua chương trình giáo dục chính khóa và giáo dục ngoại khóa.

Dự thảo Luật quy định nội dung giáo dục pháp luật chính khóa phải phù hợp với từng cấp học, trình độ đào tạo; được lồng ghép trong chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông; thiết kế thành môn học, học phần riêng hoặc tích hợp phù hợp trong các môn học, học phần khác tại các cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; người học tại cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp được trang bị kiến thức pháp luật phù hợp với ngành, nghề đào tạo. Dự thảo Luật cũng phân định rõ trách nhiệm của cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật trong giáo dục pháp luật và giao Chính phủ quy định chi tiết.

Đặc biệt, dự thảo Luật quy định Nhà nước thực hiện bồi dưỡng kiến thức pháp luật, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật để nâng cao kỷ luật, kỷ cương, sự gương mẫu của công chức, viên chức trong hoạt động công vụ và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật - một nội dung mới so với Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, thể chế hóa yêu cầu của Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng[7].

1.5. Chính sách 5: bổ sung quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số, truyền thông chính sách và ứng dụng công nghệ số

Chính sách này được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và sự thay đổi trong phương thức tiếp cận thông tin pháp luật của người dân, doanh nghiệp. Thực tiễn cho thấy, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng được thực hiện trên môi trường số thông qua các nền tảng trực tuyến, mạng xã hội và các công cụ ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 được xây dựng trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số chưa phát triển mạnh như hiện nay nên chưa có quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số và cơ chế quản lý đối với các hình thức cung cấp thông tin pháp luật mới.

Dự thảo Luật bổ sung quy định về chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phổ biến, giáo dục pháp luật: khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để phổ biến, giáo dục pháp luật; yêu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật trên không gian mạng phải thông qua tài khoản đã được xác thực theo quy định; hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ứng dụng trí tuệ nhân tạo được quản lý theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật và Luật Trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó, cùng với hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua Cổng Pháp luật quốc gia, cổng, trang thông tin điện tử, báo chí, phương tiện thông tin đại chúng, dự thảo Luật bổ sung hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua “hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, các nền tảng số, ứng dụng công nghệ số, mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo” để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho các phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật số đang triển khai rộng rãi trên thực tế.

Đồng thời, dự thảo Luật bổ sung nguyên tắc: việc phổ biến, giáo dục pháp luật phải bảo đảm không vi phạm quy định của pháp luật về an ninh mạng, an toàn thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ dữ liệu cá nhân - thiết lập khung pháp lý an toàn cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên không gian số. Đặc biệt, dự thảo Luật bổ sung hành vi bị nghiêm cấm về sử dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo hoặc các phương tiện khác để tạo lập, phát tán thông tin, tài liệu giả mạo hoặc sai lệch về nội dung pháp luật, nội dung chính sách được truyền thông, nhằm xử lý tình trạng thông tin pháp luật sai lệch do trí tuệ nhân tạo tạo ra lan truyền trên không gian mạng, tiềm ẩn nguy cơ gây nhầm lẫn cho người dân. Những sửa đổi này cho thấy dự thảo Luật đang từng bước thích ứng với yêu cầu chuyển đổi số và hướng tới hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, tổ chức và cung cấp thông tin pháp luật trên môi trường số.

1.6. Chính sách 6: hoàn thiện cơ chế bảo đảm nguồn lực và xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Chính sách này được xây dựng nhằm xử lý những khó khăn về nguồn lực và cơ chế bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian qua. Thực tiễn thi hành Luật cho thấy, tại nhiều địa phương, kinh phí dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế và chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ ngày càng mở rộng. Cơ chế xã hội hóa tuy đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa đồng đều; việc huy động sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp và nguồn lực xã hội vào công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn gặp nhiều khó khăn.

Về bảo đảm nguồn lực, dự thảo Luật quy định kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật do ngân sách nhà nước bảo đảm và huy động từ các nguồn hợp pháp khác; giao Chính phủ quy định chi tiết việc ưu tiên nguồn lực tương xứng cho phổ biến, giáo dục pháp luật đối với đối tượng đặc thù. Dự thảo Luật cũng bổ sung chính sách Nhà nước bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phổ biến, giáo dục pháp luật, ưu tiên phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù, tích hợp, lồng ghép nguồn lực phổ biến, giáo dục pháp luật trong các chương trình, đề án có liên quan - thể chế hóa yêu cầu ưu tiên nguồn lực tương xứng của Nghị quyết số 66-NQ/TW. Về xã hội hóa, dự thảo Luật phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh ban hành chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với tổ chức, cá nhân thực hiện xã hội hóa phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương.

Một điểm mới đáng chú ý là dự thảo Luật sửa đổi quy định về đội ngũ thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật. Dự thảo Luật mở rộng phạm vi báo cáo viên pháp luật theo hướng không chỉ giới hạn trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân mà gồm cả luật sư, luật gia; đồng thời, hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn, thẩm quyền lựa chọn, công bố danh sách, quyền và nghĩa vụ của báo cáo viên pháp luật, giao Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp quản lý, bảo đảm cho hoạt động của đội ngũ này. Tuyên truyền viên pháp luật được xác định là già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng, có kiến thức, am hiểu về pháp luật, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã lựa chọn, công bố danh sách trên địa bàn. Dự thảo Luật bổ sung quy định về chuyên gia, người có trình độ chuyên môn phù hợp, am hiểu pháp luật được cơ quan, tổ chức mời tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật - mở rộng nguồn lực tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật ra ngoài đội ngũ công chức, viên chức; luật sư, luật gia, tư vấn viên pháp luật phát huy trách nhiệm xã hội và được khuyến khích tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật - huy động nguồn lực chuyên môn từ khu vực tư trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Dự thảo Luật quy định điều khoản chuyển tiếp, theo đó, báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật đã được công nhận theo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 nếu đáp ứng tiêu chuẩn của Luật này được ưu tiên lựa chọn; trường hợp chưa đáp ứng tiêu chuẩn thì cơ quan, tổ chức quản lý rà soát, báo cáo người có thẩm quyền miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật, cho thôi tuyên truyền viên pháp luật trước ngày 01/7/2027. Bên cạnh đó, dự thảo Luật bổ sung cơ chế đánh giá hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo định kỳ hoặc đột xuất, trong đó, hiệu quả hoạt động được đánh giá gắn với các tiêu chí về tiếp cận pháp luật, sự hài lòng của đối tượng thụ hưởng và các nội dung khác phù hợp, nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả tổ chức thực hiện.

2. Một số vấn đề đặt ra trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật và tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn mới

Sau hơn 13 năm thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, thực tiễn cho thấy, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ phụ thuộc vào chất lượng của các quy định pháp luật, mà còn phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức thực hiện, sự phối hợp liên ngành, mức độ ứng dụng công nghệ số và khả năng bảo đảm nguồn lực trong quá trình triển khai. Vì vậy, bên cạnh hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, quá trình tổ chức thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trong thời gian tới sẽ đặt ra một số yêu cầu sau:

Thứ nhất, yêu cầu nâng cao năng lực tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp cơ sở.

Việc tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp đặt ra yêu cầu tăng cường vai trò của cấp xã trong tổ chức thi hành pháp luật và phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Dự thảo Luật trao Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền chủ động trong tổ chức thực hiện và quyết định thành lập Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương. Tuy nhiên, sau sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều địa phương có thể đối mặt với áp lực gia tăng khối lượng công việc, trong khi năng lực, nhân lực và điều kiện bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp xã chưa đồng đều. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế hướng dẫn, phối hợp và tăng cường năng lực tổ chức thực hiện cho cấp cơ sở.

Thứ hai, yêu cầu bảo đảm tính đồng bộ, xuyên suốt giữa phổ biến, giáo dục pháp luật với xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, trong đó, cần quan tâm thực hiện truyền thông chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm tạo sự đồng thuận xã hội trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật; cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về nội dung của chính sách; giúp người dân hiểu rõ ý nghĩa, lợi ích của chính sách để tự giác tuân thủ và thực hiện nghiêm túc sau khi ban hành; góp phần nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật; định hướng dư luận, kịp thời đấu tranh, phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc chính sách, pháp luật.

Thứ ba, yêu cầu tăng cường chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm chất lượng và độ tin cậy của thông tin pháp luật trên môi trường số.

Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản phương thức tiếp cận thông tin pháp luật. Trong bối cảnh đó, việc bảo đảm tính chính xác, thống nhất, khả năng cập nhật và kiểm chứng của thông tin pháp luật trên môi trường số trở thành yêu cầu quan trọng trong quá trình tổ chức thi hành Luật. Điều này đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện cơ chế kết nối, chia sẻ và chuẩn hóa dữ liệu pháp luật; tăng cường vai trò của Cổng Pháp luật quốc gia; đồng thời, nâng cao khả năng quản lý, xác thực và cung cấp thông tin pháp luật chính thống trên không gian mạng, ngăn chặn tình trạng thông tin pháp luật chưa được kiểm chứng hoặc thông tin sai lệch gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của thông tin và an ninh chính trị.

Thứ tư, yêu cầu bảo đảm kinh phí và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.

Việc mở rộng đối tượng phổ biến, giáo dục pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số và đa dạng hóa phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật kéo theo yêu cầu quan tâm bố trí kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật, trong đó, ưu tiên nguồn lực tương xứng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù; bảo đảm phổ biến, giáo dục pháp luật có trọng tâm, trọng điểm, hướng về cơ sở. Bên cạnh yêu cầu bảo đảm nguồn lực, quá trình triển khai Luật cũng đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là kỹ năng truyền thông chính sách, phổ biến, giáo dục pháp luật, ứng dụng công nghệ số, khả năng tương tác với người dân trên môi trường mạng và năng lực xử lý, cung cấp thông tin pháp luật trong bối cảnh số hóa.

Thứ năm, yêu cầu tăng cường tính tương tác và bảo đảm khả năng tiếp cận pháp luật thực chất.

Một trong những định hướng lớn, quan trọng của dự thảo Luật là lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Điều này đòi hỏi hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian tới không chỉ truyền đạt thông tin pháp luật theo phương thức một chiều mà cần tăng cường khả năng tương tác, tiếp nhận nhu cầu thông tin pháp luật và phản ánh từ thực tiễn. Nhu cầu tiếp cận pháp luật giữa các nhóm đối tượng khác nhau là rất khác nhau, đặc biệt là đối tượng đặc thù, yếu thế, nhóm có hạn chế trong tiếp cận công nghệ số. Vì vậy, quá trình tổ chức thi hành Luật đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng đa dạng, linh hoạt và phù hợp hơn với từng nhóm đối tượng, địa bàn; phát huy vai trò của người có uy tín, già làng, trưởng bản, chức sắc, chức việc tôn giáo trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Thứ sáu, yêu cầu nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật với thực tiễn đời sống và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật.

Dự thảo Luật đã mở rộng và đổi mới nhiều nội dung liên quan đến giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, để các quy định này phát huy hiệu quả trong thực tiễn, cần tiếp tục chú trọng các phương pháp giáo dục pháp luật gắn với trải nghiệm, tình huống thực tiễn và kỹ năng vận dụng pháp luật trong đời sống. Đồng thời, việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà cần được triển khai đồng bộ thông qua sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội. Đây sẽ là yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tăng cường ý thức thượng tôn pháp luật trong xã hội.

Kết luận

Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là yêu cầu khách quan nhằm đáp ứng đòi hỏi của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật. Các nội dung sửa đổi không chỉ góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, mà còn tạo cơ sở để nâng cao chất lượng, hiệu quả tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp và toàn xã hội.

Để các mục tiêu của Luật được hiện thực hóa, cần tiếp tục cụ thể hóa, bảo đảm tính khả thi của các quy định, tăng cường nguồn lực tổ chức thực hiện và phát huy hiệu quả của các phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiện đại. Qua đó, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp

Ảnh: Internet

[1]. Kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP và Tờ trình tóm tắt số 432/TTr-CP ngày 24/7/2024 của Chính phủ.

[2]. Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 14/5/2026 của Chính phủ về chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

[3]. Luật số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15.

[4]. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[5]. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

[6]. Kết luận số 80-KL/TW ngày 20/6/2020 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân.

[7]. “Giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trách nhiệm phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, coi trọng danh dự của cán bộ, đảng viên”, “tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Quốc hội (2012), Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 ngày 20/6/2012.

2. Chính phủ (2026), Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) trình Quốc hội kèm theo Tờ trình số 431/TTr-CP ngày 24/7/2026.

3. Chính phủ (2026), Tờ trình số 431/TTr-CP và Tờ trình tóm tắt số 432/TTr-CP ngày 24/7/2026 về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi); Báo cáo số 433/BC-CP ngày 24/7/2026 tiếp thu, giải trình kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đối với dự án Luật.

4. Chính phủ (2026), Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 14/5/2026 về chính sách của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi).

5. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

6. Bộ Chính trị (2026), Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

7. Ban Chấp hành Trung ương (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

8. Bộ Tư pháp (2026), Báo cáo số 400/BC-BTP ngày 08/6/2026 tổng kết việc thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật.

(Nguồn: Ấn phẩm chuyên sâu “Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới”, xuất bản năm 2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Xác định bản chất pháp lý của nghĩa vụ tài chính khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Tóm tắt: Xác định bản chất pháp lý của khoản tiền mà người sử dụng lao động phải trả khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm tính thống nhất của pháp luật lao động. Trên cơ sở phân tích Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ những bất cập trong xác định căn cứ phát sinh, thời gian tính trả và giới hạn áp dụng của nghĩa vụ tài chính này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật theo hướng xác định khoản tiền phải trả là nghĩa vụ tài chính mang tính trách nhiệm lao động đặc thù, đồng thời, bổ sung các tiêu chí về thời gian tính trả và giới hạn nghĩa vụ nhằm bảo đảm tính thống nhất và cân bằng lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế nhà nước - thị trường - xã hội

Tóm tắt: Xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội là yêu cầu quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; trong đó, không thể thiếu sự đóng góp của các doanh nghiệp. Trên cơ sở phân tích vai trò của doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế về mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; nghiên cứu đánh giá thực tiễn sự tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế những năm qua; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của các doanh nghiệp, với tư cách là một thành tố cơ bản trong xây dựng, phát triển đất nước và chủ thể đồng kiến tạo thể chế, phục vụ phát triển đất nước.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo dõi chúng tôi trên: