Thứ sáu 14/08/2026 21:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).

Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tiếp cận công nghiệp văn hóa từ góc độ phát triển một ngành kinh tế chiến lược theo chuỗi giá trị, đồng thời bảo đảm không quy định lại những nội dung đã được các luật chuyên ngành điều chỉnh và không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính không cần thiết. Luật không đặt mục tiêu giải quyết tất cả các vấn đề của từng ngành, mà tập trung vào những vấn đề liên ngành, then chốt, đã “chín” và có khả năng tạo ra động lực phát triển mới. Tinh thần chủ đạo được đặt ra trong quá trình xây dựng Luật là “chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế”[1].

Theo đó, dự thảo Luật dự kiến gồm 09 chương, 60 điều, hướng tới ba mục tiêu lớn: (i) Xác lập vị trí của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế Việt Nam; (ii) Kết nối chuỗi giá trị để gia tăng giá trị kinh tế, xuất khẩu và thu hút đầu tư chiến lược; (iii) Lan tỏa bản sắc văn hóa Việt Nam, thương hiệu Việt Nam và sức mạnh mềm Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, dự thảo tập trung vào 06 nhóm chính sách lớn: Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; nhân lực và nhân tài công nghiệp văn hóa; hạ tầng công nghiệp văn hóa; thị trường công nghiệp văn hóa; hỗ trợ tài chính và ưu đãi đầu tư.

Củng cố và phát triển toàn diện hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

Sự phát triển của công nghiệp văn hóa phụ thuộc chặt chẽ vào tính đồng bộ, liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay đang đối mặt với nhiều hạn chế lớn như: Sự thiếu kết nối và chia sẻ thông tin giữa các thành tố; rào cản về chi phí và công cụ công nghệ trong sáng tạo nội dung; sự thiếu hụt các kỹ năng số và hạ tầng dữ liệu dùng chung; cùng những rào cản pháp lý chưa kịp thích ứng với các mô hình kinh doanh, sản phẩm văn hóa công nghệ mới.

Trên cơ sở đó, dự thảo Luật đề xuất 04 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm định hình, củng cố và phát triển toàn diện hệ sinh thái công nghiệp văn hóa gồm:

(i) Định hình toàn diện hệ sinh thái và thiết lập cơ chế đánh giá, liên kết chuỗi giá trị với việc nhận diện và tập hợp đầy đủ các chủ thể tham gia chuỗi giá trị và hoạt động hỗ trợ từ cá nhân sáng tạo, hộ kinh doanh, doanh nghiệp, quỹ tài chính đến cơ sở đào tạo, hiệp hội và cơ quan nhà nước; đồng thời quy định định kỳ hàng năm đánh giá, công bố tình hình phát triển hệ sinh thái dựa trên chỉ tiêu thống kê chuyên ngành để làm căn cứ thực tiễn điều chỉnh, hoàn thiện chính sách.

(ii) Hỗ trợ toàn diện các hoạt động nền tảng của hệ sinh thái với việc tổ chức hệ thống thông tin liên kết về chủ trương, chính sách, pháp luật, số liệu thực trạng và xu hướng phát triển công nghiệp văn hóa trong nước lẫn quốc tế; sử dụng nguồn tài chính chuyên ngành hỗ trợ toàn diện từ bồi dưỡng kỹ năng, quản lý và định giá tài sản trí tuệ, chuyển đổi số, phát triển thương hiệu quốc gia đến quảng bá, xúc tiến xuất khẩu sản phẩm.

(iii) Đầu tư bộ công cụ sáng tạo, cấp gói cơ bản miễn phí cho toàn dân theo hướng mở rộng các hình thức đầu tư công, hợp tác công tư để vận hành bộ công cụ chuyên dụng cho toàn bộ quá trình sáng tạo, sản xuất, phân phối; kết nối kho học liệu chung và hệ thống đăng ký bản quyền; cung cấp miễn phí các dịch vụ hỗ trợ cơ bản cho mọi tổ chức, cá nhân, đồng thời khuyến khích xã hội hóa các dịch vụ giá trị gia tăng; khẳng định quyền sở hữu trí tuệ thuộc về người sáng tạo nội dung.

(iv) Thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho các mô hình văn hóa công nghệ mới với việc áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các sản phẩm, giải pháp công nghệ và mô hình kinh doanh mới khi chưa có quy định điều chỉnh hoặc quy định hiện hành chưa phù hợp. Giới hạn chặt chẽ phạm vi, địa bàn thử nghiệm và áp dụng cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý cho các chủ thể tham gia, cơ quan phê duyệt nếu tuân thủ đúng quy trình, không vụ lợi, nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo và tạo cơ sở hoàn thiện pháp luật.

Tháo gỡ triệt để các rào cản liên quan đến tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa

Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là yếu tố đột phá tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất, tạo động lực tăng trưởng quan trọng nhất của công nghiệp văn hóa, có thể tạo ra nhiều sản phẩm phái sinh. Hệ thống pháp luật hiện hành đã làm tương đối tốt nhiệm vụ bảo hộ quyền, tuy nhiên còn thiếu vắng các chính sách phát triển giá trị kinh tế của quyền đó, nghĩa là chưa có công cụ và hành lang pháp lý để giúp tài sản trí tuệ sinh ra tiền, trở thành vốn và lưu thông bình đẳng trên thị trường tài chính.

Từ thực tiễn này, dự thảo Luật đề xuất 04 nhóm giải pháp trọng tâm:

(i) Số hóa, định danh và chuẩn hóa quản lý tài sản trí tuệ với việc áp dụng mã định danh tài sản trí tuệ tương thích quốc tế để nhận diện, truy xuất và kết nối dữ liệu liên thông trên môi trường số. Chuẩn hóa hồ sơ tài sản trí tuệ dưới dạng số (gồm thông tin pháp lý, thông tin tài chính, thông tin hạn chế tiếp cận) làm nền tảng hỗ trợ định giá, giao dịch, bảo hộ và vay vốn tín dụng mà không làm thay đổi hay phát sinh quyền sở hữu trí tuệ.

(ii) Khai thông nguồn vốn và chính thức hóa giao dịch tài sản trí tuệ: Cho phép sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn làm tài sản bảo đảm. Giao Ngân hàng Nhà nước chủ trì xây dựng cơ chế quản lý rủi ro, bảo lãnh tín dụng, chia sẻ rủi ro và hướng dẫn các tổ chức tín dụng cấp vốn dựa trên giá trị tài sản trí tuệ hoặc quyền tài sản phát sinh; đồng thời cho phép tổ chức tín dụng sử dụng kết quả thẩm định giá chuyên nghiệp làm căn cứ xác định giá trị tài sản bảo đảm. Quy định ưu tiên tiếp tục khai thác, chuyển nhượng tài sản trí tuệ khi doanh nghiệp giải thể, phá sản nhằm duy trì chuỗi giá trị kinh tế.

(iii) Hỗ trợ công cụ quản lý sáng tạo và bảo hộ bản quyền. Trong đó cung cấp các công cụ số hỗ trợ xác thực chủ thể, lưu nhật ký sáng tạo có giá trị chứng cứ pháp lý, tự động lập hồ sơ và kết nối liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống định danh điện tử và sàn giao dịch tài sản trí tuệ. Nhà nước cung cấp miễn phí các công cụ hỗ trợ cơ bản cho người dân; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp phát triển các công cụ nâng cao theo cơ chế thị trường.

(iv) Nâng cao năng lực và bảo vệ pháp lý cho hoạt động định giá thông qua việc xây dựng phương pháp, tiêu chuẩn định giá phù hợp thông lệ quốc tế; tổ chức đào tạo chuyên sâu theo chuẩn WIPO cho thẩm định viên, luật sư, cán bộ tín dụng; công khai định kỳ cơ sở dữ liệu giá giao dịch thực tế để làm căn cứ tham chiếu; áp dụng cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho thẩm định viên và người phê duyệt kết quả định giá đối với các thiệt hại kinh tế phát sinh do biến động thị trường về sau, nếu đã thực hiện đúng chuẩn nghề nghiệp, đúng thẩm quyền, trung thực, khách quan và không vụ lợi.

Xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa

Lần đầu tiên, dự thảo Luật quy định việc xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa, phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các khung tham chiếu quốc tế, làm căn cứ chuẩn hóa toàn bộ hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực, với việc đề xuất 03 nhóm giải pháp đột phá:

(i) Đổi mới phát triển nhân lực trong hệ thống giáo dục quốc dân: Tăng cường giáo dục nghệ thuật từ cấp phổ thông để phát hiện sớm tài năng; đặc cách tuyển thẳng thí sinh có năng khiếu vào đại học, cao đẳng; ưu tiên mở các ngành liên ngành gắn với công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Công nhận các danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú đáp ứng tiêu chuẩn nhà giáo để trực tiếp giảng dạy; cho phép tính chuyên gia, nghệ sĩ từ doanh nghiệp tham gia đào tạo là giảng viên cơ hữu khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Đổi mới chương trình đào tạo mở, công nhận tín chỉ kỹ năng nghề, hỗ trợ học phí, chi phí sinh hoạt và kết nối doanh nghiệp bảo đảm việc làm cho người học; đồng thời cho phép cơ sở đào tạo gắn giảng dạy với dự án, xưởng sáng tác, studio, bảo tàng, nhà hát và phân chia minh bạch lợi ích tài sản trí tuệ từ hoạt động đào tạo.

(ii) Ươm mầm tài năng đỉnh cao: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển tài năng, bồi dưỡng năng khiếu theo từng thời kỳ; tập trung nguồn lực hỗ trợ toàn diện theo hình thức học bổng từ chi phí học tập, thực hành, nghiên cứu, cố vấn, đào tạo trong và ngoài nước đến bảo hộ tài sản trí tuệ cho các cá nhân xuất sắc có khả năng tạo tác động dẫn dắt thị trường.

(iii) Thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao: Áp dụng ưu đãi thuế thu nhập cá nhân, cơ chế lương thưởng cạnh tranh khu vực, hỗ trợ môi trường sống, làm việc, phương tiện đi lại, hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu, phát triển và hợp tác quốc tế đối với nhân lực trong và ngoài nước; cấp thẻ tạm trú thời hạn 05 năm cho chuyên gia nước ngoài và gia đình (vợ/chồng, con dưới 18 tuổi). Đặc biệt, đối với khu vực công, dự thảo Luật cho phép tiếp nhận vào công chức, viên chức không qua thi tuyển, bổ nhiệm lãnh đạo không phụ thuộc điều kiện thời gian công tác hay quy hoạch và mở cơ chế linh hoạt cho nhân lực chất lượng cao từ khu vực tư quay trở lại khu vực công được hưởng chế độ, chính sách về lương, phụ cấp, ngạch, hạng tương đương trước đây.

Tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ về hạ tầng công nghiệp văn hóa

Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, dự thảo Luật tiến thêm một bước quan trọng khi đưa ra quy định có tính chất “đặt tên” chính thức và đầy đủ cho các thành phần, tạo nên một hành lang pháp lý đồng bộ về hạ tầng công nghiệp văn hóa, bao gồm 04 nhóm thành phần cơ bản: Công trình hạ tầng công nghiệp văn hóa (bao gồm công trình quốc gia và công trình cấp tỉnh); tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; và hạ tầng văn hóa số.

Đối với hạ tầng văn hóa số, dự thảo Luật xác định hạ tầng dữ liệu là cấu phần cốt lõi và chuẩn hóa các nền tảng số quan trọng gồm: Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, cơ sở dữ liệu về văn hóa và hệ thống nền tảng số, phần mềm, công cụ kỹ thuật phục vụ tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ, phân tích, khai thác, sử dụng dữ liệu văn hóa số và hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, Dự thảo Luật đẩy mạnh phân cấp quản lý khi giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc chủ động số hóa, thu thập và cập nhật dữ liệu văn hóa tại địa phương.

Ngoài ra, dự thảo Luật còn thiết lập hệ thống các cơ chế, chính sách mang tính đột phá nhằm giải phóng tối đa nguồn lực và thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư xã hội.

Thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá

Sự phát triển của thị trường công nghiệp văn hóa đang đối mặt với nhiều rào cản lớn về việc thiếu thước đo định lượng để phân bổ nguồn lực; năng lực quản trị, năng lực số và thương hiệu của doanh nghiệp còn hạn chế; thiếu hạ tầng giao dịch và định giá tài sản trí tuệ; chi phí tiếp cận sản phẩm văn hóa của các đối tượng chính sách còn cao; cùng các rào cản trong hoạt động xúc tiến thương mại và vươn ra thị trường quốc.

Nhằm giải quyết các điểm nghẽn trên và thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá, dự thảo Luật đề xuất 05 nhóm giải pháp trọng tâm, cụ thể:

(i) Chuẩn hóa và định hình sản phẩm công nghiệp văn hóa mũi nhọn theo hướng đưa ra cơ sở định lượng về hàm lượng bản sắc Việt Nam dựa trên nội dung, chủ thể sáng tạo và quá trình sản xuất làm căn cứ áp dụng các chính sách ưu tiên, ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước. Xác định rõ các tiêu chí đối với tài sản trí tuệ gốc trọng điểm và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm.

(ii) Nâng cao năng lực doanh nghiệp và phát triển Thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia: Sử dụng nguồn tài chính chuyên biệt để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực số, chuyển đổi số, quản trị tài sản trí tuệ, an ninh mạng, quảng bá thương hiệu và chuyển đổi mô hình kinh doanh. Điều kiện thụ hưởng gắn chặt với việc phát triển sản phẩm trọng điểm, tài sản trí tuệ gốc hoặc sản phẩm giàu bản sắc Việt Nam. Đồng thời xây dựng, quảng bá hệ thống nhận diện thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các chợ nội dung, triển lãm, hội chợ quốc tế. Doanh nghiệp và sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia được ưu tiên bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, được sử dụng biểu trưng quốc gia và tham gia các sự kiện đối ngoại của Nhà nước.

(iii) Khai thông hạ tầng giao dịch tài sản trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa. Lần đầu tiên dự thảo Luật quy định các loại hình sàn giao dịch công nghiệp văn hóa; ban hành điều kiện niêm yết nghiêm ngặt đối với tài sản trí tuệ; bắt buộc kết nối dữ liệu điện tử giữa sàn giao dịch với Cơ sở dữ liệu quốc gia để tạo nguồn dữ liệu tham chiếu tin cậy phục vụ cấp tín dụng, góp vốn và định giá. Đồng thời, áp dụng chính sách ưu đãi thuế đối với thu nhập phát sinh từ các giao dịch trên sàn.

(iv) Thúc đẩy tiêu dùng văn hóa toàn dân qua công cụ số: Thiết lập Chương trình thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm văn hóa thông qua việc phát hành Thẻ văn hóa quốc gia dưới dạng điện tử, tích hợp trực tiếp trên tài khoản định danh điện tử. Dùng ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp để hỗ trợ chi phí tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ văn hóa Việt Nam cho học sinh, sinh viên, người có công, hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Dữ liệu tiêu dùng hình thành qua thẻ được dùng cho công tác thống kê và hoạch định chính sách.

(v) Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xuất khẩu văn hóa: Triển khai Chương trình xúc tiến công nghiệp văn hóa quốc gia kết nối đồng bộ với Chương trình thương hiệu quốc gia và các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp thông tin thị trường, chi phí tư vấn pháp lý, dịch thuật, bản địa hóa sản phẩm, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, phân phối trên các nền tảng số xuyên biên giới và kết nối hệ thống phân phối quốc tế.

Tạo đột phá về cơ chế tài chính và ưu đãi đầu tư

Dự thảo Luật đề xuất 05 nhóm giải pháp trọng tâm gồm:

(i) Đa dạng hóa nguồn tài chính và thiết lập cơ chế đồng đầu tư: Tối ưu hóa các nguồn ngân sách nhà nước như: Chi cho văn hóa, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chi đầu tư phát triển; kết hợp linh hoạt với Quỹ hỗ trợ đầu tư và nguồn lực tài chính từ các quỹ do Nhà nước hoặc khu vực tư nhân thành lập.

Ngoài ra, lần đầu tiên dự thảo Luật chính thức hóa cơ chế đồng đầu tư, cho phép cơ quan nhà nước cùng góp vốn, mua cổ phần hoặc chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân thông qua các hình thức góp vốn đối ứng, quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc hợp đồng chia sẻ doanh thu. Mục tiêu là tập trung nguồn lực phát triển các tài sản trí tuệ gốc trọng điểm, sản phẩm trọng điểm và sản phẩm đậm đà bản sắc Việt Nam trên nguyên tắc bảo toàn, phát triển vốn và không làm thay chức năng của thị trường.

(ii) Ưu đãi đặc biệt cho hạ tầng, tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo trên cơ sở xác định đầu tư xây dựng hạ tầng công nghiệp văn hóa là ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Các tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa được áp dụng ưu đãi tương đương địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật áp dụng chính sách miễn, giảm tiền thuê đất; hỗ trợ hạ tầng kết nối kỹ thuật, giao thông công cộng, nhà ở cho người lao động. Cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập quản lý di tích, danh lam thắng cảnh, bảo tàng trong tổ hợp sáng tạo được ưu tiên giữ lại phí thu được để tái đầu tư, tu bổ và phát triển công trình văn hóa.

(iii) Đòn bẩy hỗ trợ toàn diện cho tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân sáng tạo: Áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, vật tư chuyên dùng phục vụ sản xuất, sáng tạo nội dung mà trong nước chưa sản xuất được.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup văn hóa được ưu tiên tiếp cận vốn thông qua cơ chế bảo lãnh tín dụng dành riêng. Các cá nhân, hộ kinh doanh, nhóm sáng tạo được miễn, giảm phí sử dụng không gian sáng tạo, không gian trưng bày trong giai đoạn ươm tạo, đồng thời được hỗ trợ đào tạo kỹ năng, tư vấn khởi nghiệp, chuyển đổi số và ưu đãi kết nối tiêu thụ sản phẩm.

(iv) Chính sách ưu đãi vượt trội cho sản phẩm trọng điểm và tài sản trí tuệ cốt lõi: Đưa hoạt động sản xuất tài sản trí tuệ lõi trọng điểm và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm vào danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Trường hợp đáp ứng quy định sẽ được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt về thuế thu nhập doanh nghiệp và đất đai.

Doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất tài sản trí tuệ lõi và sản phẩm trọng điểm được áp dụng chế độ ưu tiên theo quy định của pháp luật về hải quan để tối ưu hóa quy trình sản xuất, xuất nhập khẩu.

(v) Thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và khuyến khích cơ sở công cộng với việc quy định rõ tiêu chí chọn lọc nhà đầu tư chiến lược nước ngoài (sở hữu IP quốc tế, công nghệ lõi, mạng lưới phân phối toàn cầu) đi kèm cam kết khai thác, phát triển tài sản trí tuệ Việt Nam và chuyển giao công nghệ. Nhà đầu tư chiến lược được hưởng gói ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (miễn 2 năm, giảm 50% trong 04 năm tiếp theo), miễn thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia, cùng cơ chế “một cửa” và hỗ trợ chi phí cho các đoàn quay phim bối cảnh Việt Nam, sự kiện văn hóa quốc tế.

Dự thảo Luật còn định hình và áp dụng chính sách ưu đãi đối với các cơ sở công nghiệp văn hóa công cộng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, cung cấp dịch vụ công và và cam kết tái đầu tư phần thu nhập không chia để tiếp tục phát triển ngành.

Ảnh: internet

Tài liệu tham khảo:

Tờ trình dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, https://chinhphu.vn/du-thao-vbqppl/du-thao-luat-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-7904.


[1] Bạch Dương, Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hoá: Ưu tiên cao nhất về chất lượng, https://bvhttdl.gov.vn/Pages/chi-tiet.aspx?url=/xay-dung-luat-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-uu-tien-cao-nhat-ve-chat-luong.htm.

Thùy Dung

Tin bài có thể bạn quan tâm

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.
Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Sự cần thiết xây dựng dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm triển khai thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức và Nhân dân, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của Đảng về đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, thực hiện mô hình quyền địa phương hai cấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, nhiều quy định của Luật bộc lộ những hạn chế, bất cập cả về nội dung và phương thức tổ chức thực hiện. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của việc xây dựng dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) (dự thảo Luật), qua đó, khẳng định sự cần thiết phải sửa đổi toàn diện Luật nhằm hoàn thiện thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường gắn kết giữa xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh chuyển đổi số, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm nâng cao hiệu quả quyền tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Tiêu chí kinh nghiệm hành nghề của giảng viên trong bảo đảm chất lượng đào tạo luật

Bài viết đề xuất hoàn thiện dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo hướng chuyển trọng tâm từ đánh giá kinh nghiệm hành nghề của từng giảng viên sang đánh giá năng lực của cơ sở giáo dục đại học trong việc tổ chức hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi): Tăng cường bảo đảm quyền hành nghề của luật sư và tôn trọng tính bảo mật trong hoạt động nghề nghiệp

Dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) (dự thảo Luật) đang được Bộ Tư pháp nghiên cứu xây dựng với nhiều nội dung đổi mới quan trọng. Bên cạnh việc sửa đổi các quy định về nguyên tắc quản lý luật sư, trách nhiệm quản lý nhà nước…, dự thảo Luật còn quy định cam kết về tôn trọng tính bảo mật, bảo đảm quyền hành nghề của luật sư. Đây là những nội dung có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng môi trường hành nghề minh bạch, chuyên nghiệp, nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý và phát huy vai trò của luật sư trong bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 5/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 5/2026

Trong tháng 5/2026, nhiều văn bản quy phạm pháp luật mới đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, tác động trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân, doanh nghiệp.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Những điểm mới đột phá của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2026 góp phần hoàn thiện thể chế, đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số

Ngày 23/4/2026, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 07/2026/QH16. Đạo luật này đã được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố số 07/2026/L-CTN ngày 26/4/2026 và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027. Việc ban hành Luật mới nhằm thay thế toàn bộ Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng, giải quyết triệt để những bất cập thực tiễn, đồng thời đáp ứng yêu cầu tinh gọn bộ máy chính quyền (02 cấp) và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia.
Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Luật sư và yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng trong hành nghề

Việc đặt ra yêu cầu luật sư phải có “bản lĩnh chính trị vững vàng” là vấn đề đang thu hút sự quan tâm lớn của giới hành nghề, giới nghiên cứu và cơ quan xây dựng pháp luật, nhất là khi dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) đã đặt trọng tâm vào chính sách xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: