Dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa tiếp cận công nghiệp văn hóa từ góc độ phát triển một ngành kinh tế chiến lược theo chuỗi giá trị, đồng thời bảo đảm không quy định lại những nội dung đã được các luật chuyên ngành điều chỉnh và không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính không cần thiết. Luật không đặt mục tiêu giải quyết tất cả các vấn đề của từng ngành, mà tập trung vào những vấn đề liên ngành, then chốt, đã “chín” và có khả năng tạo ra động lực phát triển mới. Tinh thần chủ đạo được đặt ra trong quá trình xây dựng Luật là “chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế”[1].
Theo đó, dự thảo Luật dự kiến gồm 09 chương, 60 điều, hướng tới ba mục tiêu lớn: (i) Xác lập vị trí của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế Việt Nam; (ii) Kết nối chuỗi giá trị để gia tăng giá trị kinh tế, xuất khẩu và thu hút đầu tư chiến lược; (iii) Lan tỏa bản sắc văn hóa Việt Nam, thương hiệu Việt Nam và sức mạnh mềm Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, dự thảo tập trung vào 06 nhóm chính sách lớn: Hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; nhân lực và nhân tài công nghiệp văn hóa; hạ tầng công nghiệp văn hóa; thị trường công nghiệp văn hóa; hỗ trợ tài chính và ưu đãi đầu tư.
Củng cố và phát triển toàn diện hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Sự phát triển của công nghiệp văn hóa phụ thuộc chặt chẽ vào tính đồng bộ, liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay đang đối mặt với nhiều hạn chế lớn như: Sự thiếu kết nối và chia sẻ thông tin giữa các thành tố; rào cản về chi phí và công cụ công nghệ trong sáng tạo nội dung; sự thiếu hụt các kỹ năng số và hạ tầng dữ liệu dùng chung; cùng những rào cản pháp lý chưa kịp thích ứng với các mô hình kinh doanh, sản phẩm văn hóa công nghệ mới.
Trên cơ sở đó, dự thảo Luật đề xuất 04 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm định hình, củng cố và phát triển toàn diện hệ sinh thái công nghiệp văn hóa gồm:
(i) Định hình toàn diện hệ sinh thái và thiết lập cơ chế đánh giá, liên kết chuỗi giá trị với việc nhận diện và tập hợp đầy đủ các chủ thể tham gia chuỗi giá trị và hoạt động hỗ trợ từ cá nhân sáng tạo, hộ kinh doanh, doanh nghiệp, quỹ tài chính đến cơ sở đào tạo, hiệp hội và cơ quan nhà nước; đồng thời quy định định kỳ hàng năm đánh giá, công bố tình hình phát triển hệ sinh thái dựa trên chỉ tiêu thống kê chuyên ngành để làm căn cứ thực tiễn điều chỉnh, hoàn thiện chính sách.
(ii) Hỗ trợ toàn diện các hoạt động nền tảng của hệ sinh thái với việc tổ chức hệ thống thông tin liên kết về chủ trương, chính sách, pháp luật, số liệu thực trạng và xu hướng phát triển công nghiệp văn hóa trong nước lẫn quốc tế; sử dụng nguồn tài chính chuyên ngành hỗ trợ toàn diện từ bồi dưỡng kỹ năng, quản lý và định giá tài sản trí tuệ, chuyển đổi số, phát triển thương hiệu quốc gia đến quảng bá, xúc tiến xuất khẩu sản phẩm.
(iii) Đầu tư bộ công cụ sáng tạo, cấp gói cơ bản miễn phí cho toàn dân theo hướng mở rộng các hình thức đầu tư công, hợp tác công tư để vận hành bộ công cụ chuyên dụng cho toàn bộ quá trình sáng tạo, sản xuất, phân phối; kết nối kho học liệu chung và hệ thống đăng ký bản quyền; cung cấp miễn phí các dịch vụ hỗ trợ cơ bản cho mọi tổ chức, cá nhân, đồng thời khuyến khích xã hội hóa các dịch vụ giá trị gia tăng; khẳng định quyền sở hữu trí tuệ thuộc về người sáng tạo nội dung.
(iv) Thiết lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) cho các mô hình văn hóa công nghệ mới với việc áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các sản phẩm, giải pháp công nghệ và mô hình kinh doanh mới khi chưa có quy định điều chỉnh hoặc quy định hiện hành chưa phù hợp. Giới hạn chặt chẽ phạm vi, địa bàn thử nghiệm và áp dụng cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý cho các chủ thể tham gia, cơ quan phê duyệt nếu tuân thủ đúng quy trình, không vụ lợi, nhằm khuyến khích đổi mới sáng tạo và tạo cơ sở hoàn thiện pháp luật.
Tháo gỡ triệt để các rào cản liên quan đến tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa
Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa là yếu tố đột phá tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất, tạo động lực tăng trưởng quan trọng nhất của công nghiệp văn hóa, có thể tạo ra nhiều sản phẩm phái sinh. Hệ thống pháp luật hiện hành đã làm tương đối tốt nhiệm vụ bảo hộ quyền, tuy nhiên còn thiếu vắng các chính sách phát triển giá trị kinh tế của quyền đó, nghĩa là chưa có công cụ và hành lang pháp lý để giúp tài sản trí tuệ sinh ra tiền, trở thành vốn và lưu thông bình đẳng trên thị trường tài chính.
Từ thực tiễn này, dự thảo Luật đề xuất 04 nhóm giải pháp trọng tâm:
(i) Số hóa, định danh và chuẩn hóa quản lý tài sản trí tuệ với việc áp dụng mã định danh tài sản trí tuệ tương thích quốc tế để nhận diện, truy xuất và kết nối dữ liệu liên thông trên môi trường số. Chuẩn hóa hồ sơ tài sản trí tuệ dưới dạng số (gồm thông tin pháp lý, thông tin tài chính, thông tin hạn chế tiếp cận) làm nền tảng hỗ trợ định giá, giao dịch, bảo hộ và vay vốn tín dụng mà không làm thay đổi hay phát sinh quyền sở hữu trí tuệ.
(ii) Khai thông nguồn vốn và chính thức hóa giao dịch tài sản trí tuệ: Cho phép sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn làm tài sản bảo đảm. Giao Ngân hàng Nhà nước chủ trì xây dựng cơ chế quản lý rủi ro, bảo lãnh tín dụng, chia sẻ rủi ro và hướng dẫn các tổ chức tín dụng cấp vốn dựa trên giá trị tài sản trí tuệ hoặc quyền tài sản phát sinh; đồng thời cho phép tổ chức tín dụng sử dụng kết quả thẩm định giá chuyên nghiệp làm căn cứ xác định giá trị tài sản bảo đảm. Quy định ưu tiên tiếp tục khai thác, chuyển nhượng tài sản trí tuệ khi doanh nghiệp giải thể, phá sản nhằm duy trì chuỗi giá trị kinh tế.
(iii) Hỗ trợ công cụ quản lý sáng tạo và bảo hộ bản quyền. Trong đó cung cấp các công cụ số hỗ trợ xác thực chủ thể, lưu nhật ký sáng tạo có giá trị chứng cứ pháp lý, tự động lập hồ sơ và kết nối liên thông với các cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống định danh điện tử và sàn giao dịch tài sản trí tuệ. Nhà nước cung cấp miễn phí các công cụ hỗ trợ cơ bản cho người dân; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp phát triển các công cụ nâng cao theo cơ chế thị trường.
(iv) Nâng cao năng lực và bảo vệ pháp lý cho hoạt động định giá thông qua việc xây dựng phương pháp, tiêu chuẩn định giá phù hợp thông lệ quốc tế; tổ chức đào tạo chuyên sâu theo chuẩn WIPO cho thẩm định viên, luật sư, cán bộ tín dụng; công khai định kỳ cơ sở dữ liệu giá giao dịch thực tế để làm căn cứ tham chiếu; áp dụng cơ chế miễn trừ trách nhiệm cho thẩm định viên và người phê duyệt kết quả định giá đối với các thiệt hại kinh tế phát sinh do biến động thị trường về sau, nếu đã thực hiện đúng chuẩn nghề nghiệp, đúng thẩm quyền, trung thực, khách quan và không vụ lợi.
Xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa
Lần đầu tiên, dự thảo Luật quy định việc xây dựng Khung năng lực nhân lực công nghiệp văn hóa, phù hợp với Khung trình độ quốc gia Việt Nam và các khung tham chiếu quốc tế, làm căn cứ chuẩn hóa toàn bộ hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển nguồn nhân lực, với việc đề xuất 03 nhóm giải pháp đột phá:
(i) Đổi mới phát triển nhân lực trong hệ thống giáo dục quốc dân: Tăng cường giáo dục nghệ thuật từ cấp phổ thông để phát hiện sớm tài năng; đặc cách tuyển thẳng thí sinh có năng khiếu vào đại học, cao đẳng; ưu tiên mở các ngành liên ngành gắn với công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Công nhận các danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú đáp ứng tiêu chuẩn nhà giáo để trực tiếp giảng dạy; cho phép tính chuyên gia, nghệ sĩ từ doanh nghiệp tham gia đào tạo là giảng viên cơ hữu khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Đổi mới chương trình đào tạo mở, công nhận tín chỉ kỹ năng nghề, hỗ trợ học phí, chi phí sinh hoạt và kết nối doanh nghiệp bảo đảm việc làm cho người học; đồng thời cho phép cơ sở đào tạo gắn giảng dạy với dự án, xưởng sáng tác, studio, bảo tàng, nhà hát và phân chia minh bạch lợi ích tài sản trí tuệ từ hoạt động đào tạo.
(ii) Ươm mầm tài năng đỉnh cao: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển tài năng, bồi dưỡng năng khiếu theo từng thời kỳ; tập trung nguồn lực hỗ trợ toàn diện theo hình thức học bổng từ chi phí học tập, thực hành, nghiên cứu, cố vấn, đào tạo trong và ngoài nước đến bảo hộ tài sản trí tuệ cho các cá nhân xuất sắc có khả năng tạo tác động dẫn dắt thị trường.
(iii) Thu hút và trọng dụng nhân lực chất lượng cao: Áp dụng ưu đãi thuế thu nhập cá nhân, cơ chế lương thưởng cạnh tranh khu vực, hỗ trợ môi trường sống, làm việc, phương tiện đi lại, hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu, phát triển và hợp tác quốc tế đối với nhân lực trong và ngoài nước; cấp thẻ tạm trú thời hạn 05 năm cho chuyên gia nước ngoài và gia đình (vợ/chồng, con dưới 18 tuổi). Đặc biệt, đối với khu vực công, dự thảo Luật cho phép tiếp nhận vào công chức, viên chức không qua thi tuyển, bổ nhiệm lãnh đạo không phụ thuộc điều kiện thời gian công tác hay quy hoạch và mở cơ chế linh hoạt cho nhân lực chất lượng cao từ khu vực tư quay trở lại khu vực công được hưởng chế độ, chính sách về lương, phụ cấp, ngạch, hạng tương đương trước đây.
Tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ về hạ tầng công nghiệp văn hóa
Trên cơ sở kế thừa các quy định hiện hành, dự thảo Luật tiến thêm một bước quan trọng khi đưa ra quy định có tính chất “đặt tên” chính thức và đầy đủ cho các thành phần, tạo nên một hành lang pháp lý đồng bộ về hạ tầng công nghiệp văn hóa, bao gồm 04 nhóm thành phần cơ bản: Công trình hạ tầng công nghiệp văn hóa (bao gồm công trình quốc gia và công trình cấp tỉnh); tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; và hạ tầng văn hóa số.
Đối với hạ tầng văn hóa số, dự thảo Luật xác định hạ tầng dữ liệu là cấu phần cốt lõi và chuẩn hóa các nền tảng số quan trọng gồm: Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia, cơ sở dữ liệu về văn hóa và hệ thống nền tảng số, phần mềm, công cụ kỹ thuật phục vụ tạo lập, chuẩn hóa, quản trị, lưu trữ, kết nối, chia sẻ, phân tích, khai thác, sử dụng dữ liệu văn hóa số và hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời, Dự thảo Luật đẩy mạnh phân cấp quản lý khi giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc chủ động số hóa, thu thập và cập nhật dữ liệu văn hóa tại địa phương.
Ngoài ra, dự thảo Luật còn thiết lập hệ thống các cơ chế, chính sách mang tính đột phá nhằm giải phóng tối đa nguồn lực và thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư xã hội.
Thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá
Sự phát triển của thị trường công nghiệp văn hóa đang đối mặt với nhiều rào cản lớn về việc thiếu thước đo định lượng để phân bổ nguồn lực; năng lực quản trị, năng lực số và thương hiệu của doanh nghiệp còn hạn chế; thiếu hạ tầng giao dịch và định giá tài sản trí tuệ; chi phí tiếp cận sản phẩm văn hóa của các đối tượng chính sách còn cao; cùng các rào cản trong hoạt động xúc tiến thương mại và vươn ra thị trường quốc.
Nhằm giải quyết các điểm nghẽn trên và thúc đẩy thị trường công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá, dự thảo Luật đề xuất 05 nhóm giải pháp trọng tâm, cụ thể:
(i) Chuẩn hóa và định hình sản phẩm công nghiệp văn hóa mũi nhọn theo hướng đưa ra cơ sở định lượng về hàm lượng bản sắc Việt Nam dựa trên nội dung, chủ thể sáng tạo và quá trình sản xuất làm căn cứ áp dụng các chính sách ưu tiên, ưu đãi và hỗ trợ của Nhà nước. Xác định rõ các tiêu chí đối với tài sản trí tuệ gốc trọng điểm và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm.
(ii) Nâng cao năng lực doanh nghiệp và phát triển Thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia: Sử dụng nguồn tài chính chuyên biệt để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực số, chuyển đổi số, quản trị tài sản trí tuệ, an ninh mạng, quảng bá thương hiệu và chuyển đổi mô hình kinh doanh. Điều kiện thụ hưởng gắn chặt với việc phát triển sản phẩm trọng điểm, tài sản trí tuệ gốc hoặc sản phẩm giàu bản sắc Việt Nam. Đồng thời xây dựng, quảng bá hệ thống nhận diện thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia; hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các chợ nội dung, triển lãm, hội chợ quốc tế. Doanh nghiệp và sản phẩm đạt thương hiệu quốc gia được ưu tiên bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, được sử dụng biểu trưng quốc gia và tham gia các sự kiện đối ngoại của Nhà nước.
(iii) Khai thông hạ tầng giao dịch tài sản trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa. Lần đầu tiên dự thảo Luật quy định các loại hình sàn giao dịch công nghiệp văn hóa; ban hành điều kiện niêm yết nghiêm ngặt đối với tài sản trí tuệ; bắt buộc kết nối dữ liệu điện tử giữa sàn giao dịch với Cơ sở dữ liệu quốc gia để tạo nguồn dữ liệu tham chiếu tin cậy phục vụ cấp tín dụng, góp vốn và định giá. Đồng thời, áp dụng chính sách ưu đãi thuế đối với thu nhập phát sinh từ các giao dịch trên sàn.
(iv) Thúc đẩy tiêu dùng văn hóa toàn dân qua công cụ số: Thiết lập Chương trình thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm văn hóa thông qua việc phát hành Thẻ văn hóa quốc gia dưới dạng điện tử, tích hợp trực tiếp trên tài khoản định danh điện tử. Dùng ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp để hỗ trợ chi phí tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ văn hóa Việt Nam cho học sinh, sinh viên, người có công, hộ nghèo và các đối tượng chính sách. Dữ liệu tiêu dùng hình thành qua thẻ được dùng cho công tác thống kê và hoạch định chính sách.
(v) Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và xuất khẩu văn hóa: Triển khai Chương trình xúc tiến công nghiệp văn hóa quốc gia kết nối đồng bộ với Chương trình thương hiệu quốc gia và các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp thông tin thị trường, chi phí tư vấn pháp lý, dịch thuật, bản địa hóa sản phẩm, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài, phân phối trên các nền tảng số xuyên biên giới và kết nối hệ thống phân phối quốc tế.
Tạo đột phá về cơ chế tài chính và ưu đãi đầu tư
Dự thảo Luật đề xuất 05 nhóm giải pháp trọng tâm gồm:
(i) Đa dạng hóa nguồn tài chính và thiết lập cơ chế đồng đầu tư: Tối ưu hóa các nguồn ngân sách nhà nước như: Chi cho văn hóa, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chi đầu tư phát triển; kết hợp linh hoạt với Quỹ hỗ trợ đầu tư và nguồn lực tài chính từ các quỹ do Nhà nước hoặc khu vực tư nhân thành lập.
Ngoài ra, lần đầu tiên dự thảo Luật chính thức hóa cơ chế đồng đầu tư, cho phép cơ quan nhà nước cùng góp vốn, mua cổ phần hoặc chia sẻ rủi ro với khu vực tư nhân thông qua các hình thức góp vốn đối ứng, quỹ đầu tư mạo hiểm hoặc hợp đồng chia sẻ doanh thu. Mục tiêu là tập trung nguồn lực phát triển các tài sản trí tuệ gốc trọng điểm, sản phẩm trọng điểm và sản phẩm đậm đà bản sắc Việt Nam trên nguyên tắc bảo toàn, phát triển vốn và không làm thay chức năng của thị trường.
(ii) Ưu đãi đặc biệt cho hạ tầng, tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo trên cơ sở xác định đầu tư xây dựng hạ tầng công nghiệp văn hóa là ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Các tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa được áp dụng ưu đãi tương đương địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Bên cạnh đó, dự thảo Luật áp dụng chính sách miễn, giảm tiền thuê đất; hỗ trợ hạ tầng kết nối kỹ thuật, giao thông công cộng, nhà ở cho người lao động. Cho phép các đơn vị sự nghiệp công lập quản lý di tích, danh lam thắng cảnh, bảo tàng trong tổ hợp sáng tạo được ưu tiên giữ lại phí thu được để tái đầu tư, tu bổ và phát triển công trình văn hóa.
(iii) Đòn bẩy hỗ trợ toàn diện cho tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân sáng tạo: Áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, vật tư chuyên dùng phục vụ sản xuất, sáng tạo nội dung mà trong nước chưa sản xuất được.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa, startup văn hóa được ưu tiên tiếp cận vốn thông qua cơ chế bảo lãnh tín dụng dành riêng. Các cá nhân, hộ kinh doanh, nhóm sáng tạo được miễn, giảm phí sử dụng không gian sáng tạo, không gian trưng bày trong giai đoạn ươm tạo, đồng thời được hỗ trợ đào tạo kỹ năng, tư vấn khởi nghiệp, chuyển đổi số và ưu đãi kết nối tiêu thụ sản phẩm.
(iv) Chính sách ưu đãi vượt trội cho sản phẩm trọng điểm và tài sản trí tuệ cốt lõi: Đưa hoạt động sản xuất tài sản trí tuệ lõi trọng điểm và sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm vào danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư. Trường hợp đáp ứng quy định sẽ được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt về thuế thu nhập doanh nghiệp và đất đai.
Doanh nghiệp thực hiện dự án sản xuất tài sản trí tuệ lõi và sản phẩm trọng điểm được áp dụng chế độ ưu tiên theo quy định của pháp luật về hải quan để tối ưu hóa quy trình sản xuất, xuất nhập khẩu.
(v) Thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và khuyến khích cơ sở công cộng với việc quy định rõ tiêu chí chọn lọc nhà đầu tư chiến lược nước ngoài (sở hữu IP quốc tế, công nghệ lõi, mạng lưới phân phối toàn cầu) đi kèm cam kết khai thác, phát triển tài sản trí tuệ Việt Nam và chuyển giao công nghệ. Nhà đầu tư chiến lược được hưởng gói ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (miễn 2 năm, giảm 50% trong 04 năm tiếp theo), miễn thuế thu nhập cá nhân cho chuyên gia, cùng cơ chế “một cửa” và hỗ trợ chi phí cho các đoàn quay phim bối cảnh Việt Nam, sự kiện văn hóa quốc tế.
Dự thảo Luật còn định hình và áp dụng chính sách ưu đãi đối với các cơ sở công nghiệp văn hóa công cộng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, cung cấp dịch vụ công và và cam kết tái đầu tư phần thu nhập không chia để tiếp tục phát triển ngành.
Ảnh: internet
Tài liệu tham khảo:
Tờ trình dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, https://chinhphu.vn/du-thao-vbqppl/du-thao-luat-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-7904.
[1] Bạch Dương, Xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hoá: Ưu tiên cao nhất về chất lượng, https://bvhttdl.gov.vn/Pages/chi-tiet.aspx?url=/xay-dung-luat-phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-uu-tien-cao-nhat-ve-chat-luong.htm.