Chủ nhật 06/09/2026 23:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW

Lịch sử kiến tạo và phát triển của các quốc gia trên thế giới đều minh chứng: những giai đoạn hưng thịnh nhất, sự phát triển vượt bậc về kinh tế và vị thế địa chính trị luôn gắn liền với các giá trị văn hóa. Trong bối cảnh thế giới đang chứng kiến những biến động chưa từng có, sự cạnh tranh giữa các cường quốc không chỉ đơn thuần ở sức mạnh quân sự hay quy mô thương mại, mà chuyển dịch mạnh mẽ sang cạnh tranh về hệ giá trị, sức ảnh hưởng và sức mạnh của nền công nghiệp văn hóa. Nhận thức rõ thời cơ cũng như thách thức đó, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, một Đại hội mang tính bản lề đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Bộ Chính trị đã ban hành một quyết sách lịch sử: Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW
Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

Nhìn lại chặng đường lãnh đạo của Đảng trong phát triển nền văn hóa nước nhà, từ Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943[1], qua Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 16/7/1998, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đến Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, tư duy lý luận của Đảng ta về văn hóa luôn có sự vận động, kế thừa và phát triển không ngừng. Sự ra đời của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hoá Việt Nam (Nghị quyết số 80-NQ/TW) đánh dấu một bước ngoặt mang tính cách mạng, một sự đột phá về tư duy chiến lược.

Nếu như trong các giai đoạn trước, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, thì nay, lần đầu tiên trong văn kiện của Đảng, văn hóa được nâng tầm và định vị là nguồn lực quan trọng, động lực to lớn, trụ cột và đặc biệt là hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Sự ngang tầm của văn hóa so với chính trị, kinh tế và xã hội không chỉ là sự thay đổi về ngôn từ chính trị, mà hàm chứa mệnh lệnh hành động, đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản về thể chế, phân bổ nguồn lực và phương thức quản trị quốc gia. Đưa văn hóa đi trước soi đường, thấm sâu vào từng quyết sách phát triển, lấy con người làm trọng tâm, biến kho tàng di sản đồ sộ thành tài sản kinh tế và kiến tạo vững chắc chủ quyền văn hóa số trên không gian mạng là những nội hàm mang tính đột phá mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đề ra.

Dưới góc độ lập pháp, để hệ điều tiết thực sự đi vào đời sống, các chuẩn mực văn hóa từng bước được thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật cụ thể, đặc biệt, trong việc định hình đạo đức công vụ và minh bạch hóa nền hành chính. Sự giao thoa chặt chẽ giữa thiết chế “cứng” của luật pháp và thiết chế “mềm” của văn hóa tạo ra màng lọc tối ưu, lấp đầy khoảng trống pháp lý nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách tự giác, thay vì thuần túy dựa vào sự cưỡng chế của nhà nước.

Từ “chi cho văn hóa” đến “đầu tư cho văn hóa”

Sự thay đổi trong Nghị quyết số 80-NQ/TW xuất phát từ đòi hỏi khách quan và cấp thiết của thực tiễn khi Việt Nam đang tăng tốc hướng tới các cột mốc trọng đại của dân tộc: kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (năm 2030) và 100 năm thành lập Nước (năm 2045). Nghị quyết số 80-NQ/TW ra đời trong bối cảnh đặc biệt khi năm 2025, Đảng ta đã ban hành 07 nghị quyết[2] mang ý nghĩa đột phá chiến lược trên tất cả các lĩnh vực trọng yếu, tạo thành hệ sinh thái chính sách đồng bộ đưa đất nước bứt phá.

Xuyên suốt nhiều thập kỷ quản lý nhà nước về văn hóa, một trong những “điểm nghẽn” lớn nhất khiến ngành văn hóa khó đo lường hiệu quả là sự định hướng chung chung, thiếu các bộ chỉ số định lượng cụ thể, dẫn đến tình trạng đầu tư dàn trải, khó đánh giá. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã khắc phục và hạn chế “điểm nghẽn” này bằng cách thiết lập hệ thống các mục tiêu có thể lượng hóa rõ ràng, gắn chặt sự hưng thịnh của văn hóa với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hoá quốc gia, bảo đảm 100% chính quyền địa phương hai cấp, lực lượng vũ trang có thiết chế văn hóa đáp ứng được nhu cầu sáng tạo, thụ hưởng văn hóa của người dân ở cơ sở và cán bộ, chiến sĩ, 90% thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả.

Thứ hai, phấn đấu hoàn thành việc số hóa 100% các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt vào năm 2026.

Thứ ba, 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Thứ tư, bảo đảm nguồn lực tương xứng cho phát triển văn hóa; bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hoá và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn; ban hành cơ chế tài chính để ưu tiên thực hiện trong 03 lĩnh vực đột phá: đào tạo và đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa và đặt hàng sáng tạo các công trình văn hóa, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng, nội dung và nghệ thuật, xứng tầm với nền văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Thực hiện chủ trương xã hội hóa văn hóa đúng hướng, hiệu quả; đấu tranh khắc phục khuynh hướng “thương mại hóa”, chỉ coi trọng, đề cao một chiều lợi ích kinh tế trong hoạt động văn hoá, coi nhẹ lợi ích xã hội, nhân văn.

Thứ năm, phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 - 10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang,...

Thứ sáu, xây dựng thành công 05 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hoá quốc tế về điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật. Thành lập thêm từ 01 - 03 trung tâm văn hoá Việt Nam tại nước ngoài, ưu tiên các địa bàn đối tác chiến lược toàn diện. Phấn đấu thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh.

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.

Mục tiêu “bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn” là bước ngoặt mang tính cách mạng về cơ chế tài chính. Trong giai đoạn 2018 - 2022, trung bình ngân sách nhà nước dành cho lĩnh vực văn hóa ở mức 1,57% trong tổng chi thường xuyên, tương đương khoảng 10.500 tỷ đồng/năm[3]. Việc nâng tỷ lệ đầu tư lên mức tối thiểu 2%, đồng thời, xác lập cơ chế điều chỉnh tăng theo yêu cầu phát triển, không đơn thuần là gia tăng về nguồn lực tài chính, mà còn thể hiện sự thay đổi căn bản trong nhận thức về vị trí, vai trò của văn hóa trong chiến lược phát triển quốc gia.

Đặc biệt, định hướng này được Quốc hội thể chế hóa thông qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, qua đó, tạo lập khuôn khổ tài chính có tính cam kết và ràng buộc pháp lý cao hơn đối với đầu tư cho văn hóa. Cùng với việc gia tăng đầu tư công, mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% GDP vào năm 2045 tạo nên một sự thay đổi quan trọng trong cách nhìn về kinh tế văn hóa. Văn hóa không còn được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ một lĩnh vực cần ngân sách để duy trì hoạt động hoặc đáp ứng các nhu cầu tinh thần, mà từng bước được xác lập như một động lực tăng trưởng, một ngành kinh tế giàu tiềm năng và một trụ cột của sức mạnh quốc gia. Từ nguồn lực sáng tạo, bản sắc và di sản văn hóa, công nghiệp văn hóa có thể tạo ra giá trị gia tăng, việc làm chất lượng cao, sản phẩm và thương hiệu có sức lan tỏa, qua đó, đóng góp trực tiếp vào năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và sức hấp dẫn của Việt Nam trên trường quốc tế.

Phát triển kinh tế văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa văn hóa một cách xô bồ, chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt. Nghị quyết số 80-NQ/TW xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển văn hóa và xây dựng con người trong kỷ nguyên mới: phát triển văn hóa hướng tới hoàn thiện nhân cách con người, đồng thời, xây dựng con người trở thành chủ thể của quá trình sáng tạo và phát triển văn hóa. Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm không chỉ dừng ở việc tạo ra những sản phẩm văn hóa có giá trị kinh tế, mà trước hết phải tạo lập môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại; phát triển toàn diện văn hóa và con người Việt Nam trên nền tảng các hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Trong quá trình ấy, cần tiếp tục bồi đắp truyền thống yêu nước, bản lĩnh, trí tuệ, tinh thần tự chủ, tự cường dân tộc; đồng thời, đề cao đạo đức, tài năng, sức sáng tạo và khát vọng cống hiến vì một Việt Nam phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

Quan điểm này đặt ra yêu cầu hài hòa giữa khai thác giá trị kinh tế của văn hóa với bảo tồn, bồi đắp các giá trị tinh thần và chuẩn mực xã hội. Kinh tế văn hóa chỉ thực sự phát triển bền vững khi những giá trị kinh tế được tạo ra từ văn hóa, đồng thời, góp phần nuôi dưỡng đời sống tinh thần, nâng cao chất lượng con người và củng cố nền tảng văn hóa của xã hội. Vì vậy, không thể đánh đổi bản sắc, tính nhân văn hay các giá trị cốt lõi của dân tộc để chạy theo thị hiếu thị trường hoặc lợi ích thương mại thuần túy.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi các dòng chảy văn hóa xuyên biên giới ngày càng mạnh mẽ, sự giao thoa, tiếp biến và cả những xung đột về giá trị diễn ra ngày càng sâu sắc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trở thành yêu cầu có ý nghĩa chiến lược. Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu triển khai đồng bộ, nhuần nhuyễn bốn hệ giá trị cấu thành nền tảng tinh thần của quốc gia, gồm hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Điểm quan trọng không chỉ nằm ở việc xác lập các hệ giá trị, mà còn ở khả năng chuyển hóa những giá trị ấy thành chuẩn mực ứng xử, lối sống, phương thức sáng tạo và hành động cụ thể trong đời sống xã hội.

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW
Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Trịnh Thị Thủy đọc Tờ trình dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam tại trong Phiên họp toàn thể lần thứ I, Quốc hội khóa XVI của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.

Thể chế hóa chủ trương này, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội quy định ngày 24/11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam. Đây không chỉ một dấu mốc mang tính biểu tượng, mà còn thể hiện cách tiếp cận lấy người dân làm trung tâm của chính sách văn hóa. Việc quy định người lao động được nghỉ làm việc hưởng nguyên lương, đồng thời, có chính sách miễn, giảm phí tham quan tại các cơ sở văn hóa công lập, tạo thêm điều kiện để người dân dành thời gian tiếp cận, trải nghiệm, thụ hưởng và thực hành văn hóa. Qua đó, văn hóa không chỉ hiện diện trong các thiết chế hay sự kiện chuyên biệt, mà từng bước trở thành một phần tự nhiên, thiết thực của đời sống, góp phần hình thành môi trường xã hội văn minh và nuôi dưỡng những giá trị tốt đẹp trong mỗi con người Việt Nam.

Gỡ “nút thắt” thể chế, đánh thức nguồn lực xã hội

Mặc dù ngân sách nhà nước được bảo đảm ở mức 2% hoặc cao hơn, tuy nhiên, xét cho cùng, nguồn lực công chỉ có thể đóng vai trò “vốn mồi”, tạo nền tảng và dẫn dắt thị trường. Muốn bứt phá về công nghiệp văn hóa, đồng thời, hình thành những thiết chế và hạ tầng văn hóa quy mô lớn, hiện đại, cần khơi thông mạnh mẽ nguồn lực từ khu vực tư nhân. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, điểm nghẽn không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn, mà trước hết ở những hạn chế, chồng chéo và thiếu đồng bộ của thể chế, khiến nguồn lực xã hội chưa được huy động và phát huy tương xứng với tiềm năng văn hóa của đất nước.

Nghị quyết số 80-NQ/TW mở ra hướng tiếp cận có tính khai phóng, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế đặc thù, đột phá thúc đẩy hợp tác công - tư (PPP) trong lĩnh vực văn hóa, trong đó, nghiên cứu, triển khai các mô hình như “lãnh đạo công - quản trị tư”, “đầu tư công - quản lý tư” và “đầu tư tư - sử dụng công” đối với một số thiết chế văn hóa, thể thao. Đây không chỉ sự thay đổi về phương thức huy động vốn, mà sâu xa hơn, phản ánh tư duy mới trong phân bổ nguồn lực và tổ chức cung ứng các dịch vụ văn hóa: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, định hướng và bảo đảm lợi ích công; khu vực tư nhân phát huy năng lực đầu tư, quản trị, vận hành và khai thác hiệu quả nguồn lực.

Đặc biệt, mô hình “đầu tư công - quản lý tư” có thể tạo ra hướng xử lý phù hợp đối với bài toán quản trị, khai thác tài sản công trong lĩnh vực văn hóa. Nhà nước vẫn giữ quyền sở hữu, thực hiện chức năng quản lý và bảo đảm định hướng phát triển văn hóa; trong khi đó, quyền vận hành, khai thác công trình có thể được giao cho các doanh nghiệp có năng lực quản trị chuyên nghiệp. Cách tiếp cận này hướng tới khắc phục tình trạng thiết chế văn hóa được đầu tư nhưng khai thác chưa tương xứng, hạn chế lãng phí nguồn lực công, đồng thời, nâng cao hiệu suất sử dụng và khả năng tạo ra nguồn thu để tái đầu tư cho văn hóa.

Tuy nhiên, để các mô hình này vận hành trên thực tế, “nút thắt” thể chế cần được tháo gỡ trước tiên. Các quy định về hợp tác công - tư còn đặt ra những yêu cầu, thủ tục phức tạp; trong khi đó, việc xác định giá trị, quản lý và khai thác các tài sản vô hình, đặc biệt tài sản trí tuệ và các giá trị văn hóa tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý. Những bất cập này khiến cơ quan quản lý nhà nước và nhà đầu tư có tâm lý thận trọng, làm giảm khả năng huy động nguồn lực xã hội vào các dự án văn hóa. Vì vậy, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã đặt vấn đề thí điểm đối với những cơ chế, chính sách mới và những vấn đề cấp bách cần triển khai ngay, qua đó, tạo không gian thể chế cần thiết cho đổi mới và thử nghiệm.

Trên cơ sở đó, Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội thiết lập một khung chính sách đặc thù, tạo động lực thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa. Một trong những công cụ đáng chú ý hướng tới khu vực doanh nghiệp thông qua chính sách thuế: miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời hạn 02 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động văn hóa của doanh nghiệp, qua đó, giảm chi phí đầu tư ban đầu và cải thiện khả năng tích lũy vốn trong những năm đầu hoạt động. Cùng với đó, việc cho phép thí điểm Quỹ văn hóa, nghệ thuật theo mô hình đầu tư mạo hiểm, vận hành theo nguyên tắc thị trường mở ra một kênh vốn mới cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, nhất là những dự án có tiềm năng nhưng khó tiếp cận các nguồn tín dụng truyền thống.

Nguồn lực cho văn hóa không chỉ nằm ở vốn và cơ sở vật chất, mà còn nằm ở con người và năng lực sáng tạo. Vì vậy, việc tháo gỡ những rào cản về cơ chế tuyển dụng, thu hút và đãi ngộ nhân lực trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Cơ chế tuyển dụng linh hoạt đối với những cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc[4], cùng chính sách phụ cấp ưu đãi nghề dành cho nghệ sĩ, người làm nghệ thuật truyền thống[5], xiếc và những người công tác tại vùng sâu, vùng xa, góp phần tạo điều kiện để thu hút, giữ chân nhân tài, hạn chế tình trạng dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao khỏi khu vực văn hóa công.

Bên cạnh Nghị quyết của Quốc hội, việc thể chế hóa chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa đang được triển khai một cách khẩn trương và đồng bộ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang xây dựng Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, dự kiến trình Quốc hội xem xét thông qua theo trình tự rút gọn vào tháng 10/2026. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được thiết kế dựa trên 06 trụ cột chính sách đột phá gồm: (i) hệ sinh thái công nghiệp văn hóa - kết nối các chủ thể trong toàn bộ chuỗi giá trị; (ii) tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa - động lực tăng trưởng quan trọng nhất của ngành công nghiệp văn hóa; (iii) nhân lực công nghiệp văn hóa - đầu tư cho nguồn lực quyết định sức sáng tạo và cạnh tranh của toàn ngành; (iv) hạ tầng công nghiệp văn hóa - tiền đề cho sự phát triển bền vững của ngành Công nghiệp văn hoá; (v) thị trường công nghiệp văn hóa - định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia; (vi) tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư - khơi thông nguồn lực cho công nghiệp văn hóa.

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa xác định rõ những yếu tố then chốt là những thành tố quan trọng của công nghiệp văn hóa.

Một trong những trọng tâm của Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là hình thành hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, trong đó, các chủ thể và công đoạn từ sáng tạo, sản xuất, phân phối đến tiêu dùng được kết nối thành một chuỗi giá trị thống nhất. Trong hệ sinh thái ấy, tài sản trí tuệ không chỉ được nhìn nhận như kết quả của hoạt động sáng tạo, mà còn trở thành tài sản có khả năng huy động vốn và tạo ra giá trị kinh tế. Việc nghiên cứu cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với các khoản vay được bảo đảm bằng tài sản trí tuệ, nếu được thiết kế chặt chẽ và khả thi, sẽ góp phần giải quyết một trong những điểm nghẽn lớn nhất của doanh nghiệp sáng tạo: có ý tưởng, có sản phẩm và có tài sản trí tuệ nhưng thiếu tài sản hữu hình để tiếp cận vốn. Qua đó, dòng vốn có thêm cơ hội dịch chuyển vào khu vực sáng tạo, biến các giá trị văn hóa và tài sản trí tuệ thành nguồn lực thực tế cho tăng trưởng.

Biến di sản thành tài sản

Trong nhiều thập kỷ, quản lý di sản văn hóa ở Việt Nam chủ yếu xoay quanh yêu cầu bảo tồn, gìn giữ và chống xuống cấp. Điều này có ý nghĩa nền tảng, nhưng, nếu chỉ dừng lại ở việc bảo vệ nguyên trạng, di sản dễ bị nhìn nhận như một đối tượng cần nguồn lực ngân sách để duy trì, thay vì một nguồn lực có khả năng tạo ra giá trị cho phát triển. Nghị quyết số 80-NQ/TW mở ra một bước chuyển quan trọng về nhận thức: không chỉ bảo tồn di sản, mà phải biến giá trị di sản thành nguồn lực phát triển; để di sản tham gia và dẫn dắt quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Từ góc nhìn này, bảo tồn và phát triển không còn được đặt trong quan hệ đối lập. Vấn đề nằm ở việc khai thác giá trị kinh tế của di sản mà không làm tổn hại đến giá trị văn hóa, lịch sử. Di sản nếu được quy hoạch, quản trị và khai thác phù hợp, có thể trở thành hạt nhân hình thành các không gian kinh tế, du lịch, dịch vụ, sáng tạo và sinh kế mới cho cộng đồng. Mô hình “di sản dẫn dắt phát triển kinh tế” vì thế cần được hiểu rộng hơn việc khai thác du lịch đơn thuần: di sản có thể trở thành điểm tựa để tổ chức lại không gian phát triển, kết nối các ngành kinh tế và tạo dựng hệ sinh thái, trong đó, Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia, cùng hưởng lợi và cùng có trách nhiệm bảo vệ.

Quần thể danh thắng Tràng An ở Ninh Bình có thể xem như một minh chứng tiêu biểu. Việc lượng hóa tổng giá trị kinh tế (TEV) của di sản ở quy mô rất lớn ước tính lên đến 213 tỷ USD, bao gồm 10 nhóm giá trị cốt lõi như giá trị giải trí, hệ thống karst, đa dạng sinh học, khảo cổ, rừng đặc dụng, văn hóa đình chùa, lễ hội, nghệ thuật biểu diễn dân gian và tác động của di sản lên giá trị đất ở cũng như đất nông nghiệp trong vùng lõi và vùng đệm. Trong đó, riêng giá trị đất trong vùng đệm được ước tính khoảng 20 tỷ USD[6]. Điều này cho thấy giá trị của một di sản không chỉ nằm ở nguồn thu trực tiếp từ vé tham quan hay dịch vụ du lịch, mà còn bao gồm hàng loạt giá trị kinh tế, xã hội và môi trường được tạo ra từ cảnh quan, hệ sinh thái, thương hiệu điểm đến và sinh kế của cộng đồng. Điều quan trọng hơn, Tràng An cho thấy khi bảo tồn được đặt trong một chiến lược phát triển tổng thể, di sản có thể trở thành trung tâm định hình quy hoạch và tạo dựng một hệ sinh thái kinh tế gắn với cộng đồng, trong đó, lợi ích kinh tế phải song hành với trách nhiệm bảo vệ các giá trị nền tảng của di sản.

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW
Tràng An - Tam Cốc - Bích Động là khu Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt.

Muốn di sản thực sự trở thành nguồn lực phát triển, trước hết cần tạo lập cơ chế để nguồn lực xã hội cùng tham gia bảo tồn và hồi hương các giá trị văn hóa. Nghị quyết 28/2026/QH16 thiết lập một cơ chế đột phá: miễn 100% thuế nhập khẩu, phí hải quan và thuế VAT đối với các tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao, bảo vật quốc gia, cổ vật quý hiếm có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài được các cá nhân, tổ chức mua hoặc đấu giá đưa về nước không vì mục đích lợi nhuận. Chính sách miễn, giảm các nghĩa vụ tài chính theo quy định không chỉ có ý nghĩa hỗ trợ về mặt kinh tế, mà còn gửi đi một thông điệp quan trọng: bảo tồn di sản không chỉ trách nhiệm của Nhà nước, mà cần huy động sự tham gia của toàn xã hội, trong đó có các nhà sưu tập, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có tiềm lực.

Tuy nhiên, việc khai thác và kinh doanh các giá trị di sản chỉ có thể phát triển bền vững dựa trên hệ thống pháp luật chặt chẽ về sở hữu trí tuệ. Sở hữu trí tuệ không chỉ bảo vệ quyền lợi của người sáng tạo, mà còn là cơ sở pháp lý để chứng minh nguồn gốc và quyền sở hữu đối với các tài sản văn hóa. Khi các sản phẩm dựa trên di sản (như biểu tượng, hình ảnh, thiết kế, câu chuyện, hay đồ thủ công) được đăng ký và bảo hộ, chủ sở hữu có thể xác nhận nguồn gốc, khai thác, mua bán, cấp phép sử dụng và kinh doanh một cách minh bạch và hợp pháp.

Đây là điểm giao thoa giữa bảo tồn di sản và phát triển công nghiệp văn hóa. Một di sản được bảo vệ tốt nhưng không được nhận diện, số hóa và xác lập cơ chế khai thác phù hợp sẽ khó phát huy hết giá trị; ngược lại, việc khai thác thiếu kiểm soát có thể làm biến dạng hoặc suy giảm giá trị di sản. Vì vậy, cần hình thành một chu trình khép kín: bảo tồn - số hóa - xác lập quyền - sáng tạo - khai thác - tái đầu tư cho bảo tồn. Khi đó, sở hữu trí tuệ không chỉ bảo vệ di sản trước nguy cơ bị sao chép, chiếm đoạt, mà còn trở thành công cụ để huy động đầu tư, phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu, mở rộng nhượng quyền thương mại và đưa các giá trị văn hóa Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế.

Mục tiêu không phải biến di sản thành “sản phẩm để bán”, mà tạo ra cơ chế để di sản tự tạo sinh nguồn lực cho chính mình và cho cộng đồng đang gìn giữ nó. Khi lợi ích kinh tế được tái đầu tư trở lại cho bảo tồn, khi cộng đồng địa phương thực sự được hưởng lợi và khi những giá trị văn hóa được bảo vệ bằng cả pháp luật, công nghệ và sức mạnh thị trường, di sản sẽ không còn chỉ thuộc về quá khứ. Di sản khi ấy trở thành nguồn lực sống của hiện tại và một tài sản chiến lược cho tương lai.

Giữ “chủ quyền” văn hóa trong không gian số

Bước vào kỷ nguyên Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không gian văn hóa ngày càng vượt qua vị trí địa lý truyền thống. Các nền tảng xuyên biên giới như Facebook, TikTok, Netflix... không chỉ thay đổi cách con người tiếp nhận thông tin, giải trí và tương tác, mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình định hình thị hiếu, hành vi và hệ giá trị văn hóa. Trong bối cảnh đó, thách thức đặt ra không còn đơn thuần nằm ở việc kiểm soát nội dung, mà là khả năng bảo vệ năng lực tự chủ của quốc gia trong sáng tạo, phân phối và định hướng các giá trị văn hóa trên không gian số. Nguy cơ “xâm lăng văn hóa” vì thế có thể diễn ra không ồn ào, mà thông qua thuật toán, xu hướng nội dung và khả năng chi phối sự chú ý của người dùng.

Một trong những điểm đặc biệt của Nghị quyết số 80-NQ/TW là đặt vấn đề chủ quyền văn hóa trong không gian số như một yêu cầu mới của quản trị quốc gia. Trong môi trường mà dữ liệu, nền tảng và thuật toán ngày càng tác động đến nhận thức xã hội, bảo vệ chủ quyền văn hóa không thể chỉ được thực hiện bằng các biện pháp hành chính hay kiểm soát nội dung từ bên ngoài. Quan trọng hơn, cần tạo dựng năng lực nội sinh đủ mạnh để Việt Nam chủ động sáng tạo, làm chủ công nghệ, xây dựng nền tảng và cung cấp các sản phẩm văn hóa số có sức hấp dẫn, qua đó, nâng cao khả năng tự chủ của hệ sinh thái văn hóa Việt Nam trên không gian mạng.

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW

Yêu cầu xây dựng và vận hành “Nền tảng văn hóa số toàn dân” mang ý nghĩa như một bước chuyển từ tư duy phòng vệ sang chủ động kiến tạo. Thay vì chỉ tập trung ngăn chặn những nội dung không phù hợp, chính sách văn hóa cần tạo ra nguồn cung nội dung chất lượng cao, đa dạng, hấp dẫn và phù hợp với hệ giá trị Việt Nam. Việc thể chế hóa chủ trương này thông qua các cơ chế thí điểm đối với những mô hình kinh doanh và cung ứng dịch vụ văn hóa mới gắn với công nghệ số, như “bảo tàng mở”, “nhà hát di động”, “thư viện số”, có thể mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận văn hóa của người dân. Khi các thiết chế văn hóa truyền thống được tái cấu trúc trên nền tảng số, khoảng cách về không gian, thời gian và điều kiện tiếp cận từng bước được thu hẹp, đồng thời, tạo thêm không gian để các giá trị văn hóa Việt Nam hiện diện thường xuyên trong đời sống số.

Tuy nhiên, chủ quyền văn hóa số không thể được xây dựng chỉ bằng việc tạo ra thêm các nền tảng công nghệ mà phải là cách thức quản trị không gian văn hóa số. Từ mô hình quản lý thiên về tiền kiểm, cần từng bước chuyển sang phương thức quản trị linh hoạt, dựa nhiều hơn vào hậu kiểm, trách nhiệm giải trình và cơ chế phối hợp đa chủ thể. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, thiết lập chuẩn mực và bảo vệ lợi ích công; thị trường thúc đẩy đổi mới và cung ứng sản phẩm; các tổ chức xã hội, cộng đồng sáng tạo và chính người sử dụng cùng tham gia hình thành môi trường văn hóa số. Cùng với đó, AI, dữ liệu lớn và các công cụ phân tích dữ liệu có thể hỗ trợ nhận diện xu hướng, phát hiện rủi ro và nâng cao năng lực quản trị, trong khi năng lực số và khả năng tự đề kháng của người dân trở thành “lá chắn mềm” từ bên trong xã hội.

Đánh thức thiết chế văn hóa cơ sở

Mọi chủ trương, chính sách chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành những thay đổi cụ thể trong đời sống hằng ngày. Thiết chế văn hóa cơ sở chính là nơi đo lường rõ nhất sức sống của chính sách văn hóa, bởi, đây không chỉ nơi cung cấp dịch vụ văn hóa, mà còn là không gian để cộng đồng gặp gỡ, sáng tạo, gìn giữ ký ức và hình thành các mối liên kết xã hội.

Thành phố Hà Nội đang cho thấy vai trò tiên phong khi triển khai Kế hoạch số 128/KH-UBND ngày 30/3/2026 về triển khai Chương trình hành động số 08-CTr/TU ngày 17/3/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW. Một trong những mô hình được Thành phố lựa chọn để triển khai là Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn Vạn Điểm, xã Phú Xuyên. Nhà văn hóa thôn Vạn Điểm được lựa chọn làm mô hình đại diện cho nhóm nhà văn hóa có cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, gồm nhà văn hóa và khu thể thao, tại các xã trung tâm. Mô hình được xây dựng trên cơ sở các hoạt động hiện có tại địa phương, đồng thời, sắp xếp lại theo nội dung, thời gian, địa điểm và đối tượng tham gia; gồm hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị, văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao, văn hóa đọc, học tập cộng đồng, sinh hoạt dành cho các nhóm đối tượng và các hoạt động phát huy bản sắc làng nghề mộc Vạn Điểm[7].

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW
Nghi thức bấm nút công bố vận hành thí điểm mô hình tổ chức hoạt động tại Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn Vạn Điểm.

Hạn chế của thiết chế văn hóa cấp cơ sở nằm ở tư duy tổ chức hoạt động theo mô hình đồng nhất, chưa tính đến đặc điểm dân cư, nhu cầu thực tế và bản sắc của từng địa phương. Hệ quả, có thể tạo ra những không gian được đầu tư tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất nhưng hoạt động kém hiệu quả, thiếu sức hút và chưa thực sự trở thành trung tâm của đời sống cộng đồng. Kinh nghiệm từ mô hình Nhà văn hóa tại thôn Vạn Điểm cho thấy hướng đi cần thiết không phải trước hết “xây cái gì”, mà “làm gì để người dân muốn đến, muốn tham gia và coi đó như không gian văn hóa của chính mình”. Việc lấy bản sắc địa phương, trong đó có nghề mộc truyền thống, làm chất liệu để thiết kế nội dung hoạt động đã giúp Nhà văn hóa thôn Vạn Điểm gắn kết chặt chẽ hơn với đời sống cộng đồng. Hơn 500 hội viên tham gia sinh hoạt tại hơn 10 loại hình câu lạc bộ cho thấy khi thiết chế văn hóa được tổ chức dựa trên nhu cầu và đặc điểm của người dân, công trình vật chất có thể chuyển hóa thành một không gian xã hội sống động[8]. Giá trị của thiết chế khi ấy không nằm ở quy mô xây dựng, mà ở số lượng người tham gia, mức độ tương tác và khả năng tạo ra sự gắn kết cộng đồng.

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW
Khu tập võ, khu dưỡng sinh tại Nhà văn hóa - Khu thể thao thôn Vạn Điểm.

Mỗi nhà văn hóa cần có một câu chuyện riêng, một bản sắc riêng và một lý do đủ thuyết phục để người dân tìm đến. Khi thiết chế văn hóa thoát khỏi mô hình hoạt động rập khuôn, cộng đồng không còn chỉ là đối tượng thụ hưởng, mà trở thành chủ thể tham gia tổ chức, sáng tạo và duy trì đời sống văn hóa. Chính sự tham gia đó tạo nên sức sống lâu dài, đồng thời, khơi dậy niềm tự hào và sự gắn bó của người dân với không gian văn hóa nơi mình sinh sống.

Sự ra đời và phát triển của Mạng lưới không gian sáng tạo Hà Nội cho thấy xu hướng chuyển từ tư duy tổ chức những sự kiện văn hóa riêng lẻ sang xây dựng hệ sinh thái sáng tạo có tính kết nối và bền vững. Khi các thiết chế công cộng, không gian sáng tạo, doanh nghiệp, nghệ sĩ, cộng đồng dân cư và các nhóm sáng tạo được kết nối trong cùng một hệ sinh thái, văn hóa không chỉ được bảo tồn và thụ hưởng, mà còn có điều kiện để liên tục được tái tạo, đổi mới và tạo ra những giá trị mới.

TỪ “NỀN TẢNG TINH THẦN” ĐẾN “NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN”: CHUYỂN ĐỔI TƯ DUY VỀ VĂN HÓA TỪ NGHỊ QUYẾT SỐ 80-NQ/TW
Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước.

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị cùng với Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội và định hướng xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, đang mở ra một bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển văn hóa: từ bảo tồn, bao cấp sang kiến tạo, đầu tư và phát huy nguồn lực; từ coi văn hóa chủ yếu thuộc lĩnh vực tinh thần sang nhìn nhận văn hóa như một nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm của quốc gia. Điều quan trọng nhất từ những chính sách mới không chỉ nằm ở nguồn ngân sách, ưu đãi đầu tư hay các cơ chế đặc thù, mà ở khả năng giải phóng sức sáng tạo của con người và huy động nguồn lực toàn xã hội. Khi Nhà nước kiến tạo thể chế, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, cộng đồng chủ động tham gia và công nghệ trở thành công cụ lan tỏa giá trị, văn hóa sẽ có đủ điều kiện để giữ vững bản sắc và tạo ra những giá trị mới. Với nền tảng văn hóa được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, cùng hệ thống thể chế ngày càng hoàn thiện, văn hóa Việt Nam đang đứng trước cơ hội chuyển mình mạnh mẽ, trở thành nguồn lực và động lực quan trọng đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên vươn mình, phồn vinh, hạnh phúc và hội nhập sâu, rộng với thế giới./.

ThS. Nguyễn Hoàng Trung

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Bộ Tư pháp


[1] Tháng 2/1943, Đảng ban hành Đề cương về văn hóa Việt Nam (Đề cương) do đồng chí Tổng Bí Thư Trường Chinh soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp tại Võng La (Đông Anh, Phúc Yên).

[2] Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.

[3] Hương Giang (2022), Chủ tịch Quốc hội: Thể chế phải kiến tạo cho chấn hưng và phát triển văn hóa, https://thanhtra.com.vn/xa-hoi-C5ACF42DB/chu-tich-quoc-hoi-the-che-phai-kien-tao-cho-chan-hung-va-phat-trien-van-hoa-E1225B19.html, truy cập ngày 26/8/2026.

[4] Cơ chế tuyển dụng không qua thi tuyển đối với: (i) người học được đào tạo, tốt nghiệp ở trong nước và nước ngoài thuộc lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, thể thao có thành tích chuyên môn đặc biệt xuất sắc; (ii) vận động viên, nghệ sĩ tài năng đạt huy chương, giải thưởng cấp quốc gia, khu vực, quốc tế.

[5] a) Phụ cấp ưu đãi nghề từ mức 40% đến 60% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đối với viên chức, người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp trong loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống, nghệ thuật biểu diễn cổ điển và xiếc; viên chức, người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp làm việc tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; b) Phụ cấp ưu đãi nghề từ mức 20% đến 30% mức lương hiện hưởng cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo và phụ cấp thâm niên vượt khung (nếu có) đối với viên chức, người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa; c) Chế độ bồi dưỡng luyện tập, bồi dưỡng biểu diễn căn cứ vào vai trò, mức độ tham gia hoạt động trong tác phẩm, chương trình, tiết mục để xác định: chế độ bồi dưỡng luyện tập từ 5% đến 15% mức lương cơ sở cho một buổi luyện tập; chế độ bồi dưỡng biểu diễn (sơ duyệt, tổng duyệt và biểu diễn) từ 15% đến 30% mức lương cơ sở cho một buổi biểu diễn.

[6] Báo Tuyên Quang (2025), Giá trị kinh tế của di sản Tràng An và những đóng góp đa chiều, https://baotuyenquang.com.vn/gia-tri-kinh-te-cua-di-san-trang-an-va-nhung-dong-gop-da-chieu-208124.html, truy cập ngày 26/8/2026.

[7] Minh Thư (2026), Hà Nội đổi mới hoạt động nhà văn hóa, phát huy hiệu quả thiết chế văn hóa cơ sở, https://thanglong.chinhphu.vn/ha-noi-doi-moi-hoat-dong-nha-van-hoa-phat-huy-hieu-qua-thiet-che-van-hoa-co-so-103260817155432551.htm, truy cập ngày 26/8/2026.

[8] Giang Nam (2026), Hà Nội ra mắt Nhà văn hóa hoạt động theo mô hình mới, https://nhandan.vn/ha-noi-ra-mat-nha-van-hoa-hoat-dong-theo-mo-hinh-moi-post979742.html, truy cập ngày 26/8/2026.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội kiến tạo một "thành phố trải nghiệm về đêm"

Hà Nội kiến tạo một "thành phố trải nghiệm về đêm"

Trong xu thế phát triển đô thị hiện đại, kinh tế đêm là một động lực mới góp phần mở rộng không gian tăng trưởng, gia tăng giá trị dịch vụ và nâng cao sức hấp dẫn của các thành phố lớn. Các hoạt động diễn ra vào ban đêm thúc đẩy mạnh mẽ các lĩnh vực du lịch, văn hóa, ẩm thực, giải trí, công nghiệp sáng tạo và thương mại, qua đó tạo thêm việc làm, tăng thu ngân sách và nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng đô thị.
"DU LỊCH NET ZERO" - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

"DU LỊCH NET ZERO" - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi): Xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở

Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) tập trung khắc phục những vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, qua đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hòa giải và quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở; góp phần phòng ngừa tranh chấp, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và tăng cường sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HOÁ, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Hà Nội tiên phong xây dựng và triển khai Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa

Hà Nội tiên phong xây dựng và triển khai Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn và định hướng phát triển công nghiệp văn hóa của Thủ đô, ngày 05/8/2026, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội ban hành Đề án “Bộ chỉ tiêu thống kê về các ngành công nghiệp văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội” (Đề án), trong đó xác định phạm vi áp dụng trên toàn địa bàn thành phố Hà Nội, triển khai tính toán Bộ chỉ tiêu thống kê các ngành công nghiệp văn hóa từ năm 2026, đánh giá hiệu quả, áp dụng ổn định từ năm 2027 và các năm tiếp theo.
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được thông qua với tỷ lệ tán thành cao

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được thông qua với tỷ lệ tán thành cao

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất với nhiều điểm mới, trong đó chú trọng xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật thông qua các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật mới, hiệu quả, có tính tương tác đa chiều, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Sáu chính sách trụ cột mở đường phát triển ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam

Trong những năm qua, công nghiệp văn hóa Việt Nam từng bước hình thành và phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị về kinh tế, văn hóa và xã hội. Tuy nhiên, sự phát triển của lĩnh vực này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa, nguồn nhân lực và quy mô thị trường của Việt Nam. Nhiều điểm nghẽn về thể chế, tài chính, nhân lực, hạ tầng, tài sản trí tuệ và thị trường đang đặt ra yêu cầu phải có những giải pháp mang tính đồng bộ, dài hạn.
Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Xây dựng khung pháp lý phát triển công nghiệp văn hóa

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, đồng thời triển khai các chỉ đạo, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng và lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa (dự thảo Luật). Dự án Luật được xây dựng theo trình tự, thủ tục rút gọn và dự kiến trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ hai (tháng 10/2026).
Cơ sở quan trọng thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Cơ sở quan trọng thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, với cách tiếp cận ngày càng gắn kết giữa xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành, giữa ban hành văn bản với theo dõi, đánh giá hiệu quả thực thi; đồng thời góp phần tháo gỡ “điểm nghẽn” pháp lý, cải thiện môi trường pháp lý, đổi mới phương thức tiếp nhận phản ánh, phổ biến pháp luật và nâng cao ý thức tuân thủ trong xã hội.
Nghiên cứu các giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Nghiên cứu các giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật

Ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì cuộc họp cho ý kiến về những giải pháp tạo đột phá nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật, thúc đẩy việc xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Thứ trưởng Nguyễn Thanh Tịnh cùng dự.
Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Ngày Thương binh Liệt sĩ: Từ đạo lý tri ân đến sức mạnh phát triển của dân tộc

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026) không chỉ là dịp tri ân những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc, mà còn là cơ hội khẳng định giá trị bền vững của truyền thống biết ơn trong đời sống dân tộc. Trong tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, việc phát huy văn hóa tri ân càng có ý nghĩa trong xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: