Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Kỳ 1: Văn hóa di sản và du lịch xanh trong hành trình phát triển bền vững
Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã từng bước chuyển từ tư duy khai thác tài nguyên sang tư duy phát triển bền vững. Các khái niệm “du lịch xanh”, “du lịch có trách nhiệm”, “du lịch cộng đồng”, “du lịch sinh thái”, “du lịch di sản” ngày càng trở nên quen thuộc. Xa hơn, ngành Du lịch đang hướng tới mục tiêu “du lịch Net Zero”, phù hợp với cam kết của Việt Nam về giảm phát thải và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Khái niệm du lịch bền vững xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1996, do Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế (World Tourism and Travel Council - WTTC) đưa ra như sau: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”.
| Khoản 14 Điều 3 Luật Du lịch năm 2017 định nghĩa: “Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu kinh tế - xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai”. Phát triển du lịch bền vững gồm 03 nội dung cơ bản: (i) duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế du lịch cao hợp lý, ổn định, liên tục; (ii) thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa bản địa; (iii) bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên môi trường sinh thái, phát triển các tài nguyên có khả năng tái sinh. |
Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển du lịch bền vững
Việt Nam là quốc gia được đánh giá rất có tiềm năng, lợi thế trong xây dựng, phát triển các sản phẩm và dịch vụ du lịch văn hóa với hơn 40 nghìn di tích, trong đó có 08 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 128 di tích quốc gia đặc biệt, 3.614 di tích quốc gia, 10 nghìn di tích cấp tỉnh; khoảng 70 nghìn di sản văn hóa phi vật thể, với 483 di sản được đưa vào di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (theo số liệu năm 2023), 17 di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại được UNESCO ghi nhận. Trên cơ sở tiềm năng sẵn có, các doanh nghiệp lữ hành đã phát triển nhiều sản phẩm du lịch văn hóa khá đặc sắc như: du lịch kết nối di sản, du lịch di sản miền Trung, du lịch tham dự festival Huế, Đà Nẵng, festival biển Nha Trang, lễ hội biển Hạ Long, lễ hội hoa ban Điện Biên, hoa tam giác mạch Hà Giang, festival hoa Đà Lạt, lễ hội trái cây các tỉnh, thành phố trên cả nước… Các chương trình nghệ thuật đặc sắc như: Ký ức Hội An, tinh hoa Bắc Bộ... Đây không chỉ là những địa danh du lịch mà còn là những “kho báu” văn hóa của quốc gia.
 |
| Cố đô Huế thu hút du khách trong nước và quốc tế đến thăm quan. Ảnh: Internet |
Có thể thấy, giá trị của du lịch văn hóa không nằm ở việc đưa thật nhiều người đến một di tích, mà nằm ở cách các doanh nghiệp lữ hành, hướng dẫn viên du lịch giúp du khách hiểu được ý nghĩa của di tích ấy. Một chuyến đi đến Huế không chỉ để ngắm Đại Nội; đến Hội An không chỉ để chụp ảnh phố cổ; đến Tây Bắc không chỉ để ngắm ruộng bậc thang. Đằng sau mỗi điểm đến là lịch sử, ký ức, phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật, kiến trúc, ẩm thực và đời sống của cộng đồng.
Đây chính là không gian để doanh nghiệp lữ hành “sáng tạo” những sản phẩm du lịch mang bản sắc Việt Nam. Những tour kết nối di sản, hành trình tìm hiểu lịch sử, trải nghiệm lễ hội, khám phá làng nghề, du lịch ẩm thực, du lịch cộng đồng… nếu được tổ chức bài bản sẽ vừa tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh, vừa góp phần đưa văn hóa trở thành một nguồn lực trực tiếp của phát triển.
Trong bối cảnh du khách ngày càng quan tâm đến trải nghiệm chân thực, bản sắc địa phương trở thành một lợi thế cạnh tranh mà không phải quốc gia nào cũng có thể dễ dàng tạo ra. Một món ăn truyền thống, một câu chuyện lịch sử, một làn điệu dân ca, một nghề thủ công, một nghi lễ cộng đồng hay một nếp sống lâu đời đều có thể trở thành chất liệu để hình thành sản phẩm du lịch nếu được khai thác đúng cách.
Khi văn hóa cộng đồng trở thành “điểm hấp dẫn” của du lịch Việt Nam
Bên cạnh du lịch di sản, du lịch cộng đồng đang mở ra một hướng đi quan trọng để phát triển du lịch gắn với bảo tồn văn hóa. Việt Nam có 54 dân tộc với những phong tục, tập quán, trang phục, kiến trúc, nghệ thuật, ẩm thực và tri thức dân gian vô cùng đa dạng. Đây là nguồn tài nguyên đặc biệt để hình thành những sản phẩm du lịch mang dấu ấn riêng của từng vùng đất.
Mô hình du lịch cộng đồng được phát triển ở nhiều địa phương trong cả nước, như các tỉnh Điện Biên, Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Ninh Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Cần Thơ, An Giang... Nhiều điểm đến du lịch cộng đồng của nước ta đã đạt các tiêu chuẩn nhất định và giành giải thưởng quốc tế. Bên cạnh lợi ích kinh tế mang lại cho cộng đồng dân cư, du lịch cộng đồng đã góp phần hiệu quả bảo tồn, lưu giữ tài nguyên thiên nhiên, văn hoá và di sản đặc sắc của nước ta.
Thành công của các làng du lịch cộng đồng tại Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ cho thấy, khi người dân thực sự trở thành chủ thể của hoạt động du lịch, văn hóa có thêm một nguồn lực để tồn tại và phát triển. Một ngôi nhà truyền thống được gìn giữ để đón khách; một nghề (dệt, may, làm gốm, tranh, viết chữ…) được khôi phục để tạo ra sản phẩm lưu niệm; một món ăn gia truyền được đưa vào thực đơn; một làn điệu dân ca được biểu diễn cho du khách… tất cả đều có thể trở thành sinh kế nếu được tổ chức hợp lý trong một hệ sinh thái du lịch khép kín.
 |
| Thôn Lô Lô Chải dưới chân cột cờ Lũng Cú (Tuyên Quang) được Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism) vinh danh là “Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025” vào ngày 17/10/2025 |
Điều quan trọng là không biến văn hóa thành một “sân khấu trình diễn” đơn thuần. Du lịch cộng đồng bền vững phải giúp người dân có thu nhập nhưng vẫn giữ được quyền quyết định đối với những giá trị văn hóa của mình. Doanh nghiệp lữ hành cần đóng vai trò kết nối thị trường, đào tạo kỹ năng, xây dựng sản phẩm và bảo đảm dòng khách ổn định, thay vì can thiệp làm thay đổi bản chất của cộng đồng.
Khi người dân nhìn thấy lợi ích từ việc bảo tồn văn hóa, họ sẽ có thêm động lực để gìn giữ những ngôi nhà cổ, nghề truyền thống, lễ hội, tiếng nói, trang phục, ẩm thực và tri thức bản địa. Khi đó, du lịch không chỉ “tiêu dùng” văn hóa mà còn góp phần “nuôi dưỡng” văn hóa. Đó cũng là cách để mục tiêu phát triển du lịch bền vững gắn chặt hơn với mục tiêu bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc.
Chính sách mới mở thêm không gian cho du lịch xanh và văn hóa bền vững
Nhận thức rõ được tiềm năng và vai trò của du lịch xanh, ngay từ năm 2017, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/1/2017 về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó khẳng định: phát triển du lịch bền vững, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa và các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo vệ môi trường và thiên nhiên; giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và an sinh xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Ngày 22/01/2020, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 theo Quyết định số 147/QĐ-TTg, theo đó, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo sau: (i) phát triển du lịch bền vững và bao trùm, trên nền tảng tăng trưởng xanh, tối đa hóa sự đóng góp của du lịch cho các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh; (ii) chú trọng phát triển du lịch văn hóa, gắn phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy giá trị di sản và bản sắc văn hóa dân tộc.
 |
| Với lợi thế bờ biển dài khoảng 3260 km, cùng nhiều đảo, Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển đảo gắn với kinh tế biển xanh |
Ngày 22/7/2022, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 882/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030. Theo đó, trong lĩnh vực du lịch, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì 02 nhóm nhiệm vụ là: “hoàn thiện thể chế, chính sách quản lý phát triển du lịch theo hướng tăng trưởng xanh và bền vững” và “ưu tiên phát triển các loại hình du lịch theo hướng tăng trưởng xanh (du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng biển đảo gắn với việc phát triển kinh tế biển xanh, du lịch thể thao mạo hiểm bảo đảm các tiêu chuẩn, tiêu chí xanh…), phát triển sản phẩm du lịch xanh”.
Ngày 18/5/2023, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 82/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững. Nghị quyết đã đề ra 07 nhiệm vụ bao gồm: (i) đẩy mạnh cơ cấu lại ngành du lịch theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, bền vững; (ii) tiếp tục tạo thuận lợi thu hút khách du lịch quốc tế đến Việt Nam; (iii) tăng cường thu hút đầu tư phát triển du lịch có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào các khu du lịch quốc gia; (iv) phát triển sản phẩm và truyền thông, quảng bá, xúc tiến du lịch; (v) hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh du lịch; (vi) nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; (vii) đẩy nhanh thực hiện chuyển đổi số, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực du lịch.
| Mới đây, ngày 22/8/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới nhấn mạnh việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ mới trong phát triển các sản phẩm du lịch gắn với công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản, kinh tế đêm, các sản phẩm sáng tạo giá trị gia tăng cao, nâng cao chất lượng trải nghiệm du lịch; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo du lịch, tạo động lực tăng trưởng mới. |
Bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, yêu cầu phát triển du lịch xanh, bền vững, giữ gìn bản sắc, văn hóa tiếp tục được đặt trong tổng thể lớn hơn của mục tiêu phát triển đất nước, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển kinh tế tuần hoàn và phát huy nguồn lực văn hóa. Điều đó tạo ra cơ sở quan trọng để ngành Du lịch chuyển từ tư duy “khai thác tài nguyên” sang “đầu tư vào tài nguyên”, từ khai thác giá trị sẵn có sang tái tạo, làm giàu và trao truyền các giá trị văn hóa, thiên nhiên cho thế hệ mai sau.
 |
| Phát huy giá trị của bảo tàng trong thúc đẩy phát triển du lịch văn hoá, góp phần lan toả nét đẹp con người, thiên nhiên, phong tục... của Việt Nam ra thế giới. |
Doanh nghiệp lữ hành - “cầu nối” đưa văn hóa Việt Nam đến với du khách
Nhìn từ góc độ văn hóa, có thể thấy, một điểm du lịch chỉ thực sự phát triển bền vững khi những giá trị văn hóa làm nên sức hấp dẫn của điểm du lịch ấy vẫn được bảo tồn, được cộng đồng tiếp tục gìn giữ và trao truyền cho thế hệ mai sau. Nếu phát triển du lịch mà làm thay đổi, mất đi phong tục, lễ hội, phá vỡ không gian văn hóa hoặc khiến cộng đồng địa phương trở thành “người đứng ngoài” chính câu chuyện của quê hương mình thì đó không thể được xem là phát triển bền vững. Vì vậy, hành trình du lịch xanh cũng chính là hành trình giữ gìn bản sắc, văn hoá Việt Nam.
Trong hành trình ấy, doanh nghiệp lữ hành giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Họ không chỉ đưa du khách đến một vùng đất mà còn là người lựa chọn cách kể câu chuyện về vùng đất ấy; không chỉ kết nối du khách với các dịch vụ du lịch mà còn kết nối con người với di sản, cộng đồng với thị trường và văn hóa truyền thống với đời sống đương đại. Vì thế, xây dựng doanh nghiệp lữ hành bền vững là một trong những giải pháp quan trọng để bảo tồn, phát huy văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm của chuỗi giá trị du lịch, bởi doanh nghiệp lữ hành chính là chủ thể thiết kế hành trình, lựa chọn cơ sở lưu trú, phương tiện vận chuyển, nhà hàng, điểm tham quan, hướng dẫn viên và các dịch vụ trải nghiệm.... Những quyết định của doanh nghiệp lữ hành có thể tạo ra tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với môi trường, kinh tế địa phương và văn hóa, di sản của cộng đồng.
 |
| Hướng dẫn viên du lịch đang kể câu chuyện về phong tục, tập quán của Bản làng Thái Hải (Thái Nguyên) cho các cháu học sinh trong chuyến thăm quan trải nghiệm |
Một doanh nghiệp lữ hành bền vững không đơn thuần là doanh nghiệp sử dụng ít nhựa hơn, tiết kiệm năng lượng hơn hay giảm lượng rác thải trong mỗi chuyến đi. Quan trọng hơn, đó phải là doanh nghiệp biết quan tâm và giải đáp được hàng loạt câu hỏi như: Du khách đến đây để trải nghiệm điều gì? Giá trị nào cần được bảo vệ? Người dân địa phương được hưởng lợi gì? Sau mỗi mùa du lịch, cảnh quan, văn hóa và đời sống cộng đồng có tốt hơn hay không?
Khi những câu hỏi ấy trở thành một phần trong chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp lữ hành sẽ chuyển từ vai trò “bán tour” sang vai trò “kiến tạo những hành trình có trách nhiệm”. Mỗi chuyến đi không chỉ tạo ra doanh thu mà còn góp phần bảo tồn làng nghề, duy trì nghề truyền thống, tạo sinh kế cho người dân, khuyến khích thế hệ trẻ trở về quê hương và giúp những câu chuyện văn hóa Việt Nam tiếp tục được lan tỏa đến bạn bè quốc tế.
| Như vậy, văn hóa không chỉ là tài nguyên để du lịch khai thác mà còn là nền tảng để du lịch phát triển bền vững. Khi mỗi giá trị văn hóa được trân trọng, mỗi cộng đồng được hưởng lợi và mỗi hành trình được tổ chức có trách nhiệm, du lịch sẽ không chỉ tạo ra những chuyến đi đáng nhớ mà còn góp phần gìn giữ những giá trị lâu bền của đất nước. Đó cũng là câu chuyện của hành trình đưa du lịch Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu “Net Zero” và đồng thời là trách nhiệm không nhỏ của các doanh nghiệp lữ hành./. |
Xem tiếp Kỳ 2: Để mỗi chuyến đi là một hành trình giữ gìn văn hóa và hướng tới “Du lịch Net Zero”
Tài liệu tham khảo:
1. Thân Trọng Ngọc Trâm, Chính sách về phát triển du lịch bền vững tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, https://tapchicongthuong.vn/chinh-sach-ve-phat-trien-du-lich-ben-vung-tai-viet-nam-trong-boi-canh-hoi-nhap-quoc-te-123551.htm.
2. Đoàn Thị Thắm, Lợi ích của việc phát triển doanh nghiệp lữ hành bền vững, http://vanhoanghethuat.vn/loi-ich-cua-viec-phat-trien-doanh-nghiep-lu-hanh-ben-vung.htm.
3. Nguyễn Thanh, Phát huy vai trò của di sản và văn hóa gắn với phát triển du lịch bền vững, https://hanoimoi.vn/phat-huy-vai-tro-cua-di-san-va-van-hoa-gan-voi-phat-trien-du-lich-ben-vung-438193.html.