![]() |
| Toàn cảnh phiên họp (Ảnh: quochoi.vn) |
Sáng ngày 24/8/2026, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) với 471/472 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm tỷ lệ 94.20%.
Trước đó, trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo chỉnh lý toàn diện dự thảo Luật, bảo đảm yêu cầu về tính hợp hiến, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật; đồng thời thể chế hóa chủ trương phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số.
Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) gồm 05 chương, 35 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027. Một trong những điểm mới nổi bật của Luật là lần đầu tiên dành riêng một điều luật quy định về bảo mật thông tin trong công tác hòa giải. Theo đó, Điều 5 của Luật được bổ sung nhằm thiết lập hành lang pháp lý cụ thể, toàn diện về bảo mật thông tin, góp phần bảo đảm quyền, lợi ích của các bên và tạo nền tảng tin cậy trong quá trình hòa giải.
Luật còn bổ sung nghĩa vụ đối với hòa giải viên và trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc phối hợp thực hiện các biện pháp phòng ngừa khi nhận thấy mâu thuẫn, tranh chấp có nguy cơ dẫn đến hành vi bạo lực, đe dọa sức khỏe, tính mạng của các bên hoặc người khác.
Về tiêu chuẩn hòa giải viên, Luật lược bỏ từ “thường xuyên” trong cụm từ “cư trú thường xuyên tại cơ sở”, qua đó mở rộng phạm vi người có thể được lựa chọn vào danh sách bầu hòa giải viên là người “cư trú tại cơ sở” (gồm cả người thường trú và tạm trú), bảo đảm thống nhất với Luật Cư trú; đồng thời quy định chặt chẽ các trường hợp không đủ tiêu chuẩn như đang trong thời hạn kỷ luật, áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chấp hành án hình sự hoặc chưa xóa án tích.
![]() |
| Quốc hội khóa XVI tiến hành biểu quyết thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) với 471/472 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm tỷ lệ 94.20% (Ảnh: quochoi.vn) |
Đối với việc bầu hòa giải viên, Luật kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, đồng thời bổ sung cơ chế xử lý trường hợp số người đủ điều kiện được công nhận làm hòa giải viên nhiều hơn số lượng cần kiện toàn. Việc bầu hòa giải viên có thể kết hợp nhiều hình thức thay vì chỉ một hình thức đơn lẻ. Quy định này nhằm khắc phục những vướng mắc trong quá trình triển khai việc bầu hòa giải viên trên thực tiễn, tạo sự chủ động, linh hoạt cho địa phương, nhất là trong bối cảnh quy mô thôn, tổ dân phố mở rộng sau khi thực hiện sắp xếp.
Luật cũng ghi nhận quyền của các bên trong việc lựa chọn, đề xuất, đề nghị thay đổi người phiên dịch, gắn liền với nghĩa vụ của hòa giải viên trong việc đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã hỗ trợ bố trí phiên dịch; bổ sung cơ chế chỉ định hòa giải viên linh hoạt, kịp thời tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong thực tiễn bầu hòa giải viên tại địa phương.
Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các mâu thuẫn phức tạp ở cơ sở, Luật quy định rõ cơ chế huy động, phát huy vai trò và trí tuệ của những người được mời tham gia trực tiếp vào quá trình hòa giải.
Ngoài ra, Luật quy định Nhà nước bảo đảm kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở; đồng thời tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hoàn thiện cơ sở pháp lý nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Luật cũng được sửa đổi theo hướng lồng ghép toàn diện yêu cầu chuyển đổi số, qua đó đổi mới tư duy lập pháp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Đáng chú ý, thể chế hóa sâu sắc chủ trương của Đảng về phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, Luật quy định các bên có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quy định này góp phần xây dựng văn hóa pháp lý ngay từ cơ sở.