Thông tư gồm 05 chương, 27 điều, tập trung quy định quy trình, thủ tục lập và xét duyệt hồ sơ đề xuất hỗ trợ, tài trợ, giao kinh phí hỗ trợ, tài trợ của Quỹ hỗ trợ xây dựng chính sách, pháp luật (Quỹ) từ nguồn ngân sách nhà nước được bố trí thường xuyên và các nguồn tài chính hợp pháp khác ngoài ngân sách nhà nước; nội dung chi, định mức khoán chi và phương thức khoán chi đối với các dự án, nhiệm vụ, hoạt động thuộc phạm vi và đáp ứng điều kiện hỗ trợ, tài trợ của Quỹ; đồng thời quy định cụ thể nội dung chi, định mức khoán chi, phương thức khoán chi cũng như việc tạm ứng, điều chỉnh kinh phí, nghiệm thu, thanh quyết toán, kiểm tra, giám sát, công khai thông tin và hoàn trả, bồi hoàn kinh phí.
Đối tượng áp dụng gồm: Quỹ; các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có dự án, nhiệm vụ, hoạt động được Quỹ hỗ trợ, tài trợ hoặc đề xuất Quỹ hỗ trợ, tài trợ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc quản lý, sử dụng nguồn kinh phí hỗ trợ, tài trợ của Quỹ.
Bảo đảm kinh phí hỗ trợ, tài trợ của Quỹ đúng mục tiêu, đúng đối tượng
Theo Thông tư, việc thực hiện kinh phí hỗ trợ, tài trợ của Quỹ phải bảo đảm tuân thủ nguyên tắc quy định tại Nghị quyết số 197/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật (Nghị quyết số 197/2025/QH15), Nghị định số 289/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 197/2025/QH15 (Nghị định số 289/2025/NĐ-CP), quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và quy định tại Thông tư; bảo đảm đúng mục tiêu, phạm vi, đối tượng, điều kiện, nguồn tài chính của Quỹ; công khai, minh bạch, hiệu quả, tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, lợi ích nhóm, cục bộ và ngăn chặn mọi biểu hiện trục lợi, hướng lái chính sách trong công tác xây dựng chính sách, pháp luật.
Việc xây dựng dự toán, thanh, quyết toán đối với các dự án, nhiệm vụ, hoạt động được hỗ trợ, tài trợ thực hiện theo cơ chế khoán chi trên sản phẩm hoàn thành. Mức kinh phí hỗ trợ, tài trợ phê duyệt được xác định căn cứ vào tính chất, quy mô, khối lượng công việc, yêu cầu về chất lượng sản phẩm, thời gian thực hiện và khả năng nguồn tài chính của Quỹ. Trường hợp dự án, nhiệm vụ, hoạt động có nội dung không áp dụng phương thức khoán chi thì nội dung đó được quản lý, sử dụng, thanh, quyết toán theo dự toán được phê duyệt, chi phí thực tế phát sinh và hóa đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lệ theo quy định.
Sản phẩm hoàn thành để nghiệm thu, thanh, quyết toán được bàn giao theo hình thức phù hợp với tính chất của sản phẩm. Đối với sản phẩm có nội dung phù hợp để số hóa phải được bàn giao dưới dạng dữ liệu điện tử có cấu trúc theo yêu cầu kỹ thuật để phục vụ cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và được xác định trong hợp đồng hỗ trợ, tài trợ.
Kinh phí hỗ trợ, tài trợ của Quỹ từ các nguồn tài chính ngoài ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 289/2025/NĐ-CP được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của Quỹ mở tại ngân hàng thương mại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác của tổ chức, cá nhân hỗ trợ, tài trợ hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan. Đối với hỗ trợ bằng hiện vật, việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng, hạch toán, công khai và xử lý được thực hiện theo Nghị định số 289/2025/NĐ-CP, pháp luật có liên quan, Điều lệ tổ chức và hoạt động, quy trình nội bộ của Quỹ và thỏa thuận đóng góp hỗ trợ giữa Quỹ với tổ chức, cá nhân hỗ trợ, tài trợ.
Ưu tiên nguồn lực cho các hoạt động trọng tâm trong xây dựng pháp luật
Thông tư quy định cụ thể nội dung, định mức khoán chi đối với các nhiệm vụ, hoạt động được Quỹ hỗ trợ, tài trợ gồm: Nghiên cứu, hoạch định chiến lược về xây dựng pháp luật; nghiên cứu chính sách, tham gia xây dựng pháp luật quốc tế; hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, thuê chuyên gia, tổ chức tư vấn tham gia nghiên cứu, xây dựng chính sách, pháp luật. Bên cạnh đó, Quỹ còn hỗ trợ các hoạt động tổ chức, tham gia hội nghị, hội thảo, diễn đàn pháp lý trong nước và quốc tế; một số hoạt động giám sát thi hành pháp luật, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật; nhiệm vụ, hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật và các nhiệm vụ, hoạt động khác trong xây dựng pháp luật theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền hoặc do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định.
Đặc biệt, đối với dự án, nhiệm vụ, hoạt động đã được ngân sách nhà nước cấp kinh phí nhưng cần bổ sung kinh phí, Quỹ chỉ hỗ trợ, tài trợ đối với nội dung cần bổ sung kinh phí nhằm tạo thay đổi đột phá, tích cực, hiệu quả, bền vững về xây dựng pháp luật. Mức kinh phí bổ sung được xác định trên cơ sở phần kinh phí đã được ngân sách nhà nước hoặc nguồn hợp pháp khác bố trí, khối lượng công việc đã hoàn thành tương ứng với phần kinh phí đã được bố trí.
Quy định chặt chẽ quy trình hỗ trợ, tài trợ
Thông tư quy định cụ thể quy trình từ lập hồ sơ đề xuất hỗ trợ, tài trợ đến đánh giá, xét duyệt và giao kinh phí hỗ trợ, tài trợ. Trong đó, bản thuyết minh về dự án, nhiệm vụ, hoạt động đề xuất hỗ trợ, tài trợ ngoài các nội dung theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 20 của Nghị định số 289/2025/NĐ-CP phải thể hiện rõ sự cần thiết, phạm vi, nội dung công việc, sản phẩm hoàn thành, tiến độ và phương án tổ chức thực hiện; dự toán kinh phí đề nghị hỗ trợ, tài trợ; cam kết về tính trung thực của hồ sơ, không trùng lặp nguồn kinh phí, bảo vệ bí mật nhà nước, phòng ngừa xung đột lợi ích và tuân thủ chế độ báo cáo, nghiệm thu, thanh, quyết toán và hoàn trả, bồi hoàn kinh phí theo quy định.
Dự toán kinh phí hỗ trợ, tài trợ phải chi tiết theo các nội dung: Tên nội dung chi, đơn vị tính, số lượng, định mức khoán chi, thành tiền, căn cứ pháp lý áp dụng và nguồn kinh phí khác tham gia thực hiện (nếu có). Các nội dung không áp dụng phương thức khoán chi theo quy định tại Thông tư, dự toán phải thể hiện rõ khối lượng dự kiến, đơn giá, chi phí thực tế thị trường và căn cứ lập dự toán.
Việc xét duyệt dự toán kinh phí hỗ trợ, tài trợ được xem xét, đánh giá theo 05 nội dung: (i) Sự cần thiết, tính hợp lý, hợp lệ của từng nội dung chi; (ii) Sự phù hợp của định mức khoán chi, tổng mức kinh phí với khối lượng công việc, yêu cầu chuyên môn, sản phẩm hoàn thành, tiến độ thực hiện; (iii) Sự phù hợp của phương thức tạm ứng, thanh, quyết toán với tính chất dự án, nhiệm vụ, hoạt động và khả năng kiểm soát rủi ro của Quỹ; (iv) Khả năng nguồn tài chính của Quỹ tại thời điểm xem xét hỗ trợ, tài trợ; (v) Sự phù hợp của nội dung đề xuất bổ sung kinh phí đối với dự án, nhiệm vụ, hoạt động đã được ngân sách nhà nước cấp kinh phí theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Thông tư.
Đáng chú ý, Quỹ được thuê chuyên gia, tổ chức tư vấn đánh giá, tư vấn độc lập để phục vụ việc đánh giá, xét duyệt hồ sơ và dự toán kinh phí trong trường hợp hồ sơ đề xuất hỗ trợ, tài trợ hoặc dự toán kinh phí hỗ trợ, tài trợ có quy mô lớn, tính chất phức tạp hoặc có nội dung chuyên môn đặc thù.
Xác định mức tạm ứng kinh phí hỗ trợ, tài trợ phù hợp với tính chất, yêu cầu của nhiệm vụ
Việc tạm ứng kinh phí hỗ trợ, tài trợ được thực hiện một lần trong trường hợp cần thiết để triển khai dự án, nhiệm vụ, hoạt động đã được phê duyệt và phải được quy định cụ thể trong quyết định hỗ trợ, tài trợ và hợp đồng hỗ trợ, tài trợ. Mức tạm ứng không quá 30% tổng mức kinh phí hỗ trợ, tài trợ được phê duyệt.
Trường hợp dự án, nhiệm vụ, hoạt động có tính cấp bách, phức tạp, cần huy động chuyên gia, tổ chức tư vấn, đơn vị cung cấp dịch vụ để bảo đảm tiến độ, mức tạm ứng có thể cao hơn nhưng không quá 50% tổng mức kinh phí hỗ trợ, tài trợ được phê duyệt.
Thời hạn tạm ứng được xác định cụ thể trong quyết định hỗ trợ, tài trợ và hợp đồng hỗ trợ, tài trợ, phù hợp với kế hoạch triển khai, kế hoạch sử dụng kinh phí tạm ứng, tiến độ thực hiện và thời điểm nghiệm thu sản phẩm, kết quả tương ứng với khoản tạm ứng.
Khoản lãi phát sinh từ kinh phí tạm ứng (nếu có) được hạch toán riêng và xử lý như sau:
(i) Trường hợp tổng số kinh phí đã tạm ứng và khoản lãi phát sinh lớn hơn số kinh phí được quyết toán: Chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ có trách nhiệm hoàn trả phần chênh lệch còn lại cho Quỹ.
(ii) Trường hợp tổng số kinh phí đã tạm ứng và khoản lãi phát sinh nhỏ hơn số kinh phí được quyết toán: Sau khi nghiệm thu sản phẩm hoàn thành, thanh lý hợp đồng, Quỹ thực hiện thanh toán số kinh phí còn lại cho chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ; số kinh phí thanh toán còn lại được xác định bằng số kinh phí được quyết toán trừ đi tổng số kinh phí đã tạm ứng và khoản lãi phát sinh.
(iii) Chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ không được sử dụng khoản lãi phát sinh vào mục đích khác ngoài việc quyết toán dự án, nhiệm vụ, hoạt động được Quỹ hỗ trợ, tài trợ.
Chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ được chủ động điều chỉnh dự toán trong phạm vi nhất định
Trong quá trình thực hiện dự án, nhiệm vụ, hoạt động được Quỹ hỗ trợ, tài trợ, chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ được chủ động điều chỉnh dự toán trong phạm vi nhất định, tạo điều kiện xử lý linh hoạt những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, đồng thời bảo đảm không làm ảnh hưởng đến mục tiêu, phạm vi và kết quả đã được phê duyệt.
Theo đó, việc điều chỉnh dự toán được thực hiện khi không làm tăng tổng mức kinh phí hỗ trợ, tài trợ đã được xét duyệt; không làm thay đổi mục tiêu, phạm vi, sản phẩm hoàn thành, tiến độ chủ yếu và phương thức chi đã được phê duyệt; không phát sinh nội dung chi ngoài phạm vi được Quỹ hỗ trợ, tài trợ. Việc điều chỉnh cũng không được vượt định mức khoán chi hoặc chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi hiện hành; đồng thời phải bảo đảm không phát sinh tình trạng trùng lặp nguồn kinh phí, xung đột lợi ích hoặc trục lợi chính sách.
Để bảo đảm tính chủ động đi đôi với trách nhiệm, chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ phải lập và phê duyệt phương án điều chỉnh nội bộ, chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định điều chỉnh dự toán; đồng thời, phải thực hiện theo dõi, hạch toán, lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu, chứng từ liên quan và gửi văn bản báo cáo kèm theo phương án điều chỉnh cho Quỹ để phục vụ công tác theo dõi, kiểm tra khi nghiệm thu, quyết toán.
Trường hợp việc điều chỉnh làm tăng tổng mức kinh phí hỗ trợ, tài trợ đã được xét duyệt, Quỹ chỉ xem xét điều chỉnh khi thuộc một trong các trường hợp:
(i) Chính sách, chế độ hoặc định mức chi của Nhà nước có sự thay đổi, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu, phạm vi, sản phẩm hoàn thành của dự án, nhiệm vụ, hoạt động đã được Quỹ phê duyệt hỗ trợ, tài trợ.
(ii) Khối lượng công việc hoặc nội dung công việc được điều chỉnh theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định số 289/2025/NĐ-CP mà việc điều chỉnh này bắt buộc phải tăng tổng mức kinh phí hỗ trợ, tài trợ đã được xét duyệt để đáp ứng mục tiêu, phạm vi, sản phẩm hoàn thành của dự án, nhiệm vụ, hoạt động đã được Quỹ phê duyệt hỗ trợ, tài trợ.
(iii) Xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc nguyên nhân khách quan khác mà chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ không thể lường trước và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý, làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện dự án, nhiệm vụ, hoạt động đã được Quỹ phê duyệt hỗ trợ, tài trợ.
Quỹ không xem xét điều chỉnh tăng kinh phí đối với các khoản kinh phí phát sinh do lỗi chủ quan của chủ thể nhận hỗ trợ, tài trợ hoặc các nội dung chi không thuộc phạm vi hỗ trợ, tài trợ của Quỹ.