![]() |
| Chiều ngày 18/8, trong khuôn khổ Diễn đàn Pháp luật ASEAN năm 2026, phiên toàn thể 2 diễn ra với sự tham dự của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh |
Hoàn thiện khung chính sách và thể chế về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật
Trình bày tham luận “Các mô hình và thực tiễn tốt về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xây dựng và thi hành pháp luật”, TS. Lê Tuấn Phong, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp phân tích thực tiễn trong nước và kinh nghiệm quốc tế, qua đó đề xuất các định hướng thúc đẩy ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xây dựng và thi hành pháp luật tại Việt Nam.
Theo TS. Lê Tuấn Phong, trước hết cần hoàn thiện khung chính sách và thể chế về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật; xây dựng các nguyên tắc, hướng dẫn thống nhất về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật. Trong đó, cần xác định rõ phạm vi ứng dụng, trách nhiệm của cơ quan sử dụng, cơ chế kiểm soát chất lượng, bảo đảm tính minh bạch, khả năng giải trình và nguyên tắc “con người quyết định cuối cùng”. Trí tuệ nhân tạo cần được xác định là công cụ hỗ trợ, không thay thế trách nhiệm pháp lý của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh phát biểu tại phiên toàn thể 2 |
Cùng với đó, cần xây dựng hệ sinh thái dữ liệu pháp luật quốc gia kết hợp với các bộ dữ liệu chuyên ngành đạt chuẩn, sẵn sàng cho trí tuệ nhân tạo; nghiên cứu phát triển Trợ lý trí tuệ nhân tạo chuyên ngành pháp luật Việt Nam; ưu tiên ứng dụng trí tuệ nhân tạo theo toàn bộ vòng đời của văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực pháp luật trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.
Một nội dung khác được TS. Lê Tuấn Phong nhấn mạnh là thúc đẩy hợp tác quốc tế và hợp tác công - tư. Việt Nam cần tăng cường trao đổi kinh nghiệm với các tổ chức quốc tế như Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, các nước ASEAN và những quốc gia có kinh nghiệm trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quản trị công. Đồng thời, khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và trường đại học trong nghiên cứu, phát triển các giải pháp trí tuệ nhân tạo phục vụ hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật.
![]() |
| TS. Lê Tuấn Phong, Phó Vụ trưởng Vụ Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, Bộ Tư pháp phát biểu tại phiên toàn thể 2 |
Theo Phó Vụ trưởng, sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo đang mở ra cơ hội quan trọng để đổi mới hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật theo hướng khoa học, minh bạch và hiệu quả hơn. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy trí tuệ nhân tạo không thay thế vai trò của các chủ thể có thẩm quyền mà trở thành công cụ hỗ trợ quan trọng trong phân tích dữ liệu, xây dựng chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Đối với Việt Nam, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật cần được triển khai theo lộ trình phù hợp, gắn với quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển Chính phủ số và thực hiện các chủ trương lớn của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Theo đó, cần chuyển từ tư duy ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong một số công đoạn sang thiết kế hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo hỗ trợ toàn bộ vòng đời xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng Khung hợp tác ASEAN về chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo
Từ nghiên cứu thực tiễn, TS. Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp cho biết, các quốc gia ASEAN lựa chọn những điểm khởi đầu khác nhau trong ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào lĩnh vực pháp luật và hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, các nước đều không xem trí tuệ nhân tạo là một giải pháp tồn tại độc lập với dữ liệu, quy trình và trách nhiệm của cơ quan sử dụng.
Theo Viện trưởng Nguyễn Văn Cương, hướng tiếp cận của mỗi quốc gia phản ánh điều kiện thể chế và nhu cầu riêng, đồng thời gợi mở cách thức hợp tác phù hợp cho ASEAN trong thời gian tới. Thay vì tìm kiếm một mô hình ứng dụng thống nhất, hợp tác khu vực nên tạo điều kiện để các quốc gia chia sẻ phương pháp, nguồn dữ liệu, kết quả thử nghiệm và bài học quản trị, từ đó lựa chọn những giải pháp có thể thích ứng với hệ thống pháp luật và mức độ sẵn sàng của từng nước.
![]() |
| TS. Nguyễn Văn Cương, Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp phát biểu tại phiên toàn thể 2 |
Đề xuất các định hướng, sáng kiến tăng cường hợp tác trong khu vực, TS. Nguyễn Văn Cương cho rằng, cần nghiên cứu xây dựng Khung hợp tác ASEAN về chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và hoạt động tư pháp; xây dựng Mạng lưới thông tin và tri thức pháp luật ASEAN; tổ chức diễn đàn thường kỳ về LegalTech và trí tuệ nhân tạo ASEAN; hình thành Mạng lưới nghiên cứu và đào tạo ASEAN về trí tuệ nhân tạo, pháp luật và tư pháp.
Về lộ trình thực hiện, Viện trưởng cho biết, trong giai đoạn 2026-2030, trọng tâm hợp tác trước hết cần tạo lập cơ sở thể chế và nhận diện đúng nhu cầu của các quốc gia thành viên. Sự khác biệt giữa các nước ASEAN hiện không chỉ nằm ở mức độ phát triển hạ tầng hoặc nguồn lực tài chính mà còn thể hiện ở cách thức tổ chức cơ sở dữ liệu pháp luật, tình trạng số hóa thủ tục tư pháp và quan điểm về việc sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Trên cơ sở kết quả thí điểm, hợp tác có thể chuyển sang kiểm chứng khả năng vận hành của các sáng kiến ở quy mô lớn hơn. Cùng với đó, ASEAN có thể từng bước xây dựng bộ thuật ngữ pháp lý đa ngôn ngữ, trí tuệ nhân tạo pháp lý và chương trình đào tạo gắn trực tiếp với các dự án.
Sau năm 2030, trên cơ sở tổng hợp các kết quả đã được kiểm chứng, ASEAN có thể xem xét kết nối sâu hơn các nguồn dữ liệu công khai và phát triển cơ chế xác thực tài liệu hoặc trao đổi thông tin pháp luật, tư pháp. Như vậy, lộ trình được phát triển từ xây dựng nền tảng sang kiểm chứng và mở rộng, rồi đến chuẩn hóa và thể chế hóa, bảo đảm mức độ hợp tác được nâng lên trên cơ sở kết quả thực tế và sự đồng thuận của các thành viên.
Bên cạnh đó, TS. Nguyễn Văn Cương cho rằng, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang mở ra cơ hội nâng cao chất lượng xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật và hoạt động tư pháp, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu mới về độ tin cậy, bảo vệ dữ liệu, trách nhiệm giải trình và giám sát của con người. Vì vậy, hợp tác ASEAN cần được triển khai từng bước, linh hoạt, tôn trọng sự khác biệt về thể chế, ngôn ngữ và năng lực hạ tầng công nghệ của các quốc gia thành viên.