![]() |
| Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ các quy định của dự thảo Luật về văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ |
Ngày 20/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh và Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đặng Hoàng Oanh đồng chủ trì cuộc họp Hội đồng thẩm định hồ sơ dự án Luật về văn bản quy phạm pháp luật. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Theo cơ quan chủ trì soạn thảo, việc ban hành Luật về văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, đặc biệt là Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (Kết luận số 09-KL/TW) và Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật.
Dự thảo Luật sửa đổi phạm vi điều chỉnh theo hướng quy định đầy đủ về xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, thay cho quy định hiện hành chỉ điều chỉnh “nội dung cơ bản về tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật”; đồng thời cơ cấu lại các nguyên tắc xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm gắn kết giữa xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật.
Bên cạnh đó, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được hoàn thiện theo hướng tinh gọn hình thức văn bản và sắp xếp lại phạm vi nội dung của các hình thức văn bản còn được duy trì. Theo đó, một số nội dung hiện được quy định bằng nghị quyết của Quốc hội được chuyển sang luật; nội dung hiện được quy định bằng nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được chuyển sang pháp lệnh; nội dung hiện được quy định bằng nghị quyết của Chính phủ được chuyển sang nghị định; phạm vi nội dung của lệnh của Chủ tịch nước được xác định cụ thể; đồng thời, dự thảo Luật hợp nhất, sắp xếp lại các quy định về thông tư, thông tư liên tịch và văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương.
Về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ và Chương trình lập pháp hằng năm, dự thảo Luật điều chỉnh thời điểm hoàn thành Định hướng lập pháp nhiệm kỳ sang trong năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội; điều chỉnh phạm vi nhiệm vụ lập pháp phù hợp với việc tinh gọn hình thức văn bản; chuyển hình thức thông qua Chương trình lập pháp hằng năm từ nghị quyết sang pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; quy định luật có tính nền tảng, luật quan trọng khác có thể được xem xét, thông qua theo quy trình nhiều kỳ họp; bổ sung đầu mối của Chính phủ tiếp nhận, tổng hợp định kỳ các đề xuất điều chỉnh Chương trình; sửa đổi điều kiện, hồ sơ và cách thức bổ sung dự án luật cấp bách vào chương trình kỳ họp Quốc hội đang diễn ra hoặc kỳ họp gần nhất.
Góp ý đối với nội dung về sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật, có đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định đối với trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung nội dung phụ lục. Theo đó, cần quy định rõ việc sửa đổi, bổ sung phụ lục phải được cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quyết định, nhất là trong trường hợp văn bản thuộc diện không thể thay thế.
Đối với Điều 48 dự thảo Luật, có ý kiến cho rằng, quy định tại điểm d và điểm e về thời điểm có hiệu lực của văn bản trong thời hạn ít nhất 30 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Theo đại biểu, thời hạn 30 ngày là quá ngắn để các cơ quan có thể xây dựng, hoàn thiện và ban hành văn bản hướng dẫn, nhất là khi phải thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Với khoảng thời gian này, việc chuẩn bị văn bản hướng dẫn khó có thể bảo đảm đầy đủ các điều kiện cần thiết về nội dung cũng như trình tự, thủ tục. Do đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu nâng thời hạn tối thiểu từ 30 ngày lên 60 ngày, nhằm tạo đủ khoảng thời gian để các cơ quan có thẩm quyền chuẩn bị, hoàn thiện văn bản hướng dẫn, qua đó bảo đảm tính khả thi của văn bản sau khi được ban hành.
Liên quan đến Điều 56 dự thảo Luật về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, đại biểu cho rằng, cả hai phương án được đưa ra trong khoản 5 đều có những khó khăn, vướng mắc nhất định và cần tiếp tục được đánh giá kỹ trước khi lựa chọn; đồng thời nghiên cứu bổ sung cơ chế xác định, nhận diện văn bản chuyên ngành để bảo đảm tính rõ ràng, khả thi và hạn chế rủi ro trong quá trình áp dụng pháp luật.
![]() |
| Toàn cảnh cuộc họp |
Kết luận cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ các quy định của dự thảo Luật, bảo đảm tính chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ, đồng thời làm rõ nội hàm và trách nhiệm của các chủ thể trong xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành pháp luật.
Về nguyên tắc xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành pháp luật, Thứ trưởng cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ đặc thù của văn bản quy phạm pháp luật trong mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước. Theo đó, bên cạnh yêu cầu về tính đúng đắn, chặt chẽ, cần chú trọng đến tính chất của văn bản quy phạm pháp luật, trong đó phải xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các chủ thể; bảo đảm kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình, tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong hoạt động quản lý nhà nước.
Liên quan đến áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, Thứ trưởng cho biết, nhiều ý kiến lựa chọn phương án 1, tuy nhiên cả hai phương án hiện còn chưa làm rõ được cơ chế áp dụng. Do đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần nghiên cứu kỹ, cân nhắc theo hướng chỉ đưa ra một phương án có tính khả thi, quy định trực tiếp, cụ thể và rõ ràng hơn, thay vì đưa ra hai phương án nhưng khó xác định phương án nào phù hợp.
Đối với Chương VIII về tổ chức thi hành pháp luật, Thứ trưởng lưu ý, việc thiết kế trách nhiệm của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp cần quy định ngắn gọn và rõ trách nhiệm. Đối với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có thể quy định theo hướng chịu trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý; đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định theo hướng chịu trách nhiệm tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi của địa phương.