Thứ tư 26/08/2026 14:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.

Phát huy vai trò của văn hóa, gia đình và con người Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội

Kế hoạch được ban hành nhằm kịp thời thể chế và tổ chức thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội khóa XVI về phát triển văn hóa Việt Nam và Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW; đồng thời thiết lập cơ chế vận hành, triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, gắn kết chặt chẽ hoạt động xây dựng, hoàn thiện thể chế với yêu cầu thực hành các hệ giá trị trong thực tiễn.

Kế hoạch được triển khai cũng góp phần đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; phát huy vai trò của văn hóa, gia đình và con người Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển nhanh, bền vững đất nước; tăng cường xây dựng môi trường văn hóa, văn minh, lành mạnh; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực; phát huy nguồn lực nội sinh và lợi thế cạnh tranh quốc gia từ văn hóa, con người Việt Nam trong tiến trình hội nhập, phát huy bản sắc, tính đa dạng văn hóa của dân tộc và định vị thương hiệu quốc gia; gắn triển khai các hệ giá trị với phát triển công nghiệp văn hóa, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Theo đó, hệ giá trị quốc gia (hòa bình, thống nhất, độc lập, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc) định hướng lý tưởng, mục tiêu và khát vọng phát triển đất nước, bồi đắp lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức công dân, tinh thần thượng tôn pháp luật, trách nhiệm xã hội, tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và trách nhiệm xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Hệ giá trị văn hóa (dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học) tạo nền tảng tinh thần của xã hội, bồi dưỡng lòng nhân ái, nghĩa tình, trung thực, khoan dung, tôn trọng sự khác biệt, lối sống văn minh, tinh thần dân chủ, tư duy khoa học, năng lực sáng tạo và trách nhiệm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Hệ giá trị gia đình (ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh) là môi trường đầu tiên hình thành và nuôi dưỡng nhân cách con người, vun đắp tình yêu thương, sự tôn trọng, bình đẳng, chia sẻ, trách nhiệm, hiếu thảo, thủy chung và sự gắn kết giữa các thành viên.

Chuẩn mực con người Việt Nam (yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo) là sự kết tinh các giá trị quốc gia, văn hóa và gia đình, được thể hiện qua các phẩm chất cốt lõi như: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo, khát vọng vươn lên và tinh thần cống hiến.

Hoàn thiện thể chế, lan tỏa các hệ giá trị trong mọi lĩnh vực của đời sống

Nội dung thực hiện Kế hoạch cần thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển văn hóa, gia đình; có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, phát triển con người toàn diện làm nền tảng triển khai đồng bộ các hệ giá trị, tạo hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ toàn vẹn chủ quyền văn hóa của quốc gia, dân tộc và con người Việt Nam; tập trung cụ thể hóa các hệ giá trị thành chuẩn mực, quy tắc ứng xử văn hóa và phẩm chất phù hợp với từng lĩnh vực, ngành nghề và nhóm đối tượng; nghiên cứu thực hiện lồng ghép tiêu chí các hệ giá trị vào chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời góp phần xây dựng nền tảng giá trị vững chắc cho sự phát triển của đất nước; nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện cơ chế thí điểm, nhân rộng các mô hình hiệu quả trong thực hành đồng bộ các hệ giá trị phù hợp với từng lĩnh vực, ngành, nghề và các nhóm đối tượng; đánh giá tác động đối với các hệ giá trị trong quá trình xây dựng và triển khai văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Về các nhiệm vụ, giải pháp chung, Kế hoạch xác định: Tổ chức quán triệt, tuyên truyền, giáo dục về nội hàm, ý nghĩa và yêu cầu thực hành các hệ giá trị nhằm nâng cao nhận thức, tư tưởng, tạo chuyển biến căn bản trong hành vi ứng xử văn hóa, hình thành lối sống lành mạnh, chuẩn mực của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân; đồng thời, tập trung tuyên truyền, giáo dục, lan tỏa truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, các giá trị yêu nước, đoàn kết, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, tự cường, sáng tạo và khát vọng cống hiến; nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật, trách nhiệm xã hội, trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và đất nước; đổi mới, đa dạng phương thức truyền thông về các hệ giá trị, xây dựng thông điệp ngắn gọn, thiết thực, dễ hiểu, sâu sắc, có sức lan tỏa và phù hợp với đặc điểm của từng nhóm đối tượng.

Bên cạnh đó, Kế hoạch yêu cầu đẩy mạnh truyền thông đối ngoại, quảng bá các hệ giá trị thông qua cơ quan ngoại giao Việt Nam và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; tăng cường giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, thực hành văn hóa công sở, văn hóa kinh doanh, nếp sống văn hóa trong gia đình và cộng đồng; lồng ghép truyền thông, giáo dục về các hệ giá trị với chăm sóc sức khỏe Nhân dân; tích hợp thành tố của các hệ giá trị vào chương trình giáo dục chính khóa các cấp học, chương trình phát triển văn hóa đọc; triển khai hiệu quả các chương trình giáo dục chuyên biệt nhằm định hướng hành vi, lối sống tích cực, nhân văn, văn minh, đẩy lùi tiêu cực; bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực triển khai đồng bộ các hệ giá trị cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa từ trung ương đến cơ sở...

Phân công rõ trách nhiệm, bảo đảm nguồn lực triển khai Kế hoạch

Liên quan đến việc tổ chức thực hiện, Thủ tướng Chính phủ đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai các nhiệm vụ, giải pháp của Kế hoạch trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch; hướng dẫn, đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện Kế hoạch; kịp thời tham mưu, đề xuất cấp có thẩm quyền giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Kế hoạch; định kỳ tổng hợp kết quả thực hiện Kế hoạch, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 25/12 hằng năm; chủ trì phối hợp sơ kết, tổng kết việc thực hiện Kế hoạch; tham mưu, đề xuất các giải pháp cho giai đoạn tiếp theo...

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, chịu trách nhiệm chỉ đạo xây dựng kế hoạch của đơn vị triển khai các nhiệm vụ theo Kế hoạch; lồng ghép thực hành các hệ giá trị trong chương trình, kế hoạch, đề án đang thực hiện; hằng năm bố trí nhân lực, kinh phí để triển khai hiệu quả các nhiệm vụ của Kế hoạch bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả; báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trước ngày 15/12 hằng năm để tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí thực hiện Kế hoạch trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ, cơ quan trung ương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai tại địa phương bảo đảm bám sát thực tiễn, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; hằng năm bố trí nhân lực, kinh phí để bảo đảm triển khai hiệu quả các nhiệm vụ của Kế hoạch; nghiên cứu lồng ghép triển khai Kế hoạch vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; chỉ đạo đẩy mạnh các giải pháp xã hội hóa, huy động các nguồn lực hợp pháp để triển khai đồng bộ các hệ giá trị...

Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức thành viên; các hội quần chúng; các cơ quan báo chí chủ lực đa phương tiện, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chỉ đạo, định hướng công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tích cực thực hành các hệ giá trị; chủ trì, hướng dẫn lồng ghép nhiệm vụ, giải pháp của Kế hoạch vào các cuộc vận động, phong trào; nghiên cứu, xây dựng, triển khai mô hình thực hành các hệ giá trị; tăng cường giám sát, phản biện xã hội, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hành các hệ giá trị; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu chuẩn hóa nội hàm, khái niệm các hệ giá trị; xu hướng biến đổi của từng hệ giá trị, xây dựng cơ sở lý luận, thực tiễn và bộ tiêu chí phục vụ theo dõi, đánh giá việc triển khai các hệ giá trị; xây dựng chuyên trang, chuyên mục, chương trình tuyên truyền, phổ biến, lan tỏa các hệ giá trị; tổ chức phát sóng định kỳ hằng tháng theo chuyên đề phù hợp với từng nhóm đối tượng.

Các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bảo đảm nguồn lực hằng năm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra tại Kế hoạch; lồng ghép hiệu quả trong triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia đã được phê duyệt theo quy định; đẩy mạnh huy động các nguồn tài trợ, đóng góp tự nguyện từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước; khuyến khích phát huy xã hội hóa trong tổ chức sự kiện và vận hành thiết chế văn hóa theo quy định của pháp luật.

Thùy Dung

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: