Thứ sáu 07/08/2026 11:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.

Từ khóa: quyết định hành chính; quyết định tư pháp; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; người chưa thành niên.

THE LEGAL NATURE OF THE DECISION TO APPLY MEASURES TO SEND MINORS TO COMPULSORY REHABILITATION CENTERS AND RECOMMENDATIONS FOR IMPROVING THE LAW

Abstract: The 2021 Law on Drug Prevention and Control stipulates the application of compulsory drug rehabilitation measures for minors aged 12 to under 18 who are addicted to drugs and do not voluntarily seek treatment. Although not considered an administrative measure, this measure isolates the subject from the community. To protect the rights of minors aged 12 to under 18, the law allows relevant parties to file complaints, petitions, and appeals against decisions applying compulsory drug rehabilitation measures. However, current law does not provide for the right to sue or appeal against this decision. This study analyzes the legal nature of decisions applying compulsory drug rehabilitation measures to minors aged 12 to under 18, and proposes solutions to improve legal regulations to ensure the legitimate rights and interests of those subjected to this measure.

Keywords: Administrative decision; Judicial decision; compulsory admission to a rehabilitation center; minors.

Đặt vấn đề

Lý thuyết kiểm soát ma túy cho rằng, cần phải cách ly người nghiện ma túy không tự nguyện cai nghiện ra khỏi cộng đồng bằng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc[1]. Điều này tạo điều kiện cho họ an tâm cai nghiện, do đó, từ năm 1990, biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc được áp dụng đối với người nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Ngày 16/8/2019, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 36­-CT/TW về tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy (Chỉ thị số 36-­CT/TW). Nhằm triển khai thực hiện Chỉ thị số 36­-CT/TW, Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 được ban hành để thay thế Luật Phòng, chống ma túy năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2008 với nhiều nội dung mới về phòng, chống ma túy do người chưa thành niên thực hiện[2]. Theo Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 và Luật Phòng, chống ma túy năm 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 (thay thế Luật Phòng, chống ma túy năm 2021), Tòa án nhân dân áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện.

Vấn đề đặt ra, “quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy” là quyết định hành chính hay quyết định tư pháp. Việc nhận diện đúng bản chất pháp lý và thiết lập cơ chế xử lý khi quyết định này có dấu hiệu trái pháp luật đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên khi áp dụng biện pháp này.

1. Khái quát về biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy

Điều 28 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Phòng, chống ma túy năm 2021) và Điều 30 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định cai nghiện ma túy gồm cai nghiện ma túy tự nguyện và cai nghiện ma túy bắt buộc. Trong đó, biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện được thực hiện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại cơ sở cai nghiện ma túy. Biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc được thực hiện tại cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.

Cụ thể, theo Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 thì người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc khi thuộc một trong các trường hợp sau: (i) không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện; (ii) trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy; (iii) người nghiện ma túy các chất dạng thuốc phiện không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế hoặc bị chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế do vi phạm quy định về điều trị nghiện. Hiện, Điều 36 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 có các quy định tương tự Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021.

Như vậy, về đối tượng, biện pháp này được áp dụng đối với mọi cá nhân là người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Điều đó có nghĩa không chỉ người Việt Nam mà cả người nước ngoài nghiện ma túy trong độ tuổi nêu trên đều có thể bị áp dụng biện pháp này.

Về thẩm quyền áp dụng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chưa thành niên nghiện ma túy không tự nguyện cai nghiện cư trú hoặc có hành vi vi phạm trong trường hợp không xác định được nơi cư trú sẽ lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hồ sơ đề nghị được chuyển tới Tòa án nhân dân khu vực để quyết định áp dụng biện pháp này theo khoản 4 Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Hiện, khoản 8 Điều 36 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi thuộc về Tòa án nhân dân khu vực. Việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy do một thẩm phán tiến hành thông qua một phiên họp.

Về trình tự, thủ tục, theo Điều 9 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15[3], trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy, Tòa án nhân dân khu vực thụ lý và phân công thẩm phán xem xét, quyết định áp dụng biện pháp này. Nếu tất cả giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đều đầy đủ, hợp pháp thì trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy.

2. Phân biệt quyết định hành chính với quyết định tư pháp và nhận diện bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy

Để tìm hiểu quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi là quyết định hành chính hay quyết định tư pháp, trước tiên, cần phân biệt quyết định hành chính với quyết định tư pháp. Trên cơ sở đó, đối chiếu quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi với quyết định hành chính và quyết định tư pháp, từ đó, nhận diện bản chất pháp lý của loại quyết định này.

2.1. Phân biệt quyết định hành chính với quyết định tư pháp

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “quyết định pháp luật”. Có quan điểm cho rằng, “quyết định pháp luật” là mệnh lệnh, là hành động thể hiện ý chí quyền lực[4]. Quan điểm khác cho rằng, “quyết định pháp luật” là kết quả và hình thức thể hiện của hoạt động nhà nước[5]. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, quan điểm quyết định pháp luật là kết quả thể hiện ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền[6] là phù hợp nhất. Điều đó có nghĩa, chỉ có cơ quan nhà nước mới có quyền ban hành quyết định pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

Căn cứ vào lĩnh vực thực hiện quyền lực nhà nước, quyết định pháp luật được chia thành quyết định lập pháp, quyết định hành pháp và quyết định tư pháp. Quyết định lập pháp là quyết định được Quốc hội ban hành trong quá trình thực hiện quyền lập pháp. Quyết định tư pháp do cơ quan tư pháp ban hành nhằm thực hiện quyền tư pháp và được thể hiện dưới hình thức các văn bản như bản án, quyết định của các tòa dân sự, hình sự, hành chính... Quyết định hành pháp được hiểu là quyết định trong lĩnh vực hành pháp, hay “quyết định quản lý nhà nước”[7], do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc các cá nhân, tổ chức khi được Nhà nước trao quyền ban hành nhằm thực hiện quyền hành pháp và được thể hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau.

Nghiên cứu cho thấy, về cơ bản, các quan điểm đều thống nhất phân loại quyết định quản lý nhà nước theo tính chất pháp lý thành ba loại: quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm, quyết định cá biệt[8]. Theo đó, quyết định cá biệt là quyết định giải quyết các việc cá biệt ­ cụ thể (quyết định bổ nhiệm, điều động, khen thưởng, kỷ luật hay xử phạt những người vi phạm cụ thể…). Đây là loại “quyết định hành chính” trong văn bản pháp luật Việt Nam[9]. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng, “quyết định hành chính” không chỉ là quyết định cá biệt mà gồm quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm[10]. Trong phạm vi nghiên cứu này, thuật ngữ “quyết định hành chính” được sử dụng với tính chất là quyết định cá biệt nhằm tạo ra cách hiểu thống nhất với các văn bản pháp luật như Luật Tố tụng hành chính năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2019, 2025 (Luật Tố tụng hành chính năm 2015), Luật Khiếu nại năm 2011, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Khiếu nại năm 2011), Luật Tố cáo năm 2018 (sửa đổi, bổ sung các năm 2020, 2025).

Do đều là quyết định pháp luật nên quyết định hành chính có những điểm tương đồng nhưng cũng có sự khác biệt với quyết định tư pháp. Sự khác biệt giữa quyết định hành chính với quyết định tư pháp thể hiện ở những nội dung sau đây:

Thứ nhất, về chủ thể ban hành. Quyết định hành chính do các cơ quan nhà nước (chủ yếu là các cơ quan hành chính), các cá nhân, tổ chức được trao quyền ban hành nhằm thực hiện các nhiệm vụ và chức năng quản lý nhà nước. Trong khi đó, quyết định tư pháp do cơ quan tư pháp (Tòa án) ban hành[11].

Thứ hai, về thủ tục ban hành. Quyết định hành chính ban hành theo thủ tục hành chính còn quyết định tư pháp được ban hành theo thủ tục tư pháp, được quy định cụ thể trong các luật về thủ tục tố tụng.

Thứ ba, về hệ quả pháp lý. Quyết định hành chính có thể là đối tượng bị khởi kiện trong một vụ án hành chính. Ngược lại, quyết định tư pháp không thể bị khởi kiện nhưng có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.

2.2. Nhận diện bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy

Để nhận diện bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy, phải đối chiếu loại quyết định này với quyết định hành chính và quyết định tư pháp.

Thứ nhất, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mang những đặc điểm của quyết định hành chính.

Theo Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy có thể bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. Như vậy, đối với quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy thì cá nhân chỉ có quyền khiếu nại mà không có quyền khởi kiện[12].

Vấn đề đặt ra, tại sao lại có quy định này và có phải quyết định này do Tòa án ban hành nên cá nhân không có quyền khởi kiện. Đồng thời, có phải bất cứ quyết định nào do Tòa án ban hành đều được gọi là quyết định tư pháp. Nghiên cứu cho thấy, không phải mọi quyết định do Tòa án ban hành đều được gọi là quyết định tư pháp vì nhiều quyết định do Tòa án ban hành nhưng lại được gọi là quyết định hành chính như quyết định bổ nhiệm, quyết định kỷ luật[13]…

Xem xét cụ thể thì quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy là quyết định cá biệt, có hình thức thể hiện dưới dạng văn bản. Quyết định này do Tòa án nhân dân khu vực ban hành trong hoạt động quản lý hành chính. Với những phân tích trên, có thể thấy, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy do Tòa án ban hành nhưng lại có những đặc điểm của quyết định hành chính. Có những dấu hiệu đặc trưng của quyết định hành chính nên về nguyên tắc, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy vẫn có thể bị khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 chưa quy định quyền khởi kiện của bất kỳ chủ thể nào đối với quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ hai, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy tuy do Tòa án ban hành có một số dấu hiệu, đặc điểm của quyết định tư pháp nhưng không phải quyết định tư pháp.

Theo quy định tại Chương II Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy được thực hiện tương tự như việc ban hành các quyết định tư pháp của Tòa án. Cụ thể, hoạt động xem xét áp dụng quyết định này được tiến hành gồm giai đoạn thụ lý, chuẩn bị và mở phiên họp. Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy bên cạnh Thẩm phán và Thư ký phải có mặt Kiểm sát viên, Trưởng Công an cấp xã hoặc người được ủy quyền, người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Nhìn chung, thủ tục tiến hành phiên họp được thực hiện gần giống với diễn biến phiên tòa, phiên họp của Tòa án trong xét xử vụ án/giải quyết vụ việc.

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 36 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy. Có thể thấy, trong hoạt động tố tụng, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là quyền năng pháp lý được Nhà nước trao cho Viện kiểm sát đối với các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi có kháng nghị của Viện kiểm sát, những phần của bản án, quyết định bị kháng nghị chưa có hiệu lực thi hành. Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là đặc quyền của Viện kiểm sát dành riêng cho các quyết định tư pháp. Như vậy, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc cũng có những dấu hiệu đặc trưng của một quyết định tư pháp. Tuy nhiên, hiện pháp luật hiện hành không quy định quyền kháng cáo cho người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Nếu xem loại quyết định này là kết quả của hoạt động tố tụng do Tòa án ban hành và là đối tượng bị Viện kiểm sát kháng nghị thì một trong những quyền quan trọng nhất phải được bảo đảm là quyền kháng cáo của người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 không thừa nhận quyền kháng cáo cho người bị áp dụng biện pháp này. Với việc “khước từ” quyền kháng cáo của người bị áp dụng, Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 dường như “ngụ ý” quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy cũng không phải là một quyết định tư pháp.

Thứ ba, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy chưa được pháp luật quy định rõ ràng là quyết định hành chính hay quyết định tư pháp.

Từ những phân tích trên cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa xác định cụ thể quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy là quyết định hành chính hay quyết định tư pháp. Khi thừa nhận quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy là quyết định hành chính thì phải thừa nhận quyền khởi kiện đối với quyết định này. Ngược lại, nếu thừa nhận đây là quyết định tư pháp thì cần ghi nhận quyền kháng cáo đối với loại quyết định này. Tuy nhiên, cả quyền khởi kiện và quyền kháng cáo đối với quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đều không được thừa nhận.

Nghị quyết số 27-­NQ/TW[14] xác định nhiệm vụ mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong quyết định một số vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Theo đó, Tòa án xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy, một mặt thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và cải cách hành chính. Mặt khác, điều này cũng tăng cường tính công khai, minh bạch, hiệu quả trong thủ tục xem xét, quyết định đưa người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Hiện, pháp luật Việt Nam đang tuân thủ các tiêu chuẩn và quy tắc quốc tế về cách ly của người chưa thành niên khỏi xã hội (Công ước về quyền trẻ em ­ CRC, Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1990 ­ Quy tắc Havana)[15]. Tuy nhiên, thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy hoàn toàn khác biệt với thủ tục tư pháp tước tự do của người chưa thành niên vi phạm hình sự. Cụ thể, mặc dù Tòa án giải quyết nhưng thủ tục tiến hành không phải bằng một phiên tòa mà chỉ bằng phiên họp. Vì vậy, khó có thể cho rằng, thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy là thủ tục tư pháp. Do đó, kết quả của thủ tục này, tức là quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy không thể là quyết định tư pháp. Nghiên cứu cho thấy, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mang nhiều nét tương đồng với quyết định hành chính.

Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định đối tượng khởi kiện hành chính là các quyết định hành chính. Theo đó, “quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”. Khoản 2 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 cũng quy định rõ về quyết định hành chính bị kiện. Cụ thể, “quyết định hành chính bị kiện” là “quyết định hành chính mà quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

Theo quy định này, quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện hành chính phải có các đặc điểm sau: (i) quyết định hành chính là quyết định cá biệt; (ii) hình thức thể hiện của quyết định hành chính là văn bản; (iii) chủ thể ban hành quyết định hành chính là cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành. Cơ quan, tổ chức theo giải thích tại khoản 11 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 rất đa dạng, gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị ­ xã hội, tổ chức chính trị ­ xã hội ­ nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội ­ nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật. Theo Điều 31, 31a, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân thì Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân địa phương cũng thuộc diện có thể ban hành quyết định hành chính bị khởi kiện; (iv) quyết định được ban hành trong hoạt động quản lý hành chính; (v) quyết định đó làm phát sinh, thay đổi, hạn chế, chấm dứt quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân hoặc có nội dung làm phát sinh nghĩa vụ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân.

Xem xét cụ thể thì quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy là quyết định cá biệt, có hình thức thể hiện dưới dạng văn bản. Quyết định này do Tòa án nhân dân khu vực ban hành trong hoạt động quản lý hành chính và cách ly người bị áp dụng khỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định ­tức là ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân. Như vậy, có thể thấy, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy tuy do Tòa án ban hành nhưng lại có những đặc điểm của quyết định hành chính.

Có những dấu hiệu đặc trưng của quyết định hành chính nên về nguyên tắc, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy vẫn có thể bị khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng hành chính. Tuy nhiên, Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 không quy định quyền khởi kiện đối với quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy.

3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Từ những phân tích trên, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật như sau:

Thứ nhất, Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 chưa quy định rõ bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy. Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 quy định không được khiếu kiện các quyết định hành chính của Tòa án gồm: (i) quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính; (ii) quyết định của Tòa án trong việc xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng; (iii) quyết định hành chính mang tính nội bộ của Tòa án. Loại trừ những loại quyết định này thì những quyết định khác của Tòa án hoàn toàn có thể thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Biện pháp cai nghiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy không phải là biện pháp xử lý hành chính. Việc Tòa án áp dụng biện pháp này đối với người chưa thành niên không phải là xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng và cũng không phải là quyết định mang tính nội bộ. Do đó, theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy có thể bị khởi kiện. Vì vậy, Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 chưa quy định quyền khởi kiện quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy là chưa phù hợp với Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Do đó, pháp luật cần định danh rõ ràng về bản chất của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy và xác định những bảo đảm pháp lý liên quan nhằm bảo vệ quyền của người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp này. Mặc dù Tòa án thực hiện thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng với cơ chế một thẩm phán thực hiện nên quyết định áp dụng biện pháp này vẫn là quyết định hành chính. Khi xác định quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy là quyết định hành chính thì pháp luật cần thừa nhận quyền khởi kiện của người bị áp dụng biện pháp này. Như vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần sửa đổi Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 theo hướng quy định quyền khởi kiện của người bị áp dụng đối với định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Thứ hai, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước đề cao công lý và lẽ phải. Điều này đòi hỏi khi ban hành một quyết định hoặc thực hiện một hành vi trái pháp luật thì các chủ thể mang quyền lực nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý. Một trong những trách nhiệm được đề cập đến là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[16].

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, quy định Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp ban hành một bản án, một quyết định trái pháp luật. Tuy nhiên, xem xét các quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành, chưa có quy định Nhà nước bồi thường khi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi trái pháp luật. Vì thế, có thể khẳng định, khi các cơ quan nhà nước áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy cho dù có trái pháp luật thì cũng không phải bồi thường cho người bị áp dụng. Khoảng trống này có thể làm gia tăng sự bất cẩn, tùy tiện của các cơ quan nhà nước trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Do đó, dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hoặc văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật (sau khi được Quốc hội thông qua) cần quy định việc bồi thường cho người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi trong trường hợp bị áp dụng biện pháp cai nghiện đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trái pháp luật. Cụ thể, sửa đổi, bổ sung Điều 17 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 theo hướng phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính bao gồm cả việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trái pháp luật đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Kết luận

Hiện, pháp luật Việt Nam chưa quy định cụ thể bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi. Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 là văn bản quy định cụ thể nhất về thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nhưng chưa quy định cụ thể quyết định áp dụng biện pháp này là quyết định hành chính hay quyết định tư pháp. Bên cạnh đó, Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 chưa quy định những quyền năng quan trọng như quyền khởi kiện, quyền kháng cáo quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phát hiện quyết định này có dấu hiệu trái pháp luật. Nhà nước pháp quyền văn minh, hiện đại phải ưu tiên bảo vệ người yếu thế. Do đó, hệ thống pháp luật Việt Nam cần quy định cụ thể bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trên cơ sở đó, Việt Nam cần quy định những bảo đảm pháp lý liên quan nhằm bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi bị áp dụng biện pháp này./.

PGS.TS. Cao Vũ Minh

Trường Đại học Kinh tế ­ Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

[1]. Amon J. J., Pearshouse R., Cohen J. E., Schleifer R (2014), Compulsory drug detention in East and Southeast Asia: Evolving government, UN and donor responses, International Journal of Drug Policy, No. 25(1), p.14.

[2]. Trần Thị Trang (2022), Một số điểm mới của luật phòng, chống ma túy năm 2021 và những vấn đề đặt ra đối với công tác phòng ngừa tội phạm ma túy do người dưới 18 tuổi thực hiện, Tạp chí Lao động và xã hội, số 667, tr.12.

[3]. Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24/3/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, được sửa đổi, bổ sung bởi Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15.

[4]. Vũ Trọng Hách (2009), Quyết định pháp luật và quyết định quản lý nhà nước, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12, tr.41.

[5]. Hoàng Quốc Hồng (2013), Về quyết định hành chính, hành vi hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính hiện hành, Tạp chí Luật học, số 1, tr.35­-36.

[6]. Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.417.

[7]. Phạm Hồng Thái (2015), Vai trò của quyết định hành chính trong quản lý nhà nước -­ Một số vấn đề lý luận, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12, tr.3-­4.

[8]. Cao Vũ Minh (2013), Công văn và những nhầm lẫn với quyết định quản lý nhà nước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 05.

[9]. Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, tr.430.

[10]. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Hồng Đức -­ Hội Luật gia Việt Nam, tr.455.

[11]. Phạm Hồng Thái (2014), Quyết định hành chính quy phạm của cơ quan hành chính nhà nước, Tạp chí Luật học, số 1, tr.45.

[12]. Khoản 1 Điều 35 Pháp lệnh số 01/2022/UBTVQH15.

[13]. Phạm Thị Thu Hiền (2017), Một số bất cập trong quy định pháp luật về xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại, Tạp chí Thanh tra, số 02, tr.12.

[14]. Nghị quyết số 27­-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

[15]. Karsten Lunze, Olivier Lermet, Vladanka Andreeva, Fabienne Hariga (2018), Compulsory treatment of drug use in Southeast Asian countries, International Journal of Drug Policy, Vol. 59, p.11.

[16]. Cao Vũ Minh (2018), Nhận diện tính hợp pháp và tính hợp lý của các biện pháp khắc phục hậu quả trong nghị định của Chính phủ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17, tr.30.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Amon J. J., Pearshouse R., Cohen J. E., Schleifer R (2014), Compulsory drug detention in East and Southeast Asia: Evolving government, UN and donor responses, International Journal of Drug Policy, No. 25(1).

2. Cao Vũ Minh (2013), Công văn và những nhầm lẫn với quyết định quản lý nhà nước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5.

3. Cao Vũ Minh (2018), Nhận diện tính hợp pháp và tính hợp lý của các biện pháp khắc phục hậu quả trong nghị định của Chính phủ, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17.

4. Hoàng Quốc Hồng (2013), Về quyết định hành chính, hành vi hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính hiện hành, Tạp chí Luật học, số 1.

5. Karsten Lunze, Olivier Lermet, Vladanka Andreeva, Fabienne Hariga (2018), Compulsory treatment of drug use in Southeast Asian countries, International Journal of Drug Policy, Vol. 59.

6. Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia.

7. Phạm Hồng Thái (2014), Quyết định hành chính quy phạm của cơ quan hành chính nhà nước, Tạp chí Luật học, số 1.

8. Phạm Hồng Thái (2015), Vai trò của quyết định hành chính trong quản lý nhà nước -­ Một số vấn đề lý luận, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12.

9. Phạm Thị Thu Hiền (2017), Một số bất cập trong quy định pháp luật về xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức bị khiếu nại, Tạp chí Thanh tra, số 02.

10. Trần Thị Trang (2022), Một số điểm mới của luật phòng, chống ma tuý năm 2021 và những vấn đề đặt ra đối với công tác phòng ngừa tội phạm ma túy do người dưới 18 tuổi thực hiện, Tạp chí Lao động và xã hội, số 667.

11. Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Hồng Đức -­ Hội Luật gia Việt Nam.

12. Vũ Trọng Hách (2009), Quyết định pháp luật và quyết định quản lý nhà nước, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (458) tháng 8/2026)

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật.
Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Chiều ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Sáng ngày 06/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Quán triệt các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV gắn với nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp

Quán triệt các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV gắn với nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp

Chiều ngày 05/8, Đảng Bộ Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV gắn với chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp do Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường - Từ yêu cầu cải cách hành chính đến bảo đảm quyền của người bị thiệt hại

Tóm tắt: Trong Nhà nước pháp quyền, cá nhân, tổ chức và Nhà nước bình đẳng trước pháp luật. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Nghiên cứu phân tích việc đơn giản hóa thủ tục yêu cầu Nhà nước bồi thường trên cơ sở quyền hiến định của người bị thiệt hại, yêu cầu cải cách hành chính, chuyển đổi số và các quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước[1] (dự thảo Luật). Trọng tâm là các quy định về hồ sơ, hình thức yêu cầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ, thụ lý, xác minh thiệt hại, thương lượng, quyết định giải quyết bồi thường, quyền khởi kiện và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Trên cơ sở đánh giá các điều 41, 42, 43, 45, 46, 47, 52 và 73, nghiên cứu đề xuất làm rõ giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, xác nhận tiếp nhận, yêu cầu bổ sung hồ sơ một lần, khai thác dữ liệu sẵn có, hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người yêu cầu bồi thường.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù theo dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)

Tóm tắt: Phổ biến, giáo dục pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng giúp người dân nói chung và các đối tượng đặc thù nói riêng biết, hiểu và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật. Nghiên cứu phân tích dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật), tập trung vào các quy định về đối tượng đặc thù, chính sách hỗ trợ, trách nhiệm của các chủ thể, chuyển đổi số, nguồn lực, cơ chế đánh giá và đội ngũ thực hiện. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và so sánh pháp luật. Kết quả cho thấy, dự thảo Luật có nhiều điểm mới như cụ thể hóa nhóm đối tượng đặc thù, phân định trách nhiệm của các chủ thể, bổ sung quy định về chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, đồng thời, chú trọng bảo đảm nguồn lực và đánh giá hiệu quả thực hiện. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy, một số nội dung dự thảo Luật cần tiếp tục hoàn thiện, gồm tiêu chí xác định đối tượng, chính sách hỗ trợ, chuẩn tiếp cận tối thiểu, cơ chế phối hợp, khả năng tiếp cận trong môi trường số, căn cứ phân bổ nguồn lực, tiêu chí đánh giá và yêu cầu về năng lực của đội ngũ thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện dự thảo Luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới.

Theo dõi chúng tôi trên: