Thứ hai 11/05/2026 17:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Bàn về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo luật tư pháp người chưa thành niên

Tóm tắt: Trong bối cảnh Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) chính thức có hiệu lực, việc bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong áp dụng các biện pháp giáo dục mang tính hướng thiện là yêu cầu cấp thiết. Bài viết phân tích, làm rõ các quy định của Luật về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nhằm đánh giá sự tương thích giữa quy định hiện hành và các chuẩn mực tư pháp quốc tế; chỉ ra những điểm chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật và các rủi ro tiềm ẩn đối với việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện pháp luật, tăng tính khả thi và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên về vấn đề này.

Abstract: With the Juvenile Justice Law of 2024 (amended and supplemented in 2025) officially coming into effect, ensuring consistency and effectiveness in applying rehabilitative educational measures is an urgent requirement. This article analyzes and clarifies the provisions of the Law on the application of educational measures in reform schools to assess the compatibility between current regulations and international judicial standards; points out inconsistencies in the legal system and potential risks to ensuring the rights of juveniles. Based on this, the study proposes improvements to the law, increasing feasibility and enhancing the effectiveness of education and reintegration into the community for juveniles on this issue.

Đặt vấn đề

Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024) được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam, khẳng định mạnh mẽ tư duy giáo dục và phục hồi thay thế cho tư duy răn đe, trừng trị. Trong hệ thống các biện pháp xử lý chuyển hướng[1], giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp đặc thù, mang tính chất tước tự do và cách ly người chưa thành niên (NCTN) khỏi môi trường sống thông thường để áp dụng chế độ giáo dục nghiêm ngặt. Việc quy định giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý chuyển hướng thay vì biện pháp tư pháp trước đây, đặt ra nhiều yêu cầu mới về lý luận và thực tiễn áp dụng. Nghiên cứu tập trung phân tích các quy định về đối tượng, điều kiện và thủ tục áp dụng biện pháp này, đồng thời, so sánh với các chuẩn mực quốc tế về quyền trẻ em. Thông qua những điểm chưa tương thích và các bất cập trong trình tự tố tụng đã được phân tích, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính nhân văn và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho NCTN trong bối cảnh hiện nay.

1. Quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp tư pháp đặc thù dành riêng cho người dưới 18 tuổi phạm tội, biện pháp này đã được quy định trong luật hình sự Việt Nam, ngay từ Bộ luật Hình sự đầu tiên đến Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (Bộ luật Hình sự năm 2015)[2]. Điểm mới căn bản của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 là xác lập giáo dục tại trường giáo dưỡng dưới hình thức biện pháp xử lý chuyển hướng[3], thay thế cho biện pháp tư pháp trước đây.

Quy định này hiện thực hóa chính sách xử lý nhân văn trên cơ sở ưu tiên lợi ích tốt nhất cho NCTN, nhằm hạn chế tối đa việc đưa đối tượng này ra xét xử hoặc áp dụng hình phạt. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm và các cam kết quốc tế của Việt Nam về việc mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp xử lý ngoài hệ thống tư pháp hình sự truyền thống[4].

Theo khoản 1 Điều 51 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, giáo dục tại trường giáo dưỡng được hiểu là việc NCTN phạm tội thực hiện việc học văn hóa, học nghề, lao động và sinh hoạt dưới sự quản lý trong một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ. Khác với các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng như khiển trách hay bồi thường thiệt hại, đây là biện pháp mang tính chất tước tự do. NCTN sẽ bị cách ly khỏi môi trường sống thông thường trong thời hạn nhất định để được giáo dục trong môi trường kiểm soát tập trung.

1.1. Điều kiện và đối tượng được áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Trong hệ thống các biện pháp xử lý chuyển hướng, “giáo dục tại trường giáo dưỡng được xác định là biện pháp nghiêm khắc nhất khi tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể của NCTN”[5]. Vì vậy, luật quy định rõ điều kiện và đối tượng áp dụng để bảo đảm nguyên tắc can thiệp tối thiểu và chỉ sử dụng tước tự do như giải pháp cuối cùng.

Thứ nhất, NCTN thuộc một trong các trường hợp tại Điều 37 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng khi đáp ứng đồng thời các điều kiện: có chứng cứ xác định NCTN đã thực hiện hành vi phạm tội; NCTN thừa nhận mình đã thực hiện hành vi phạm tội; NCTN đồng ý bằng văn bản về việc xử lý chuyển hướng. Các điều kiện này bảo đảm tính minh bạch, tự nguyện và nhân văn, giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NCTN trong quá trình cải tạo, giáo dục và tái hòa nhập cộng đồng[6].

Thứ hai, khoản 2 Điều 51 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 xác định các nhóm đối tượng NCTN áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, gồm: (i) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội mua bán người, tội mua bán người dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội vận chuyển trái phép chất ma túy, tội mua bán trái phép chất ma túy, tội chiếm đoạt chất ma túy, trừ trường hợp NCTN là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án; (ii) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội cướp giật tài sản, trừ trường hợp NCTN là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án; (iii) các trường hợp khác cần phải áp dụng, do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của NCTN phạm tội; (iv) trường hợp người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng mà cố ý vi phạm nghĩa vụ 01 lần trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên trong thời gian thực hiện nghĩa vụ thì có thể bị thay đổi từ biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng sang biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng[7].

1.2. Thẩm quyền áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Theo Điều 52 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng được phân định theo từng giai đoạn tố tụng. Cụ thể, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trừ trường hợp vụ án có yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản (khoản 1); thẩm phán và Hội đồng xét xử có thẩm quyền áp dụng toàn bộ các biện pháp xử lý chuyển hướng (khoản 2).

Quy định này thể hiện việc trao thẩm quyền cho cả ba cơ quan tiến hành tố tụng tương ứng với từng giai đoạn, qua đó, bảo đảm nguyên tắc đặc thù của tư pháp NCTN là giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời; đồng thời, hạn chế những tác động tiêu cực của tố tụng hình sự thông thường đối với NCTN bị buộc tội[8].

Đối với biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, việc giao thẩm quyền quyết định cho Tòa án là hoàn toàn phù hợp, bởi đây là biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp xử lý chuyển hướng, được áp dụng trên cơ sở căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và môi trường sống của NCTN và cần được giám sát, giáo dục trong môi trường có tính kỷ luật chặt chẽ[9]. Việc áp dụng biện pháp này đòi hỏi quy trình xem xét chặt chẽ, có sự tham gia của Tòa án nhằm bảo đảm tính khách quan, thận trọng của quyết định.

1.3. Thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp mang tính chất tước tự do nên trình tự, thủ tục áp dụng phải được thiết kế theo hướng chặt chẽ, minh bạch và đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan tư pháp[10]. Yêu cầu này phù hợp với Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với người vị thành niên năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh), khi nhấn mạnh việc tước tự do đối với NCTN phải là biện pháp cuối cùng, chỉ áp dụng trong những trường hợp ngoại lệ và trong thời gian ngắn nhất có thể (Quy tắc 13.1). Trên cơ sở đó, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 đã dành riêng các điều luật từ Điều 63 đến Điều 68 quy định vấn đề này.

Thứ nhất, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thuộc thẩm quyền của Tòa án. Khi nhận thấy NCTN thuộc trường hợp áp dụng biện pháp này, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không được tự mình quyết định mà phải có văn bản kèm hồ sơ vụ án đề nghị Tòa án xem xét, quyết định (điểm a khoản 1 Điều 63). Trường hợp đang xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng nhưng thẩm phán xác định đủ điều kiện áp dụng giáo dục tại trường giáo dưỡng thì có thể quyết định ngay tại phiên họp mà không cần trả hồ sơ (điểm i khoản 4 Điều 62).

Thứ hai, về quyết định mở phiên họp, trong thời hạn 07 ngày kể từ khi được phân công, thẩm phán phải ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (khoản 1 Điều 64). Quyết định này phải có đầy đủ thông tin về thời gian, địa điểm, thành phần tham gia và được gửi cho các bên liên quan, gồm NCTN, người đại diện, kiểm sát viên và các chủ thể liên quan. Quy định này bảo đảm tính kịp thời, minh bạch, đồng thời, tạo điều kiện để NCTN thực hiện quyền tham gia vào quá trình xem xét.

Thứ ba, phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được tổ chức theo thủ tục quy định tại Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, với sự tham gia của cơ quan đề nghị, NCTN, người bào chữa và người làm công tác xã hội. Thủ tục phiên họp được thiết kế theo hướng thân thiện, tạo điều kiện để NCTN trình bày ý kiến, các bên tranh luận, làm rõ các vấn đề liên quan, qua đó, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và nhân văn. Thẩm phán có thể hoãn phiên họp trong trường hợp cần thiết nhằm bảo đảm sự tham gia đầy đủ của các chủ thể; đồng thời, việc áp dụng biện pháp tạm giam trong một số trường hợp nhằm bảo đảm thi hành quyết định, tránh NCTN trốn tránh hoặc tiếp tục vi phạm. Ngoài ra, theo Điều 151 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, trong thủ tục xét xử thân thiện, Hội đồng xét xử có thể áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, gồm biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nếu đủ điều kiện; quyết định này có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024).

2. Một số hạn chế của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2014 về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là chế định quan trọng của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, gắn trực tiếp với việc hạn chế quyền tự do thân thể của NCTN phạm tội. Vì vậy, việc đánh giá các quy định liên quan không chỉ đặt ra trên phương diện pháp lý, mà cần được thực hiện dưới góc độ bảo đảm lợi ích tốt nhất cho NCTN. Trên cơ sở đó, có thể nhận diện ba nhóm vấn đề sau:

2.1. Thứ tự áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Theo Điều 11 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, thứ tự ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý đối với NCTN được thiết kế theo hướng đề cao tính nhân đạo, giáo dục và phục hồi. Theo đó, trình tự áp dụng các biện pháp xử lý được xác lập như sau:

Thứ nhất, trường hợp NCTN phạm tội đủ điều kiện áp dụng các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự chung theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cơ quan tiến hành tố tụng phải ưu tiên áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ hai, trường hợp NCTN không đủ điều kiện để được miễn trách nhiệm hình sự theo các căn cứ chung, việc xử lý tiếp theo được thực hiện theo thứ tự: (i) nếu đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng thì phải ưu tiên áp dụng biện pháp này; (ii) trường hợp không đủ điều kiện áp dụng xử lý chuyển hướng tại cộng đồng thì có thể xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; (iii) chỉ khi các biện pháp trên không đáp ứng yêu cầu giáo dục, phòng ngừa thì mới áp dụng hình phạt (khoản 2 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024).

Tuy nhiên, quy định về thứ tự ưu tiên trong Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 chưa thực sự đầy đủ và hợp lý, đặc biệt, khi đặt trong mối liên hệ với các chế định mang tính nhân đạo khác của Bộ luật Hình sự năm 2015, vì những lý do sau:

Một là, bên cạnh miễn trách nhiệm hình sự và các biện pháp xử lý chuyển hướng, Bộ luật Hình sự năm 2015 còn quy định về miễn hình phạt tại Điều 59. Theo đó, người phạm tội có thể được miễn hình phạt khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 hoặc phạm tội lần đầu, là người giúp sức trong đồng phạm với vai trò không đáng kể, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự. Dù khái niệm “chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” chưa có hướng dẫn cụ thể, có thể hiểu, đây là trường hợp không thuộc các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng xét mức độ nguy hiểm, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ thì chưa cần thiết áp dụng hình phạt[11].

Theo logic đó, miễn hình phạt là hình thức khoan hồng đặc biệt, có vị trí trung gian giữa miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt, đồng thời, người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích (khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015). Do đó, việc Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 chưa đưa chế định này vào hệ thống tư pháp NCTN đã làm giảm tính toàn diện và linh hoạt của cơ chế xử lý NCTN phạm tội[12].

Hai là, xét về mức độ nghiêm khắc giữa biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng với các hình phạt không giam giữ là cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam giữ thì biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng có mức độ nghiêm khắc hơn rất nhiều, vì đây là biện pháp xử lý chuyển hướng nghiêm khắc nhất, cách ly NCTN phạm tội ra khỏi môi trường sống bình thường[13]. Do đó, trong các hình thức của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với NCTN phạm tội thì “biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng chỉ ít nghiêm khắc hơn hình phạt tù có thời hạn”[14] và “nghiêm khắc hơn hình phạt cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam giữ”[15]. Do đó, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định ưu tiên áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng so với tất cả loại hình phạt là bất lợi cho NCTN (Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024).

2.2. Vướng mắc về thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Thứ nhất, theo khoản 4 Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, các trường hợp hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, gồm: đại diện cơ quan đề nghị vắng mặt; người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế ngay được; NCTN là bị can, người đại diện của họ vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng. Như vậy, luật không quy định về việc có thể xem xét hoãn phiên họp khi những chủ thể quan trọng khác như người bào chữa hoặc người làm công tác xã hội vắng mặt. Trong khi đó, trong mọi trường hợp NCTN bị buộc tội phải có người bào chữa, gồm cả quá trình xem xét, áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Tương tự, người làm công tác xã hội là người trình bày báo cáo điều tra xã hội (điểm d khoản 2 Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024). Báo cáo này là tài liệu rất quan trọng cần được xem xét, đánh giá tại phiên họp, yêu cầu cung cấp các thông tin về hoàn cảnh xã hội của NCTN là cần thiết để xác định nguyên nhân gốc rễ của hành vi mà trẻ đã gây ra[16]. Do đó, nếu người làm công tác xã hội vắng mặt, trong một số trường hợp (ví dụ, có những nội dung của báo cáo điều tra xã hội cần được làm rõ), người chủ trì phiên họp sẽ gặp khó khăn trong việc quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Ngoài ra, Điều 150 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định: “Người làm công tác xã hội tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập. Nếu người làm công tác xã hội vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử”.

Thứ hai, theo điểm g khoản 2 Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, các bên tại phiên họp có quyền trình bày ý kiến và tranh luận để làm rõ vấn đề, qua đó, bảo đảm công bằng và tạo điều kiện cho NCTN tham gia. Tuy nhiên, điều này cũng có thể tạo áp lực tâm lý cho NCTN, đặc biệt, khi họ thiếu kinh nghiệm và kỹ năng trong việc đối diện với thủ tục tố tụng. Đây là vấn đề cần được xem xét, bởi “NCTN bị buộc tội thường có tâm lý sợ hãi, e dè, không dám bộc lộ hết suy nghĩ và mong muốn của bản thân”[17]. Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Tòa án.

2.3. Thiếu quy định về việc tính thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Thứ nhất, theo khoản 3 Điều 51 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được xác định là từ 06 tháng đến 02 năm. Tuy nhiên, Luật chưa làm rõ cách thức tính thời gian tạm giữ, tạm giam của NCTN trước khi có quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Điều này có thể dẫn đến trường hợp NCTN bị buộc tội phải trải qua khoảng thời gian dài bị tạm giữ, tạm giam trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử trước khi có quyết định chính thức của Tòa án về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Việc chưa có quy định cụ thể dẫn đến khó khăn trong bảo đảm quyền lợi của trẻ, bởi tổng thời gian thực tế trẻ bị tước tự do có thể kéo dài quá mức cần thiết, chưa phù hợp với khoản 2 Điều 37 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989.

Thứ hai, việc không hướng dẫn rõ về tính cộng dồn thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng có thể gây lúng túng cho các cơ quan thực thi pháp luật. Điều này có thể dẫn tới tình trạng mỗi địa phương áp dụng khác nhau, tạo nguy cơ thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật và làm phát sinh các tình huống pháp lý phức tạp, như các trường hợp NCTN bị tạm giữ kéo dài, sau đó, được áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thêm 02 năm, khiến tổng thời gian bị cách ly khỏi gia đình và xã hội có thể vượt quá mức 02 năm theo luật định. Điều này trái với nguyên tắc giải quyết nhanh chóng, kịp thời đã được Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 hướng tới.

3. Một số kiến nghị

Trên cơ sở các vấn đề đã phân tích, việc hoàn thiện quy định về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cần được đặt trong khung nguyên tắc chung của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Theo đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng như sau:

3.1. Về thứ tự ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý, xác định đúng vị trí của biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong hệ thống tư pháp người chưa thành niên

Hoàn thiện quy định về thứ tự ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý đối với NCTN phạm tội theo hướng “mức độ nghiêm khắc tăng dần”, tức là các biện pháp phải được sắp xếp và lựa chọn dựa trên mức độ hạn chế quyền của NCTN. Cách tiếp cận này bảo đảm nguyên tắc can thiệp tối thiểu, hạn chế tối đa việc tước tự do, đồng thời, vẫn đáp ứng yêu cầu giáo dục, phục hồi và phòng ngừa trong từng trường hợp cụ thể. Theo đó, trong trường hợp NCTN phạm tội không đủ điều kiện để được áp dụng các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự chung cho người phạm tội thì cần quy định thứ tự ưu tiên: (i) áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng; (ii) miễn hình phạt; (iii) áp dụng các hình phạt không giam giữ (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ); (iv) áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; (v) áp dụng hình phạt tù có thời hạn[18]. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 như sau:

“Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và miễn hình phạt không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.

Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với NCTN phạm tội khi xét thấy các hình phạt khác và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không có tác dụng răn đe, phòng ngừa”.

3.2. Hoàn thiện quy định về thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Thứ nhất, bổ sung quy định tại điểm d khoản 4 Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 theo hướng cho phép Tòa án xem xét hoãn phiên họp xem xét, áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong trường hợp người bào chữa hoặc người làm công tác xã hội vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Việc bổ sung quy định này là cần thiết nhằm bảo đảm đầy đủ quyền bào chữa và quyền được hỗ trợ xã hội của NCTN trong quá trình xem xét áp dụng biện pháp có tính chất tước tự do. Trong bối cảnh giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý chuyển hướng nghiêm khắc nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể, sự vắng mặt của người bào chữa hoặc người làm công tác xã hội, nếu xuất phát từ các lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, có thể làm suy giảm tính công bằng và hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NCTN[19]. Do đó, việc cho phép Tòa án hoãn phiên họp trong những trường hợp này không chỉ bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cơ bản, mà còn phù hợp với yêu cầu bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của NCTN.

Thứ hai, bảo đảm môi trường tố tụng thân thiện và vai trò điều hành của thẩm phán trong phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.

Việc tổ chức phiên họp có ý nghĩa quan trọng trong tạo môi trường phù hợp với đặc điểm tâm lý, độ tuổi và nhu cầu phát triển của NCTN. Phiên họp được thiết kế theo hướng thân thiện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của NCTN, hạn chế các yếu tố gây căng thẳng, tránh các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc gây tổn thương tâm lý, sẽ góp phần khuyến khích NCTN tham gia tố tụng một cách chủ động, trung thực và tự tin hơn, qua đó, nâng cao chất lượng xem xét, đánh giá của Tòa án[20]. Đồng thời, thẩm phán cần bảo đảm công bằng trong tranh luận, chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, không để xảy ra sự áp đặt trong phiên họp, tạo điều kiện để NCTN trình bày quan điểm một cách tự do và rõ ràng, từ đó, giúp phiên họp diễn ra công bằng và nhân văn hơn.

Yêu cầu này đòi hỏi thẩm phán không chỉ giữ vai trò điều hành, mà còn phải chú trọng đến cân bằng vị thế giữa các chủ thể tham gia phiên họp, đặc biệt, trong mối quan hệ giữa NCTN với người tiến hành tố tụng. Việc bảo đảm NCTN được lắng nghe đầy đủ, được giải thích rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mình góp phần hiện thực hóa nguyên tắc bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, lấy giáo dục làm trọng tâm trong tư pháp đối với NCTN.

3.3. Hoàn thiện quy định về việc tính thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng

Hiện, thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được quy định từ 06 tháng đến 02 năm (khoản 3 Điều 51 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024), nhưng luật chưa quy định cụ thể về việc cộng, trừ thời gian tạm giữ, tạm giam của NCTN vào tổng thời hạn áp dụng biện pháp này. Điều này có thể làm kéo dài tổng thời gian tước tự do vượt mức cần thiết, không phù hợp với yêu cầu tước tự do là biện pháp cuối cùng và trong thời gian ngắn nhất theo khoản 2 Điều 37 Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Quy tắc 13.1 Quy tắc Bắc Kinh[21].

Vì vậy, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 cần sửa đổi, bổ sung quy định về nguyên tắc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam nhằm bảo đảm tính tương xứng và thống nhất áp dụng. Theo đó, cần bổ sung quy định sau: “Thời hạn NCTN bị tạm giữ, tạm giam trước khi Tòa án quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đều phải được trừ vào tổng thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quyết định của Tòa án”. Đồng thời, quyết định của Tòa án cần quy định rõ thời gian đã bị tước tự do và thời hạn còn lại phải chấp hành sau khi khấu trừ để làm căn cứ tổ chức thi hành, hạn chế cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các địa phương.

Kết luận

Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với NCTN phạm tội theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 đã thể hiện sự thay đổi quan trọng từ ban đầu là biện pháp tư pháp sang các biện pháp giáo dục có tính nhân văn và hiệu quả. Tuy nhiên, việc triển khai biện pháp này còn tồn tại một số trở ngại và thách thức trên thực tế. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo vệ quyền lợi của NCTN, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng. Từ đó, góp phần xây dựng hệ thống tư pháp nhân văn, hiện đại và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

ThS. Lê Bá Đức

Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: Internet

[1]. Xử lý chuyển hướng là quá trình thay thế nhằm xử lý các vi phạm của người chưa thành niên ngoài hệ thống tư pháp chính thống (Trường Đại học Luật Hà Nội (2023), Tư pháp đối với người chưa thành niên, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.15).

[2]. Nguyễn Thị Phương Hoa (2022), Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quy định của Bộ luật Hình sự và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 08, tr.36.

[3]. Biện pháp xử lý chuyển hướng là biện pháp giám sát, giáo dục, phòng ngừa áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, gồm các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng quy định từ khoản 1 đến khoản 11 Điều 36 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 12 Điều 36 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024.

[4]. Tờ trình số 48/TTr-TANDTC ngày 30/3/2024 về Dự án Luật Tư pháp người chưa thành niên, tr.14.

[5]. Đỗ Đức Hồng Hà, Lò Thị Việt Hà (2024), Luật Tư pháp người chưa thành niên - Đạo luật nhân văn thể chế hóa đường lối của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp và nội luật hóa Công ước quốc tế, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17, tr.27.

[6]. Vụ Pháp chế và Quản lý nghiên cứu khoa học - Tòa án nhân dân tối cao (2025), Giới thiệu một số nội dung của Luật Tư pháp người chưa thành niên, Nxb. Tư pháp, tr.47.

[7]. Vụ Pháp chế và Quản lý nghiên cứu khoa học - Tòa án nhân dân tối cao (2025), tlđd, tr.58-59.

[8]. Lê Huỳnh Tấn Duy (2024), Góp ý quy định của Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên về các biện pháp xử lý chuyển hướng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10 (489), Kỳ 2, tr.19.

[9]. Đỗ Đức Hồng Hà (2024), Hoàn thiện Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17 (496), tr.26.

[10]. Đỗ Đức Hồng Hà (2024), tlđd, tr.26.

[11]. Mai Thị Thủy (2025), Một số điểm mới trong quy định về hình phạt và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và kiến nghị hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/mot-so-diem-moi-trong-quy-dinh-ve-hinh-phat-va-quyet-dinh-hinh-phat-doi-voi-nguoi-chua-thanh-nien-pham-toi-va-kien-nghi-hoan-thien13495.html, truy cập ngày 08/02/2026.

[12]. Mai Thị Thủy (2024), tlđd, truy cập ngày 08/02/2026.

[13]. Trần Minh Thảo (2024), Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Bình Dương, Luận án Tiến sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr.156.

[14]. Nguyễn Thị Phương Hoa (2022), tlđd, tr.43.

[15]. Nguyễn Thị Phương Hoa (2022), tlđd, tr.45.

[16]. Hoàng Thái Duy (2024), Hoàn thiện quy định xét xử bị cáo là người chưa thành niên trong Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên, Tạp chí Nghề luật, số 10, tr.79.

[17]. Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên, 2024), Hoàn thiện pháp luật tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam (sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, tr.216.

[18]. Trần Minh Thảo (2024), tlđd, tr.156.

[19]. Lê Huỳnh Tấn Duy, Lê Bá Đức (2026), Hoàn thiện quy định về thẩm quyền và thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên, Tạp chí Kiểm sát, số 01, tr.44.

[20]. Võ Thành Đạt (2025), Tìm hiểu biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội trong Luật Tư pháp người chưa thành niên, Tạp chí Nghề luật, số 03, tr.66.

[21]. Khoản 2 Điều 37 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Không trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện. Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành phù hợp với pháp luật và chỉ được coi là biện pháp cuối cùng và áp dụng trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Quy tắc 13.1 Quy tắc Bắc Kinh quy định: “Hình thức tạm giam chờ xét xử được sử dụng như một biện pháp cuối cùng và chỉ trong thời gian ngắn nhất có thể”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Đức Hồng Hà (2024), Hoàn thiện Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17 (496).

2. Đỗ Đức Hồng Hà, Lò Thị Việt Hà (2024), Luật Tư pháp người chưa thành niên - Đạo luật nhân văn thể chế hóa đường lối của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp và nội luật hóa Công ước quốc tế, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17.

3. Hoàng Thái Duy (2024), Hoàn thiện quy định xét xử bị cáo là người chưa thành niên trong Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên, Tạp chí Nghề luật, số 10.

4. Lê Huỳnh Tấn Duy (2024), Góp ý quy định của Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên về các biện pháp xử lý chuyển hướng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10 (489), Kỳ 2.

5. Lê Huỳnh Tấn Duy, Lê Bá Đức (2026), Hoàn thiện quy định về thẩm quyền và thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên, Tạp chí Kiểm sát, số 01.

6. Mai Thị Thủy (2025), Một số điểm mới trong quy định về hình phạt và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và kiến nghị hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/mot-so-diem-moi-trong-quy-dinh-ve-hinh-phat-va-quyet-dinh- hinh-phat-doi-voi-nguoi-chua-thanh-nien-pham-toi-va-kien-nghi-hoan-thien13495.html, truy cập ngày 08/02/2026.

7. Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên, 2024), Hoàn thiện pháp luật tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

8. Nguyễn Thị Phương Hoa (2022), Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quy định của Bộ luật Hình sự và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 08.

9. Trần Minh Thảo (2024), Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội - từ thực tiễn tỉnh Bình Dương, Luận án tiến sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội.

10. Trường Đại học Luật Hà Nội (2023), Giáo trình Tư pháp đối với người chưa thành niên, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân.

11. Võ Thành Đạt (2025), Tìm hiểu biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội trong Luật Tư pháp người chưa thành niên, Tạp chí Nghề luật, số 10.

12. Vụ Pháp chế và Quản lý nghiên cứu khoa học - Tòa án nhân dân tối cao (2025), Giới thiệu một số nội dung của Luật Tư pháp người chưa thành niên, Nxb. Tư pháp.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (448) tháng 3/2026)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Hoàn thiện quy định về chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tóm tắt: Chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là chế định pháp luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh và sự ổn định nội bộ của doanh nghiệp. Trong bối cảnh yêu cầu cải thiện môi trường đầu tư ngày càng được chú trọng, việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ chuyển nhượng vốn là rất cần thiết. Nghiên cứu phân tích, làm rõ các nguyên tắc, điều kiện chuyển nhượng vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật hiện hành; về tính phù hợp giữa quy định của pháp luật với thực tiễn áp dụng; chỉ ra một số hạn chế, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường tính linh hoạt, minh bạch, rõ ràng của cơ chế chuyển nhượng vốn và mở rộng quyền tự thỏa thuận trong điều lệ công ty.
Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Nâng cao hiệu quả thi hành Luật Việc làm năm 2025 về bảo hiểm thất nghiệp

Tóm tắt: Luật Việc làm năm 2025 ghi nhận nhiều sửa đổi quan trọng đối với bảo hiểm thất nghiệp nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động đang biến đổi mạnh mẽ và gia tăng tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội. Nghiên cứu phân tích một số điểm mới nổi bật và các vấn đề có thể phát sinh trong thực tiễn của Luật Việc làm năm 2025 liên quan đến đối tượng tham gia, chế độ thụ hưởng, điều kiện, mức và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Rào cản pháp lý và thực tiễn trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định quan trọng, góp phần bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của Nhà nước. Bài viết phân tích các rào cản pháp lý và thực tiễn trong thực hiện quyền tiếp cận thông tin tại Việt Nam, thông qua phân tích, so sánh giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù khuôn khổ pháp lý đã bước đầu được thiết lập, nhưng tồn tại một số hạn chế liên quan đến phạm vi thông tin, chủ thể cung cấp, cơ chế phân loại thông tin, phương thức cung cấp và giám sát thực thi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong bối cảnh chuyển đổi số.
Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Công khai thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã đặt nền móng pháp lý cho quyền tiếp cận thông tin của công dân, trong đó, công khai thông tin là công cụ quan trọng để thực thi quyền này. Tuy nhiên, sau 08 năm thực hiện, công tác công khai thông tin còn một số bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới thể chế theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Nghiên cứu phân tích, luận giải một số vấn đề về công khai thông tin, đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập, hạn chế, từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động công khai thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân trong thời gian tới.
Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật Việt Nam đang định hình ranh giới giữa minh bạch thông tin và quyền riêng tư với việc ban hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, cùng dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) (dự thảo Luật). Điều này dẫn đến nguy cơ xung đột giữa quyền được biết của công chúng với quyền riêng tư của cá nhân. Bài viết làm rõ về bản chất pháp lý giữa khái niệm “thông tin” và “dữ liệu cá nhân”, đồng thời, đánh giá quy định tại dự thảo Luật, đặc biệt là cơ chế “tiếp cận có điều kiện” đối với thông tin liên quan đến đời tư, bảo vệ dữ liệu cá nhân và so sánh với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tái định vị mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong pháp luật Việt Nam thông qua giới hạn ngoại lệ, xây dựng quy trình đánh giá lợi ích công và biện pháp hài hòa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 trong kỷ nguyên số.
Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự

Tóm tắt: Triển khai tố tụng điện tử, gồm áp dụng văn bản số, chữ ký số, hồ sơ điện tử, quản trị dữ liệu điện tử, chia sẻ, kết nối liên thông giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự sẽ làm thay đổi phương thức bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của đối tượng yếu thế, tạo ra yêu cầu mới đối với hoạt động trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nhận diện khoảng trống pháp lý và thách thức trong hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và năng lực số, nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hoạt động trợ giúp pháp lý trong bối cảnh triển khai tố tụng điện tử trong tố tụng hình sự, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật, tăng cường năng lực số, phát triển hạ tầng công nghệ và bảo đảm an toàn thông tin nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý của người được trợ giúp pháp lý trong điều kiện triển khai tố tụng điện tử.
Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Phân tích những điểm mới của dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền con người và thích ứng với chuyển đổi số, việc sửa đổi pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích, đánh giá yêu cầu thực tiễn, so sánh quy định của pháp luật hiện hành với dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) để chỉ ra những điểm mới cơ bản của dự thảo Luật, làm rõ định hướng cải cách lập pháp trong lĩnh vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật có nhiều đổi mới quan trọng. Những nội dung này góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo gắn với yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội trong bối cảnh phát triển mới.
Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong mối quan hệ với Luật Giáo dục đại học

Tóm tắt: Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã ghi nhận hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo cùng với một số hoạt động xã hội khác như y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo. Đây là nội dung quan trọng, vì không chỉ liên quan đến bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà còn gắn với khả năng huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tiễn giáo dục đại học, quy định pháp luật hiện hành còn một số điểm cần làm rõ, nhất là phạm vi của hoạt động giáo dục, ranh giới giữa hoạt động giáo dục với đào tạo tôn giáo và mối quan hệ với pháp luật chuyên ngành giáo dục. Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) với Luật Giáo dục đại học năm 2025, nghiên cứu làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động giáo dục của tổ chức tôn giáo trong không gian giáo dục đại học, đồng thời, nhận diện những vấn đề đặt ra trong quá trình áp dụng pháp luật hiện nay, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện nội dung này theo hướng rõ hơn và dễ áp dụng hơn.
Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam

Tóm tắt: Trách nhiệm giải trình giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và tính minh bạch của quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý giáo dục còn tồn tại một số hạn chế về chất lượng, phân bổ và sử dụng nguồn lực, đội ngũ giáo viên cũng như nguy cơ phát sinh tiêu cực, cho thấy trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Bài viết phân tích nhu cầu thực hiện trách nhiệm giải trình, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện, từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục ở Việt Nam trong thời gian tới.
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh công tác xây dựng pháp luật được xác định là khâu đột phá nhằm hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, chất lượng văn bản quy phạm pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu lực quản lý nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện còn một số hạn chế như mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu rõ ràng, thiếu ổn định và chưa thực sự tạo động lực cho đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực phát triển. Bài viết phân tích thực trạng chất lượng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, làm rõ các biểu hiện hạn chế và nguyên nhân chủ yếu từ góc độ thể chế, tổ chức thực hiện và năng lực xây dựng pháp luật. Từ đó, đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao chất lượng thể chế trong kỷ nguyên mới.
Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung - Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Vợ, chồng bình đẳng đối với tài sản chung là một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù quan hệ hôn nhân, việc thực hiện quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung là vấn đề ngày càng đa dạng, phức tạp. Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các bên, bài viết phân tích, làm rõ nội hàm về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, từ đó, chỉ ra những điểm còn hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật và đề xuất kiến nghị hoàn thiện, hướng tới phát huy bền vững chức năng kinh tế của gia đình trong bối cảnh hội nhập.
Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Quy định về tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Tình trạng tài khoản tiền gửi tiết kiệm không xác định được chủ sở hữu tại ngân hàng thương mại ngày càng phổ biến, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện chưa quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong quản lý và xử lý số dư các tài khoản này. Bài viết phân tích, làm sáng tỏ khái niệm tài khoản không xác định được chủ sở hữu, đồng thời, phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, từ đó, đề xuất xây dựng khung pháp lý thống nhất, minh bạch điều chỉnh các tài khoản này.
Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập ở Việt Nam

Tóm tắt: Pháp luật về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Luật Viên chức, các nghị định và văn bản liên quan. Tuy nhiên, quy định về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập còn những hạn chế, bất cập như tiêu chí chưa cụ thể theo vị trí việc làm, các tiêu chí còn định tính, chưa phản ánh đặc thù của viên chức giảng dạy và viên chức khác trong trường đại học công lập. Bài viết phân tích quy định của pháp luật hiện hành về tiêu chí đánh giá viên chức trong các trường đại học công lập, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự - Một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và gia tăng nhanh chóng của tội phạm công nghệ cao, dữ liệu điện tử ngày càng trở thành nguồn chứng cứ quan trọng trong tố tụng hình sự. Bài viết nghiên cứu việc thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự, tập trung vào bất cập trong quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025). Trên cơ sở phân tích pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn, bài viết đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, hướng dẫn nghiệp vụ và nâng cao hiệu quả thu thập, bảo quản, giám định dữ liệu điện tử, bảo đảm tính hợp pháp và giá trị chứng minh trong tố tụng hình sự.
Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số ở trường học - Từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nên các quốc gia đều ban hành chính sách, pháp luật để gìn giữ. Bằng phương pháp phân tích văn bản pháp luật và đối chiếu với thực tiễn triển khai, bài viết đánh giá hai nội dung trọng tâm: giáo dục bằng ngôn ngữ dân tộc và giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường ở tỉnh Gia Lai. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mặc dù hệ thống chính sách tương đối đầy đủ, nhưng thực tiễn thi hành còn gặp nhiều hạn chế như quy mô dạy tiếng dân tộc thiểu số còn hạn hẹp, thiếu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn; việc huy động nghệ nhân gặp khó khăn do các quy định hiện hành và thiếu cơ chế tài chính chi trả thù lao. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, linh hoạt về tiêu chuẩn nhân sự tham gia giáo dục và hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù tại địa phương.

Theo dõi chúng tôi trên: