Abstract: With the Juvenile Justice Law of 2024 (amended and supplemented in 2025) officially coming into effect, ensuring consistency and effectiveness in applying rehabilitative educational measures is an urgent requirement. This article analyzes and clarifies the provisions of the Law on the application of educational measures in reform schools to assess the compatibility between current regulations and international judicial standards; points out inconsistencies in the legal system and potential risks to ensuring the rights of juveniles. Based on this, the study proposes improvements to the law, increasing feasibility and enhancing the effectiveness of education and reintegration into the community for juveniles on this issue.
Đặt vấn đề
Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024) được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp tại Việt Nam, khẳng định mạnh mẽ tư duy giáo dục và phục hồi thay thế cho tư duy răn đe, trừng trị. Trong hệ thống các biện pháp xử lý chuyển hướng[1], giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp đặc thù, mang tính chất tước tự do và cách ly người chưa thành niên (NCTN) khỏi môi trường sống thông thường để áp dụng chế độ giáo dục nghiêm ngặt. Việc quy định giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý chuyển hướng thay vì biện pháp tư pháp trước đây, đặt ra nhiều yêu cầu mới về lý luận và thực tiễn áp dụng. Nghiên cứu tập trung phân tích các quy định về đối tượng, điều kiện và thủ tục áp dụng biện pháp này, đồng thời, so sánh với các chuẩn mực quốc tế về quyền trẻ em. Thông qua những điểm chưa tương thích và các bất cập trong trình tự tố tụng đã được phân tích, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính nhân văn và nâng cao hiệu quả giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng cho NCTN trong bối cảnh hiện nay.
1. Quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp tư pháp đặc thù dành riêng cho người dưới 18 tuổi phạm tội, biện pháp này đã được quy định trong luật hình sự Việt Nam, ngay từ Bộ luật Hình sự đầu tiên đến Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (Bộ luật Hình sự năm 2015)[2]. Điểm mới căn bản của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 là xác lập giáo dục tại trường giáo dưỡng dưới hình thức biện pháp xử lý chuyển hướng[3], thay thế cho biện pháp tư pháp trước đây.
Quy định này hiện thực hóa chính sách xử lý nhân văn trên cơ sở ưu tiên lợi ích tốt nhất cho NCTN, nhằm hạn chế tối đa việc đưa đối tượng này ra xét xử hoặc áp dụng hình phạt. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm và các cam kết quốc tế của Việt Nam về việc mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp xử lý ngoài hệ thống tư pháp hình sự truyền thống[4].
Theo khoản 1 Điều 51 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, giáo dục tại trường giáo dưỡng được hiểu là việc NCTN phạm tội thực hiện việc học văn hóa, học nghề, lao động và sinh hoạt dưới sự quản lý trong một tổ chức giáo dục có kỷ luật chặt chẽ. Khác với các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng như khiển trách hay bồi thường thiệt hại, đây là biện pháp mang tính chất tước tự do. NCTN sẽ bị cách ly khỏi môi trường sống thông thường trong thời hạn nhất định để được giáo dục trong môi trường kiểm soát tập trung.
1.1. Điều kiện và đối tượng được áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Trong hệ thống các biện pháp xử lý chuyển hướng, “giáo dục tại trường giáo dưỡng được xác định là biện pháp nghiêm khắc nhất khi tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể của NCTN”[5]. Vì vậy, luật quy định rõ điều kiện và đối tượng áp dụng để bảo đảm nguyên tắc can thiệp tối thiểu và chỉ sử dụng tước tự do như giải pháp cuối cùng.
Thứ nhất, NCTN thuộc một trong các trường hợp tại Điều 37 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng khi đáp ứng đồng thời các điều kiện: có chứng cứ xác định NCTN đã thực hiện hành vi phạm tội; NCTN thừa nhận mình đã thực hiện hành vi phạm tội; NCTN đồng ý bằng văn bản về việc xử lý chuyển hướng. Các điều kiện này bảo đảm tính minh bạch, tự nguyện và nhân văn, giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NCTN trong quá trình cải tạo, giáo dục và tái hòa nhập cộng đồng[6].
Thứ hai, khoản 2 Điều 51 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 xác định các nhóm đối tượng NCTN áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, gồm: (i) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội mua bán người, tội mua bán người dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội vận chuyển trái phép chất ma túy, tội mua bán trái phép chất ma túy, tội chiếm đoạt chất ma túy, trừ trường hợp NCTN là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án; (ii) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng về một trong các tội phạm sau: tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội cướp giật tài sản, trừ trường hợp NCTN là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án; (iii) các trường hợp khác cần phải áp dụng, do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của NCTN phạm tội; (iv) trường hợp người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng mà cố ý vi phạm nghĩa vụ 01 lần trong thời gian gia hạn thực hiện nghĩa vụ hoặc cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên trong thời gian thực hiện nghĩa vụ thì có thể bị thay đổi từ biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng sang biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng[7].
1.2. Thẩm quyền áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Theo Điều 52 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng được phân định theo từng giai đoạn tố tụng. Cụ thể, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, trừ trường hợp vụ án có yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc tịch thu tài sản (khoản 1); thẩm phán và Hội đồng xét xử có thẩm quyền áp dụng toàn bộ các biện pháp xử lý chuyển hướng (khoản 2).
Quy định này thể hiện việc trao thẩm quyền cho cả ba cơ quan tiến hành tố tụng tương ứng với từng giai đoạn, qua đó, bảo đảm nguyên tắc đặc thù của tư pháp NCTN là giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời; đồng thời, hạn chế những tác động tiêu cực của tố tụng hình sự thông thường đối với NCTN bị buộc tội[8].
Đối với biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, việc giao thẩm quyền quyết định cho Tòa án là hoàn toàn phù hợp, bởi đây là biện pháp nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp xử lý chuyển hướng, được áp dụng trên cơ sở căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và môi trường sống của NCTN và cần được giám sát, giáo dục trong môi trường có tính kỷ luật chặt chẽ[9]. Việc áp dụng biện pháp này đòi hỏi quy trình xem xét chặt chẽ, có sự tham gia của Tòa án nhằm bảo đảm tính khách quan, thận trọng của quyết định.
1.3. Thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp mang tính chất tước tự do nên trình tự, thủ tục áp dụng phải được thiết kế theo hướng chặt chẽ, minh bạch và đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan tư pháp[10]. Yêu cầu này phù hợp với Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với người vị thành niên năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh), khi nhấn mạnh việc tước tự do đối với NCTN phải là biện pháp cuối cùng, chỉ áp dụng trong những trường hợp ngoại lệ và trong thời gian ngắn nhất có thể (Quy tắc 13.1). Trên cơ sở đó, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 đã dành riêng các điều luật từ Điều 63 đến Điều 68 quy định vấn đề này.
Thứ nhất, xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thuộc thẩm quyền của Tòa án. Khi nhận thấy NCTN thuộc trường hợp áp dụng biện pháp này, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không được tự mình quyết định mà phải có văn bản kèm hồ sơ vụ án đề nghị Tòa án xem xét, quyết định (điểm a khoản 1 Điều 63). Trường hợp đang xem xét áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng nhưng thẩm phán xác định đủ điều kiện áp dụng giáo dục tại trường giáo dưỡng thì có thể quyết định ngay tại phiên họp mà không cần trả hồ sơ (điểm i khoản 4 Điều 62).
Thứ hai, về quyết định mở phiên họp, trong thời hạn 07 ngày kể từ khi được phân công, thẩm phán phải ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (khoản 1 Điều 64). Quyết định này phải có đầy đủ thông tin về thời gian, địa điểm, thành phần tham gia và được gửi cho các bên liên quan, gồm NCTN, người đại diện, kiểm sát viên và các chủ thể liên quan. Quy định này bảo đảm tính kịp thời, minh bạch, đồng thời, tạo điều kiện để NCTN thực hiện quyền tham gia vào quá trình xem xét.
Thứ ba, phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được tổ chức theo thủ tục quy định tại Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, với sự tham gia của cơ quan đề nghị, NCTN, người bào chữa và người làm công tác xã hội. Thủ tục phiên họp được thiết kế theo hướng thân thiện, tạo điều kiện để NCTN trình bày ý kiến, các bên tranh luận, làm rõ các vấn đề liên quan, qua đó, bảo đảm tính công bằng, minh bạch và nhân văn. Thẩm phán có thể hoãn phiên họp trong trường hợp cần thiết nhằm bảo đảm sự tham gia đầy đủ của các chủ thể; đồng thời, việc áp dụng biện pháp tạm giam trong một số trường hợp nhằm bảo đảm thi hành quyết định, tránh NCTN trốn tránh hoặc tiếp tục vi phạm. Ngoài ra, theo Điều 151 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, trong thủ tục xét xử thân thiện, Hội đồng xét xử có thể áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng, gồm biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng nếu đủ điều kiện; quyết định này có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2024).
2. Một số hạn chế của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2014 về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng là chế định quan trọng của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, gắn trực tiếp với việc hạn chế quyền tự do thân thể của NCTN phạm tội. Vì vậy, việc đánh giá các quy định liên quan không chỉ đặt ra trên phương diện pháp lý, mà cần được thực hiện dưới góc độ bảo đảm lợi ích tốt nhất cho NCTN. Trên cơ sở đó, có thể nhận diện ba nhóm vấn đề sau:
2.1. Thứ tự áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Theo Điều 11 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, thứ tự ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý đối với NCTN được thiết kế theo hướng đề cao tính nhân đạo, giáo dục và phục hồi. Theo đó, trình tự áp dụng các biện pháp xử lý được xác lập như sau:
Thứ nhất, trường hợp NCTN phạm tội đủ điều kiện áp dụng các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự chung theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì cơ quan tiến hành tố tụng phải ưu tiên áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Thứ hai, trường hợp NCTN không đủ điều kiện để được miễn trách nhiệm hình sự theo các căn cứ chung, việc xử lý tiếp theo được thực hiện theo thứ tự: (i) nếu đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng thì phải ưu tiên áp dụng biện pháp này; (ii) trường hợp không đủ điều kiện áp dụng xử lý chuyển hướng tại cộng đồng thì có thể xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; (iii) chỉ khi các biện pháp trên không đáp ứng yêu cầu giáo dục, phòng ngừa thì mới áp dụng hình phạt (khoản 2 Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024).
Tuy nhiên, quy định về thứ tự ưu tiên trong Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 chưa thực sự đầy đủ và hợp lý, đặc biệt, khi đặt trong mối liên hệ với các chế định mang tính nhân đạo khác của Bộ luật Hình sự năm 2015, vì những lý do sau:
Một là, bên cạnh miễn trách nhiệm hình sự và các biện pháp xử lý chuyển hướng, Bộ luật Hình sự năm 2015 còn quy định về miễn hình phạt tại Điều 59. Theo đó, người phạm tội có thể được miễn hình phạt khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 hoặc phạm tội lần đầu, là người giúp sức trong đồng phạm với vai trò không đáng kể, đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức miễn trách nhiệm hình sự. Dù khái niệm “chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự” chưa có hướng dẫn cụ thể, có thể hiểu, đây là trường hợp không thuộc các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng xét mức độ nguy hiểm, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ thì chưa cần thiết áp dụng hình phạt[11].
Theo logic đó, miễn hình phạt là hình thức khoan hồng đặc biệt, có vị trí trung gian giữa miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt, đồng thời, người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích (khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015). Do đó, việc Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 chưa đưa chế định này vào hệ thống tư pháp NCTN đã làm giảm tính toàn diện và linh hoạt của cơ chế xử lý NCTN phạm tội[12].
Hai là, xét về mức độ nghiêm khắc giữa biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng với các hình phạt không giam giữ là cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam giữ thì biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng có mức độ nghiêm khắc hơn rất nhiều, vì đây là biện pháp xử lý chuyển hướng nghiêm khắc nhất, cách ly NCTN phạm tội ra khỏi môi trường sống bình thường[13]. Do đó, trong các hình thức của trách nhiệm hình sự áp dụng đối với NCTN phạm tội thì “biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng chỉ ít nghiêm khắc hơn hình phạt tù có thời hạn”[14] và “nghiêm khắc hơn hình phạt cảnh cáo, phạt tiền và cải tạo không giam giữ”[15]. Do đó, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định ưu tiên áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng so với tất cả loại hình phạt là bất lợi cho NCTN (Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024).
2.2. Vướng mắc về thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Thứ nhất, theo khoản 4 Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, các trường hợp hoãn phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng, gồm: đại diện cơ quan đề nghị vắng mặt; người phiên dịch vắng mặt mà không có người khác thay thế ngay được; NCTN là bị can, người đại diện của họ vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng. Như vậy, luật không quy định về việc có thể xem xét hoãn phiên họp khi những chủ thể quan trọng khác như người bào chữa hoặc người làm công tác xã hội vắng mặt. Trong khi đó, trong mọi trường hợp NCTN bị buộc tội phải có người bào chữa, gồm cả quá trình xem xét, áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Tương tự, người làm công tác xã hội là người trình bày báo cáo điều tra xã hội (điểm d khoản 2 Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024). Báo cáo này là tài liệu rất quan trọng cần được xem xét, đánh giá tại phiên họp, yêu cầu cung cấp các thông tin về hoàn cảnh xã hội của NCTN là cần thiết để xác định nguyên nhân gốc rễ của hành vi mà trẻ đã gây ra[16]. Do đó, nếu người làm công tác xã hội vắng mặt, trong một số trường hợp (ví dụ, có những nội dung của báo cáo điều tra xã hội cần được làm rõ), người chủ trì phiên họp sẽ gặp khó khăn trong việc quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng. Ngoài ra, Điều 150 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 quy định: “Người làm công tác xã hội tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập. Nếu người làm công tác xã hội vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử”.
Thứ hai, theo điểm g khoản 2 Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, các bên tại phiên họp có quyền trình bày ý kiến và tranh luận để làm rõ vấn đề, qua đó, bảo đảm công bằng và tạo điều kiện cho NCTN tham gia. Tuy nhiên, điều này cũng có thể tạo áp lực tâm lý cho NCTN, đặc biệt, khi họ thiếu kinh nghiệm và kỹ năng trong việc đối diện với thủ tục tố tụng. Đây là vấn đề cần được xem xét, bởi “NCTN bị buộc tội thường có tâm lý sợ hãi, e dè, không dám bộc lộ hết suy nghĩ và mong muốn của bản thân”[17]. Điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Tòa án.
2.3. Thiếu quy định về việc tính thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Thứ nhất, theo khoản 3 Điều 51 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024, thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được xác định là từ 06 tháng đến 02 năm. Tuy nhiên, Luật chưa làm rõ cách thức tính thời gian tạm giữ, tạm giam của NCTN trước khi có quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Điều này có thể dẫn đến trường hợp NCTN bị buộc tội phải trải qua khoảng thời gian dài bị tạm giữ, tạm giam trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử trước khi có quyết định chính thức của Tòa án về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng. Việc chưa có quy định cụ thể dẫn đến khó khăn trong bảo đảm quyền lợi của trẻ, bởi tổng thời gian thực tế trẻ bị tước tự do có thể kéo dài quá mức cần thiết, chưa phù hợp với khoản 2 Điều 37 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989.
Thứ hai, việc không hướng dẫn rõ về tính cộng dồn thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn giáo dục tại trường giáo dưỡng có thể gây lúng túng cho các cơ quan thực thi pháp luật. Điều này có thể dẫn tới tình trạng mỗi địa phương áp dụng khác nhau, tạo nguy cơ thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật và làm phát sinh các tình huống pháp lý phức tạp, như các trường hợp NCTN bị tạm giữ kéo dài, sau đó, được áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng thêm 02 năm, khiến tổng thời gian bị cách ly khỏi gia đình và xã hội có thể vượt quá mức 02 năm theo luật định. Điều này trái với nguyên tắc giải quyết nhanh chóng, kịp thời đã được Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 hướng tới.
3. Một số kiến nghị
Trên cơ sở các vấn đề đã phân tích, việc hoàn thiện quy định về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cần được đặt trong khung nguyên tắc chung của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024. Theo đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng như sau:
3.1. Về thứ tự ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý, xác định đúng vị trí của biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong hệ thống tư pháp người chưa thành niên
Hoàn thiện quy định về thứ tự ưu tiên áp dụng các biện pháp xử lý đối với NCTN phạm tội theo hướng “mức độ nghiêm khắc tăng dần”, tức là các biện pháp phải được sắp xếp và lựa chọn dựa trên mức độ hạn chế quyền của NCTN. Cách tiếp cận này bảo đảm nguyên tắc can thiệp tối thiểu, hạn chế tối đa việc tước tự do, đồng thời, vẫn đáp ứng yêu cầu giáo dục, phục hồi và phòng ngừa trong từng trường hợp cụ thể. Theo đó, trong trường hợp NCTN phạm tội không đủ điều kiện để được áp dụng các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự chung cho người phạm tội thì cần quy định thứ tự ưu tiên: (i) áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng; (ii) miễn hình phạt; (iii) áp dụng các hình phạt không giam giữ (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ); (iv) áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; (v) áp dụng hình phạt tù có thời hạn[18]. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung Điều 12 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 như sau:
“Khi xét xử, Tòa án chỉ áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội nếu xét thấy việc áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng và miễn hình phạt không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.
Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với NCTN phạm tội khi xét thấy các hình phạt khác và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không có tác dụng răn đe, phòng ngừa”.
3.2. Hoàn thiện quy định về thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Thứ nhất, bổ sung quy định tại điểm d khoản 4 Điều 66 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 theo hướng cho phép Tòa án xem xét hoãn phiên họp xem xét, áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng trong trường hợp người bào chữa hoặc người làm công tác xã hội vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.
Việc bổ sung quy định này là cần thiết nhằm bảo đảm đầy đủ quyền bào chữa và quyền được hỗ trợ xã hội của NCTN trong quá trình xem xét áp dụng biện pháp có tính chất tước tự do. Trong bối cảnh giáo dục tại trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý chuyển hướng nghiêm khắc nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể, sự vắng mặt của người bào chữa hoặc người làm công tác xã hội, nếu xuất phát từ các lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, có thể làm suy giảm tính công bằng và hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NCTN[19]. Do đó, việc cho phép Tòa án hoãn phiên họp trong những trường hợp này không chỉ bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc tố tụng cơ bản, mà còn phù hợp với yêu cầu bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của NCTN.
Thứ hai, bảo đảm môi trường tố tụng thân thiện và vai trò điều hành của thẩm phán trong phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Việc tổ chức phiên họp có ý nghĩa quan trọng trong tạo môi trường phù hợp với đặc điểm tâm lý, độ tuổi và nhu cầu phát triển của NCTN. Phiên họp được thiết kế theo hướng thân thiện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của NCTN, hạn chế các yếu tố gây căng thẳng, tránh các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc gây tổn thương tâm lý, sẽ góp phần khuyến khích NCTN tham gia tố tụng một cách chủ động, trung thực và tự tin hơn, qua đó, nâng cao chất lượng xem xét, đánh giá của Tòa án[20]. Đồng thời, thẩm phán cần bảo đảm công bằng trong tranh luận, chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN, không để xảy ra sự áp đặt trong phiên họp, tạo điều kiện để NCTN trình bày quan điểm một cách tự do và rõ ràng, từ đó, giúp phiên họp diễn ra công bằng và nhân văn hơn.
Yêu cầu này đòi hỏi thẩm phán không chỉ giữ vai trò điều hành, mà còn phải chú trọng đến cân bằng vị thế giữa các chủ thể tham gia phiên họp, đặc biệt, trong mối quan hệ giữa NCTN với người tiến hành tố tụng. Việc bảo đảm NCTN được lắng nghe đầy đủ, được giải thích rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của mình góp phần hiện thực hóa nguyên tắc bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện, lấy giáo dục làm trọng tâm trong tư pháp đối với NCTN.
3.3. Hoàn thiện quy định về việc tính thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Hiện, thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng được quy định từ 06 tháng đến 02 năm (khoản 3 Điều 51 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024), nhưng luật chưa quy định cụ thể về việc cộng, trừ thời gian tạm giữ, tạm giam của NCTN vào tổng thời hạn áp dụng biện pháp này. Điều này có thể làm kéo dài tổng thời gian tước tự do vượt mức cần thiết, không phù hợp với yêu cầu tước tự do là biện pháp cuối cùng và trong thời gian ngắn nhất theo khoản 2 Điều 37 Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Quy tắc 13.1 Quy tắc Bắc Kinh[21].
Vì vậy, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 cần sửa đổi, bổ sung quy định về nguyên tắc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam nhằm bảo đảm tính tương xứng và thống nhất áp dụng. Theo đó, cần bổ sung quy định sau: “Thời hạn NCTN bị tạm giữ, tạm giam trước khi Tòa án quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đều phải được trừ vào tổng thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quyết định của Tòa án”. Đồng thời, quyết định của Tòa án cần quy định rõ thời gian đã bị tước tự do và thời hạn còn lại phải chấp hành sau khi khấu trừ để làm căn cứ tổ chức thi hành, hạn chế cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các địa phương.
Kết luận
Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với NCTN phạm tội theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 đã thể hiện sự thay đổi quan trọng từ ban đầu là biện pháp tư pháp sang các biện pháp giáo dục có tính nhân văn và hiệu quả. Tuy nhiên, việc triển khai biện pháp này còn tồn tại một số trở ngại và thách thức trên thực tế. Nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm bảo vệ quyền lợi của NCTN, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng. Từ đó, góp phần xây dựng hệ thống tư pháp nhân văn, hiện đại và phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
ThS. Lê Bá Đức
Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Ảnh: Internet
[1]. Xử lý chuyển hướng là quá trình thay thế nhằm xử lý các vi phạm của người chưa thành niên ngoài hệ thống tư pháp chính thống (Trường Đại học Luật Hà Nội (2023), Tư pháp đối với người chưa thành niên, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr.15).
[2]. Nguyễn Thị Phương Hoa (2022), Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quy định của Bộ luật Hình sự và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 08, tr.36.
[3]. Biện pháp xử lý chuyển hướng là biện pháp giám sát, giáo dục, phòng ngừa áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, gồm các biện pháp xử lý chuyển hướng tại cộng đồng quy định từ khoản 1 đến khoản 11 Điều 36 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 và biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại khoản 12 Điều 36 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024.
[4]. Tờ trình số 48/TTr-TANDTC ngày 30/3/2024 về Dự án Luật Tư pháp người chưa thành niên, tr.14.
[5]. Đỗ Đức Hồng Hà, Lò Thị Việt Hà (2024), Luật Tư pháp người chưa thành niên - Đạo luật nhân văn thể chế hóa đường lối của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp và nội luật hóa Công ước quốc tế, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17, tr.27.
[6]. Vụ Pháp chế và Quản lý nghiên cứu khoa học - Tòa án nhân dân tối cao (2025), Giới thiệu một số nội dung của Luật Tư pháp người chưa thành niên, Nxb. Tư pháp, tr.47.
[7]. Vụ Pháp chế và Quản lý nghiên cứu khoa học - Tòa án nhân dân tối cao (2025), tlđd, tr.58-59.
[8]. Lê Huỳnh Tấn Duy (2024), Góp ý quy định của Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên về các biện pháp xử lý chuyển hướng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10 (489), Kỳ 2, tr.19.
[9]. Đỗ Đức Hồng Hà (2024), Hoàn thiện Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17 (496), tr.26.
[10]. Đỗ Đức Hồng Hà (2024), tlđd, tr.26.
[11]. Mai Thị Thủy (2025), Một số điểm mới trong quy định về hình phạt và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và kiến nghị hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/mot-so-diem-moi-trong-quy-dinh-ve-hinh-phat-va-quyet-dinh-hinh-phat-doi-voi-nguoi-chua-thanh-nien-pham-toi-va-kien-nghi-hoan-thien13495.html, truy cập ngày 08/02/2026.
[12]. Mai Thị Thủy (2024), tlđd, truy cập ngày 08/02/2026.
[13]. Trần Minh Thảo (2024), Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh Bình Dương, Luận án Tiến sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội, tr.156.
[14]. Nguyễn Thị Phương Hoa (2022), tlđd, tr.43.
[15]. Nguyễn Thị Phương Hoa (2022), tlđd, tr.45.
[16]. Hoàng Thái Duy (2024), Hoàn thiện quy định xét xử bị cáo là người chưa thành niên trong Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên, Tạp chí Nghề luật, số 10, tr.79.
[17]. Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên, 2024), Hoàn thiện pháp luật tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam (sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị Quốc gia sự thật, tr.216.
[18]. Trần Minh Thảo (2024), tlđd, tr.156.
[19]. Lê Huỳnh Tấn Duy, Lê Bá Đức (2026), Hoàn thiện quy định về thẩm quyền và thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên, Tạp chí Kiểm sát, số 01, tr.44.
[20]. Võ Thành Đạt (2025), Tìm hiểu biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội trong Luật Tư pháp người chưa thành niên, Tạp chí Nghề luật, số 03, tr.66.
[21]. Khoản 2 Điều 37 Công ước quốc tế về quyền trẻ em quy định: “Không trẻ em nào bị tước quyền tự do một cách bất hợp pháp hoặc tùy tiện. Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em phải được tiến hành phù hợp với pháp luật và chỉ được coi là biện pháp cuối cùng và áp dụng trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Quy tắc 13.1 Quy tắc Bắc Kinh quy định: “Hình thức tạm giam chờ xét xử được sử dụng như một biện pháp cuối cùng và chỉ trong thời gian ngắn nhất có thể”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Đức Hồng Hà (2024), Hoàn thiện Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17 (496).
2. Đỗ Đức Hồng Hà, Lò Thị Việt Hà (2024), Luật Tư pháp người chưa thành niên - Đạo luật nhân văn thể chế hóa đường lối của Đảng, cụ thể hóa Hiến pháp và nội luật hóa Công ước quốc tế, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 17.
3. Hoàng Thái Duy (2024), Hoàn thiện quy định xét xử bị cáo là người chưa thành niên trong Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên, Tạp chí Nghề luật, số 10.
4. Lê Huỳnh Tấn Duy (2024), Góp ý quy định của Dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên về các biện pháp xử lý chuyển hướng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 10 (489), Kỳ 2.
5. Lê Huỳnh Tấn Duy, Lê Bá Đức (2026), Hoàn thiện quy định về thẩm quyền và thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên, Tạp chí Kiểm sát, số 01.
6. Mai Thị Thủy (2025), Một số điểm mới trong quy định về hình phạt và quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội và kiến nghị hoàn thiện, https://tapchitoaan.vn/mot-so-diem-moi-trong-quy-dinh-ve-hinh-phat-va-quyet-dinh- hinh-phat-doi-voi-nguoi-chua-thanh-nien-pham-toi-va-kien-nghi-hoan-thien13495.html, truy cập ngày 08/02/2026.
7. Nguyễn Hòa Bình (Chủ biên, 2024), Hoàn thiện pháp luật tư pháp người chưa thành niên tại Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.
8. Nguyễn Thị Phương Hoa (2022), Biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng theo quy định của Bộ luật Hình sự và một số kiến nghị hoàn thiện, Tạp chí Luật học, số 08.
9. Trần Minh Thảo (2024), Trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội - từ thực tiễn tỉnh Bình Dương, Luận án tiến sỹ luật học, Học viện Khoa học xã hội.
10. Trường Đại học Luật Hà Nội (2023), Giáo trình Tư pháp đối với người chưa thành niên, kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân.
11. Võ Thành Đạt (2025), Tìm hiểu biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội trong Luật Tư pháp người chưa thành niên, Tạp chí Nghề luật, số 10.
12. Vụ Pháp chế và Quản lý nghiên cứu khoa học - Tòa án nhân dân tối cao (2025), Giới thiệu một số nội dung của Luật Tư pháp người chưa thành niên, Nxb. Tư pháp.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (448) tháng 3/2026)