Tóm tắt: Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nên các quốc gia đều ban hành chính sách, pháp luật để gìn giữ. Bằng phương pháp phân tích văn bản pháp luật và đối chiếu với thực tiễn triển khai, bài viết đánh giá hai nội dung trọng tâm: giáo dục bằng ngôn ngữ dân tộc và giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường ở tỉnh Gia Lai. Kết quả nghiên cứu chỉ ra, mặc dù hệ thống chính sách tương đối đầy đủ, nhưng thực tiễn thi hành còn gặp nhiều hạn chế như quy mô dạy tiếng dân tộc thiểu số còn hạn hẹp, thiếu đội ngũ giáo viên đạt chuẩn; việc huy động nghệ nhân gặp khó khăn do các quy định hiện hành và thiếu cơ chế tài chính chi trả thù lao. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, linh hoạt về tiêu chuẩn nhân sự tham gia giáo dục và hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù tại địa phương.
Từ khóa: quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa; trẻ em dân tộc thiểu số; Gia Lai
Abstract: Preserving and promoting the value of ethnic cultural identity play a crucial role in socio-economic development, which is why all countries enact policies and laws to safeguard it. Using legal text analysis and comparison with practical implementation, this article assesses two key areas: education in ethnic languages and the preservation of ethnic cultural values through educational activities in schools in Gia Lai province. The research results indicate that, although the policy system is relatively comprehensive, practical implementation still faces many limitations, such as the limited scale of teaching ethnic minority languages, a shortage of qualified teachers; difficulties in mobilizing artisans due to current regulations and a lack of financial mechanisms for remuneration. Based on this, the study proposes several solutions to standardize the teaching staff, increase flexibility in personnel standards for education, and improve the specific financial mechanisms at the local level.
Keywords: Right to preserve and promote cultural identity; ethnic minority children; Gia Lai
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức, một số loại hình văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán tốt đẹp của một số DTTS có nguy cơ mai một[1] hay suy giảm vai trò của các thiết chế văn hóa truyền thống. Trong chiến lược bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, trẻ em được xác định là chủ thể trung tâm. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, giáo dục giữ vai trò then chốt trong việc truyền thụ và tái tạo các giá trị văn hóa cho thế hệ trẻ, đặc biệt thông qua giáo dục ngôn ngữ, lịch sử và tri thức văn hóa của DTTS[2]. Việc đưa nội dung văn hóa, ngôn ngữ và di sản của các DTTS vào giáo dục phổ thông được xem là hướng tiếp cận phù hợp, góp phần hiện thực hóa quyền của trẻ em DTTS một cách bền vững và có hệ thống, đáp ứng yêu cầu xem xét đúng mức tầm quan trọng của các truyền thống và giá trị văn hóa của mỗi dân tộc để bảo vệ và phát triển hài hòa cho trẻ em[3].
Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật từng bước nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về quyền của trẻ em DTTS, tạo hành lang pháp lý quan trọng cho thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, khảo sát thực tiễn tại khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai (địa bàn Gia Lai trước khi sáp nhập với Bình Định), nơi có tỷ lệ đồng bào DTTS chiếm tới 46,23% dân số[4], cho thấy quá trình chuyển hóa các chính sách này vào môi trường giáo dục vẫn tồn tại “khoảng trống” nhất định giữa quy định và thực thi. Bài viết phân tích khung pháp luật hiện hành và đánh giá thực trạng bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em DTTS tại phía Tây tỉnh Gia Lai trên hai phương diện: (i) giáo dục bằng ngôn ngữ dân tộc; (ii) giữ gìn giá trị văn hóa thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi quyền này trong thời gian tới.
1. Khung pháp luật về quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số
Quyền giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em DTTS được hình thành và phát triển trên cơ sở kết hợp giữa các chuẩn mực pháp luật quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em với hệ thống pháp luật quốc gia. Nền tảng pháp luật quốc tế của quyền này đối với nhóm DTTS được quy định tại Điều 27 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Theo đó, tại các quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của họ[5]. Đồng thời, Điều 27 Bình luận chung số 23 năm 1994 của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc nhấn mạnh mục tiêu của việc thực thi: “…việc bảo vệ các quyền này nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển liên tục bản sắc văn hóa, tôn giáo và xã hội của các nhóm thiểu số liên quan”[6].
Đối với nhóm chủ thể đặc thù là trẻ em DTTS, Điều 30 Công ước về Quyền trẻ em năm 1989 (CRC) trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, khẳng định: “Ở những quốc gia có các DTTS hoặc người bản địa, trẻ em thuộc các nhóm này không thể bị từ chối quyền được hưởng nền văn hóa của mình, được tuyên xưng và thực hành tôn giáo của mình hoặc sử dụng ngôn ngữ của mình”[7]. Điểm c khoản 1 Điều 29 CRC gián tiếp xác lập nghĩa vụ quốc gia trong định hướng giáo dục phải nhằm mục tiêu: “Phát triển sự tôn trọng đối với cha mẹ của trẻ em, tôn trọng bản sắc văn hóa, ngôn ngữ và các giá trị của bản thân trẻ em, tôn trọng những giá trị quốc gia của đất nước mà trẻ em đang sống và của đất nước là nguyên quán của trẻ em, tôn trọng những nền văn minh khác với nền văn minh của nơi mà trẻ em sinh ra”.
Trên cơ sở các chuẩn mực quốc tế, Việt Nam từng bước nội luật hóa quyền giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em DTTS trong hệ thống pháp luật quốc gia. Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) ghi nhận quyền của các dân tộc được sử dụng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, đồng thời, khẳng định nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử giữa các dân tộc (Điều 5). Đây là nền tảng hiến định quan trọng, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chính sách và luật chuyên ngành liên quan đến quyền văn hóa của trẻ em DTTS. Khoản 2 Điều 18 Luật Trẻ em năm 2016 (sửa đổi, bổ sung năm 2018, 2024) quy định: “Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình”. Luật Di sản văn hóa năm 2024 quy định nguyên tắc ưu tiên xây dựng chính sách bảo vệ di sản văn hóa vùng đồng bào DTTS và miền núi (Điều 7), đặc biệt quan tâm đến các biện pháp bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam (Điều 19).
Luật Giáo dục năm 2019 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc “khuyến khích, tạo điều kiện” để người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình (khoản 2 Điều 11). Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu giáo dục phải kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, phù hợp với sự phát triển của người học (Điều 7). Bên cạnh đó, việc trao quyền cho chính quyền địa phương trong biên soạn tài liệu giáo dục phù hợp với đặc thù văn hóa địa phương (Điều 32) tạo cơ sở pháp lý cho việc đưa các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số vào hoạt động giáo dục.
Như vậy, hệ thống pháp luật Việt Nam đã hình thành khung pháp lý tương đối đầy đủ, thể hiện sự tiếp cận nhất quán với các chuẩn mực quốc tế về quyền trẻ em trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa. Trong khuôn khổ đó, Nhà nước có nghĩa vụ tạo lập các điều kiện pháp lý, thể chế và tổ chức cần thiết để quyền này được thực hiện, trước hết là thông qua môi trường giáo dục.
2. Thực tiễn bảo đảm thực thi quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số tại Gia Lai
2.1. Về giáo dục bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số
Giữ gìn và phát triển ngôn ngữ DTTS luôn được Việt Nam quan tâm trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách dân tộc, bởi ngôn ngữ góp phần định hình bản sắc của một cộng đồng bất kể quy mô ra sao[8] và bình đẳng dân tộc trước hết là bình đẳng về ngôn ngữ[9].
Ở khu vực Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng, ngôn ngữ mang bản sắc văn hóa rất khác biệt, cần được bảo tồn và giữ gìn, vì đây là dạng ngôn ngữ lời nói vần, một hình thức trung gian giữa ngôn ngữ thường ngày và ngôn ngữ văn học[10]. Đối với trẻ em DTTS, ngôn ngữ mẹ đẻ giữ vai trò đặc biệt trong quá trình hình thành và phát triển bản sắc cá nhân cũng như trong việc tiếp cận, tiếp nối các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng. Nhà nước đã ban hành và triển khai nhiều chính sách quan trọng liên quan đến dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS như: Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 96/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025); Quyết định số 142/QĐ-TTg ngày 27/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình nâng cao chất lượng dạy học các môn tiếng DTTS trong Chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn 2021 - 2030; Thông tư số 34/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông môn tiếng Bahnar, tiếng Chăm, tiếng Êđê, tiếng Jrai, tiếng Khmer, tiếng Mông, tiếng Mnông, tiếng Thái; Thông tư số 32/2021/TT-BGDĐT ngày 22/11/2021 hướng dẫn thực hiện một số điều Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên (sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Thông tư số 10/2025/TT-BGDĐT ngày 12/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền địa phương hai cấp đối với giáo dục phổ thông)… Hệ thống chính sách này tạo cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ cho việc tổ chức dạy học tiếng DTTS trong các cơ sở giáo dục phổ thông.
Trên cơ sở đó, tỉnh Gia Lai ban hành nhiều văn bản cụ thể nhằm hiện thực hóa chính sách bảo tồn và phát triển ngôn ngữ DTTS trong giáo dục, như Quyết định số 30/2011/QĐ-UBND ngày 28/10/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai công bố bộ chữ cái và hệ thống âm vần tiếng Jrai, tiếng Bahnar; Quyết định số 780/QĐ-UBND ngày 22/11/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai cho phép dạy học tiếng Bahnar, tiếng Jrai ở cấp tiểu học trên địa bàn tỉnh Gia Lai; Kế hoạch số 99/KH-UBND ngày 11/01/2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai triển khai Chương trình nâng cao chất lượng dạy học các môn tiếng DTTS trong Chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn 2023 - 2030. Những văn bản này cho thấy nỗ lực của tỉnh trong việc chuyển hóa các quy định khung của trung ương thành chương trình hành động cụ thể gắn với đặc thù địa phương. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện cũng bộc lộ một số vấn đề cần được tiếp tục quan tâm:
Một là, quy mô dạy học tiếng DTTS còn hạn chế, phạm vi triển khai khá hẹp. Tính đến tháng 3/2025, toàn khu vực có 198.553/422.614 học sinh là người DTTS, trong đó, học sinh DTTS cấp tiểu học là 89.029 em (chiếm 52,54%)[11]. Tuy nhiên, năm học 2024 - 2025, chỉ có 05 trường tiểu học tổ chức dạy và học tiếng DTTS với 19 lớp, 611 em[12]. Điều này cho thấy, phạm vi hoạt động dạy học tiếng DTTS mới chỉ đáp ứng được khoảng 0,69% nhu cầu học tập của học sinh DTTS trên địa bàn.
Hai là, đội ngũ giáo viên dạy tiếng DTTS còn thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng chuyên môn. Tại khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai, đội ngũ giáo viên dạy tiếng DTTS trong trường tiểu học hiện chỉ có 11 giáo viên (trong đó có 02 giáo viên dạy tiếng Jrai, 09 giáo viên dạy tiếng Bahnar). Nếu so sánh với số lượng 05 trường/19 lớp được giảng dạy thì nguồn nhân lực chưa đủ phục vụ nhu cầu dạy - học. Mặc dù 100% giáo viên hiện nay được bồi dưỡng ngắn hạn thông qua các chương trình tập huấn, nhưng chưa được đào tạo chính quy chuyên ngành giảng dạy tiếng Jrai và tiếng Bahnar. Vấn đề sinh hoạt chuyên môn, dự giờ và trao đổi nghiệp vụ giữa giáo viên gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng nhất định đến chất lượng và tính bền vững của hoạt động dạy học.
2.2. Về giữ gìn các giá trị văn hóa dân tộc thông qua hoạt động giáo dục trong nhà trường
Hiện, chương trình giáo dục phổ thông được thực hiện theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết số 51/2017/QH14 ngày 21/11/2017). Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết này là trao quyền cho địa phương trong tổ chức biên soạn, bổ sung các nội dung về đặc điểm lịch sử, văn hóa và kinh tế - xã hội của địa phương (tài liệu giáo dục địa phương), qua đó, tạo dư địa pháp lý để các cơ sở giáo dục chủ động xây dựng và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường và đặc thù văn hóa của từng vùng, miền. Trên tinh thần đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 về Chương trình giáo dục phổ thông (sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 17/2025/TT-BGDĐT ngày 12/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) quy định về nội dung tài liệu giáo dục địa phương. Cách tiếp cận này góp phần mở rộng không gian để các giá trị văn hóa của cộng đồng DTTS được lồng ghép vào môi trường học đường một cách linh hoạt và phù hợp.
Thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo với yêu cầu “xây dựng chính sách phù hợp để huy động được người giỏi ngoài lực lượng nhà giáo tham gia giảng dạy, huấn luyện trong các cơ sở giáo dục”, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn số 5215/BGDĐT-GDPT ngày 03/9/2025 hướng dẫn việc mời chuyên gia, nghệ nhân, nghệ sĩ tham gia các hoạt động giáo dục trong trường phổ thông. Quy định này mở rộng đáng kể không gian pháp lý cho việc đưa các chủ thể văn hóa cộng đồng trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục, qua đó, tạo điều kiện để trẻ em DTTS được giữ gìn, tiếp cận các giá trị văn hóa của cộng đồng mình ngay trong môi trường học đường.
Khu vực phía Tây tỉnh Gia Lai là nơi có nhiều di sản văn hóa phi vật thể có ý nghĩa quan trọng với cộng đồng người DTTS như: Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên; Hơmon (sử thi) của người Bahnar, Lễ cầu mưa của Yang Pơtao Apui… Để hiện thực hóa mục tiêu bảo tồn gắn với giáo dục, ngày 09/9/2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai ban hành Quyết định số 580/QĐ-UBND phê duyệt khung Chương trình giáo dục địa phương. Theo đó, nội dung giáo dục địa phương được thiết kế theo cấu trúc khoa học, gồm các phần từ tiếp cận kiến thức đến luyện tập và vận dụng; trong đó, các yếu tố văn hóa như âm nhạc truyền thống, ẩm thực, trang phục của người DTTS được lồng ghép nhằm bồi dưỡng ý thức tôn trọng, tự hào và trách nhiệm bảo tồn văn hóa cho học sinh. Ngày 25/6/2025, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai ban hành Kế hoạch số 841/KH-SGDĐT về tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông năm học 2025 - 2026 trên địa bàn tỉnh Gia Lai, yêu cầu: “Các cơ sở giáo dục xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện hiệu quả văn hóa học đường gắn với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, trong đó, tích hợp thiết thực các nội dung giáo dục về quyền con người,… bảo tồn văn hóa dân tộc;… giáo dục qua di sản”.
Hiện, các cơ sở giáo dục được định hướng chủ động lựa chọn các nội dung, chủ đề phù hợp trong tài liệu được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt để tổ chức dạy học trong năm học 2025 – 2026[13], đồng thời, điều chỉnh, tích hợp và vận dụng linh hoạt theo đặc điểm văn hóa, xã hội, địa lý của đơn vị hành chính mới sau sắp xếp. Trên cơ sở đó, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai được giao nhiệm vụ xây dựng khung nội dung giáo dục địa phương cho các cấp học, bảo đảm tính kế thừa, liên thông và ổn định, làm cơ sở cho việc chỉnh lý, biên soạn tài liệu giáo dục địa phương trong các năm học tiếp theo. Trong giai đoạn chuyển tiếp, dù đang tồn tại hai bộ tài liệu giáo dục địa phương của tỉnh Gia Lai (cũ) và tỉnh Bình Định (cũ) được nghiệm thu và đưa vào giảng dạy từ năm 2023, song, ngành giáo dục địa phương đã kịp thời chỉ đạo các cơ sở giáo dục cập nhật các chủ trương mới về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, đồng thời, triển khai việc sử dụng các tài liệu này theo tinh thần kế thừa và “vận dụng linh hoạt”, bảo đảm tính liên tục, ổn định và phù hợp của hoạt động dạy học.
Thực hiện Công văn số 5215/BGDĐT-GDPT ngày 03/9/2025, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai ban hành Công văn số 667/SGDĐT-GDTrH ngày 15/8/2025 hướng dẫn tổ chức dạy học 02 buổi/ngày đối với giáo dục phổ thông năm học 2025 - 2026, trong đó: “Huy động các nhóm nhân lực có chuyên môn, nghệ nhân, nghệ sĩ, vận động viên chuyên nghiệp tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục trong các nhà trường”. Đối với lĩnh vực giáo dục văn hóa DTTS, nghệ nhân với tư cách là chủ thể di sản văn hóa và người trực tiếp truyền dạy tri thức, thực hành văn hóa truyền thống được xác định là lực lượng phù hợp để tham gia triển khai chủ trương này trong môi trường học đường. Tuy nhiên, quá trình triển khai trên thực tế cho thấy việc hiện thực hóa chủ trương trên còn gặp phải những giới hạn nhất định:
Một là, hạn chế về nguồn nhân lực là nghệ nhân văn hóa DTTS. Khoản 15 Điều 3 Luật Di sản văn hóa năm 2024 quy định: “Nghệ nhân di sản văn hóa phi vật thể là người thực hành, nắm giữ và trao truyền các kỹ năng, kỹ thuật, bí quyết ở trình độ cao và hiểu biết sâu sắc về di sản văn hóa phi vật thể”. Như vậy, để được xác định là nghệ nhân cần đáp ứng nhiều yếu tố, trong đó nội dung về “nắm giữ và trao truyền các kỹ năng, kỹ thuật, bí quyết ở trình độ cao” là điều kiện khó đáp ứng nhất, dẫn đến số lượng nghệ nhân không nhiều. Ví dụ, tính đến tháng 9/2024, trên địa bàn toàn tỉnh Gia Lai chỉ có gần 100 nghệ nhân biết chỉnh chiêng[14]. Điều này dẫn đến khó triển khai việc mời nghệ nhân tham gia truyền dạy các giá trị văn hóa truyền thống trong môi trường học đường trên phạm vi rộng.
Trong khi, tại các địa bàn vùng đồng bào DTTS, nhiều chủ thể văn hóa có khả năng truyền dạy, am hiểu tri thức và thực hành văn hóa truyền thống được cộng đồng thừa nhận rộng rãi, nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí theo quy định hiện hành để được công nhận chính thức với tư cách nghệ nhân. Việc gắn điều kiện tham gia hoạt động giáo dục chỉ gồm “nghệ nhân” theo quy định sẽ thu hẹp phạm vi huy động nguồn lực văn hóa từ cộng đồng, thu hẹp tính tác động và khả thi của chủ trương đưa di sản và chủ thể văn hóa vào môi trường học đường.
Hai là, chưa có hướng dẫn về việc sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách để mời nghệ nhân tham gia hoạt động giáo dục. Mặc dù Công văn số 5215/BGDĐT-GDPT định hướng việc huy động nguồn lực thông qua sử dụng ngân sách theo dự toán được phê duyệt và giao địa phương chủ động tham mưu chính sách đãi ngộ, nhưng quá trình triển khai tại các địa bàn khó khăn như tỉnh Gia Lai cho thấy tồn tại những khoảng trống pháp lý đáng kể trong cơ chế tài chính công, ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của chủ trương đưa chủ thể văn hóa tham gia hoạt động giáo dục trong nhà trường như: (i) theo Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, dự toán chi ngân sách cho cơ sở giáo dục được lập và phê duyệt từ năm trước, với cơ cấu chi chủ yếu tập trung vào tiền lương, phụ cấp và các khoản chi thường xuyên theo định mức. Trong khi, việc mời nghệ nhân tham gia truyền dạy văn hóa là nhiệm vụ mới, chưa được thiết kế như nội dung chi độc lập và chưa được tích hợp trong dự toán đầu năm. Đối với các trường học ở vùng đồng bào DTTS, nơi khả năng huy động nguồn lực xã hội hóa hạn chế, việc tự điều chỉnh từ nguồn chi thường xuyên hiện có vừa khó khăn về nguồn lực và vừa tiềm ẩn rủi ro pháp lý liên quan đến nguyên tắc chi không đúng mục đích và dự toán; (ii) việc tham mưu ban hành các nghị quyết hoặc quyết định về chính sách đãi ngộ đặc thù đối với nghệ nhân tham gia giáo dục phải tuân thủ quy trình pháp lý chặt chẽ. Trong khi, năm học được triển khai theo khung thời gian cố định, dẫn đến chênh lệch giữa thời điểm phát sinh nhu cầu thực tiễn của nhà trường và thời điểm chính sách tài chính được ban hành. Vấn đề này tạo ra tình trạng nhà trường có nhu cầu tổ chức hoạt động, nghệ nhân đủ điều kiện sẵn sàng tham gia, nhưng cơ chế tài chính chưa được ban hành, làm giảm hiệu quả triển khai chủ trương trong thực tế. Việc các cơ sở giáo dục phải chờ hướng dẫn hoặc chờ hoàn thiện chính sách trong khi năm học đã bắt đầu làm giảm tính kịp thời và hiệu quả của chủ trương. Điều này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế tài chính theo hướng linh hoạt hơn, đồng thời, tăng cường tính chủ động cho địa phương và cơ sở giáo dục, nhằm bảo đảm các chính sách nhân văn về giáo dục văn hóa cho trẻ em DTTS được triển khai thực chất và bền vững.
3. Một số kiến nghị nhằm thúc đẩy bảo đảm quyền giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai
Một là, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy tiếng DTTS. Thực tiễn cho thấy, việc Trường Đại học Tây Nguyên triển khai đào tạo chuyên ngành Giáo dục tiểu học tiếng Jrai là hướng đi tích cực, góp phần chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy tiếng DTTS và nâng cao tính bền vững của chính sách giáo dục ngôn ngữ dân tộc. Tuy nhiên, về dài hạn, việc bảo đảm chất lượng và tính ổn định của đội ngũ này đòi hỏi phải có định hướng giao chỉ tiêu đào tạo chính quy đối với một số ngôn ngữ DTTS, trong đó, ưu tiên 08 ngôn ngữ đã được ban hành chương trình giảng dạy theo Thông tư số 34/2020/TT-BGDĐT ngày 15/9/2020 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Đây là cơ sở quan trọng nhằm khắc phục tình trạng giảng dạy theo hình thức kiêm nhiệm hoặc chỉ thông qua các khóa bồi dưỡng ngắn hạn, vốn chưa hình thành được lộ trình nghề nghiệp ổn định cho giáo viên dạy tiếng DTTS, từ đó, ảnh hưởng đến động lực công tác và chất lượng giảng dạy lâu dài.
Hai là, kiến nghị Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai xây dựng và ban hành hướng dẫn đặc thù về tiêu chuẩn nhân sự tham gia giáo dục di sản phù hợp với thực tiễn địa phương. Để khai thác tối đa nguồn nhân lực cho mục đích giáo dục văn hóa DTTS, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, cần hướng dẫn cụ thể về tiêu chí, tiêu chuẩn với nghệ nhân theo hướng mở rộng khung tiêu chuẩn, cho phép các nhà trường ký hợp đồng thỉnh giảng đối với cả những người có uy tín, am hiểu về văn hóa dân tộc đã được cộng đồng thừa nhận, thay vì chỉ gồm danh hiệu nghệ nhân để phù hợp với đặc thù của địa phương.
Ba là, kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai tham mưu trình Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành nghị quyết quy định cơ chế tài chính đặc thù hỗ trợ hoạt động giáo dục văn hóa địa phương trong trường học. Trên cơ sở tuân thủ Luật Ngân sách nhà nước năm 2025, nghị quyết cần tập trung thể chế hóa hai nội dung sau: (i) về định mức chi: cần xây dựng và ban hành khung định mức chi thù lao giảng dạy áp dụng linh hoạt cho cả hai đối tượng: nghệ nhân đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu và các chủ thể thực hành di sản (được cộng đồng suy tôn, công nhận). Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các cơ sở giáo dục ký kết hợp đồng theo quy định và bảo đảm tính minh bạch, công khai; (ii) về nguồn lực thực hiện: Nghị quyết cần xác định rõ nguyên tắc ưu tiên bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách địa phương trong cân đối hàng năm; đồng thời, cho phép áp dụng cơ chế lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia hoặc các đề án bảo tồn văn hóa khác. Quy định này nhằm tháo gỡ tình trạng tình trạng giao nhiệm vụ cho cơ sở giáo dục nhưng chưa có cơ chế tài chính tương ứng, giúp các nhà trường chủ động nguồn lực để triển khai hoạt động giáo dục.
Kết luận
Quyền giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của trẻ em DTTS có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ em. Mặc dù khung pháp luật và chính sách liên quan được xây dựng tương đối đầy đủ, việc thực thi quyền này trong môi trường học đường còn hạn chế nhất định về cơ chế tài chính, nguồn nhân lực và tổ chức thực hiện, đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách theo hướng tăng cường tính khả thi và đồng bộ trong quá trình thể chế hóa quyền, đồng thời, đề cao vai trò của chính quyền địa phương trong việc chuyển hóa các quy định pháp luật thành các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn. Việc thực hiện hiệu quả các giải pháp này sẽ góp phần bảo đảm quyền văn hóa của trẻ em DTTS một cách thực chất và bền vững, có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy di sản văn hóa của dân tộc trong bối cảnh phát triển hiện nay./.
ThS. Trịnh Thị Thu Hiền
Trường Chính trị tỉnh Gia Lai
Ảnh: Internet
[1]. Ban Tuyên giáo Trung ương (2014), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết và một số chủ trương của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 42 - 43.
[2]. Nguyễn Duy Dũng (2025), Bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên gắn với phát triển du lịch hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu dân tộc và tôn giáo (số 1, tập 2), tr. 1 - 5.
[3]. Ya’ir Ronen (2004), Redefining the child’s right to identity, International Journal of Law, Policy and the Family, Volume 18, Issue 2, August 2004, Pages 147 – 177, https://doi.org/10.1093/lawfam/18.2.147.
[4]. Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai (2025), tlđd.
[5]. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Cong-uoc-quoc-te-ve-quyen-dan-su-va-chinh-tri-270274.aspx, truy cập ngày 08/01/2025.
[6]. General Comment No. 23: Article 27 (Rights of Minorities), https://www.refworld.org/legal/general/hrc/1994/en/26900, truy cập ngày 08/01/2025.
[7]. Công ước Trẻ em năm 1989, https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Linh-vuc-khac/Cong-uoc-cua Lien-hop-quoc-ve-quyen-tre-em-233659.aspx, truy cập ngày 08/01/2025.
[8]. Piergigli, Valeria (2013), The Right to Cultural Identity, Annuaire international de justice constitutionnelle, vol. 29, 2013, pp. 597 - 619.
[9]. Trương Minh Dục (2020), Xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 30.
[10]. Ngô Đức Thịnh (2025), Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên, Nxb. Tri thức, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 365.
[11]. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai (2025), Báo cáo số 345/SGDĐT-TCCB ngày 25/3/2025 báo cáo tình hình tổ chức dạy học tiếng dân tộc thiểu số và nhu cầu phát triển đội ngũ giáo viên dạy học tiếng dân tộc thiểu số theo Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018.
[12]. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai (2025), tlđd.
[13]. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Gia Lai (2025), Kế hoạch số 841/KH-SGDĐT ngày 25/6/2025 về kế hoạch tổ chức thực hiện nhiệm vụ giáo dục phổ thông năm học 2025 - 2026 trên địa bàn tỉnh Gia Lai.
[14]. Tỉnh ủy Gia Lai (2024), Báo cáo số 630-BC/TU ngày 04/9/2024, Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Đức Thịnh (2025), Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên, Nxb. Tri thức, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Nguyễn Duy Dũng (2025), Bảo tồn bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên gắn với phát triển du lịch hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo (số 1, tập 2).
3. Piergigli, Valeria (2013), The Right to Cultural Identity, Annuaire international de justice constitutionnelle, vol. 29, 2013, pp. 597 - 619, https://doi.org/10.3406/ aijc.2014.2197.
4. Tạ Khánh Trường (2025), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa ở nước ta hiện nay, Tạp chí Việt Nam hội nhập, số 362 (tháng 5/2025).
5. Trương Minh Dục (2020), Xu hướng biến đổi quan hệ dân tộc ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 30.
6. Tường Duy Kiên, Nguyễn Thị Thanh Hải (2024), Quyền con người trong phát triển xã hội, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
7. Ya’ir Ronen, Redefining the child’s right to identity, International Journal of Law, Policy and the Family, Volume 18, Issue 2, August 2004, Pages 147 -s 177.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (444) tháng 1/2026)