Abstract: Equality between husband and wife regarding common property is one of the fundamental principles of the marriage and family regime (institution). However, stemming from the specifics of marital relationships, the exercise of equal rights between husband and wife regarding common property is an increasingly diverse and complex issue. To better protect the rights of both parties, this article analyzes and clarifies the meaning of equal rights between husband and wife regarding common property, thereby pointing out limitations in the application of the law and proposing recommendations for improvement, aiming to sustainably promote the economic function of the family in the context of integration.
Đặt vấn đề
Bình đẳng là một trong những quyền cơ bản, giữ vị trí trung tâm trong hệ thống quyền con người. Theo cách hiểu thông thường, “bình đẳng là sự đối xử như nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, không phân biệt thành phần và địa vị xã hội, trong đó, trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật”[1]. Trên thế giới, quyền bình đẳng được ghi nhận trong nhiều văn bản như Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 (CEDAW),… Đó là bước tiến vượt bậc so với xã hội cũ, tạo điều kiện thuận lợi để giải phóng phụ nữ hoàn toàn và triệt để về mọi mặt.
Việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong phạm vi đời sống hôn nhân, mà còn là yếu tố “then chốt” để xây dựng xã hội công bằng, tiến bộ. Đối với quan hệ tài sản, đây là cơ sở bảo đảm thực hiện các chức năng kinh tế của gia đình, đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển đời sống hôn nhân. Do đó, việc thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung, là yêu cầu tất yếu. Đây còn là thước đo đánh giá tiến trình thực hiện nghĩa vụ pháp lý của Nhà nước về quyền con người, vì, “chỉ khi nào quyền bình đẳng hoàn toàn giữa vợ chồng được giữ đúng thì hôn nhân mới có thể hỗ trợ cho sự phát triển tự do của cá nhân”[2].
Đối với Việt Nam, từ sau Cách mạng Tháng Tám, hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình ngày càng được quan tâm và hoàn thiện, từng bước xóa bỏ các quy định và tục lệ cổ hủ, bất bình đẳng giữa nam và nữ, trong đó có quyền bình đẳng về tài sản chung của vợ, chồng[3]. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, còn tồn tại những vướng mắc, bất cập trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của vợ, chồng về sở hữu và quản lý tài sản chung. Trường hợp một bên vợ, chồng xâm phạm quyền bình đẳng đối với tài sản chung thì chế tài, cơ chế bảo vệ còn mờ nhạt. Trên cơ sở làm rõ khung pháp lý về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung, nghiên cứu đánh giá thực tiễn áp dụng, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc bảo vệ quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung.
1. Khung pháp lý về quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung theo pháp luật hiện hành
Quyền bình đẳng của vợ, chồng nói chung và trong quan hệ tài sản nói riêng, chỉ đặt ra khi giữa nam và nữ đang tồn tại quan hệ hôn nhân. Cơ chế này được bảo đảm bởi pháp luật, tạo sự công bằng giữa vợ và chồng trong quan hệ tài sản, thể hiện thông qua các quy định cụ thể như sau:
1.1. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng
Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”. Đây là nguyên tắc xuyên suốt được áp dụng không phụ thuộc vào chế độ tài sản mà vợ chồng đã lựa chọn[4].
Căn cứ xác định tài sản chung hay nguyên tắc phân chia tài sản chung cũng được xây dựng trên tinh thần nguyên tắc này.
Trường hợp lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận thì vợ chồng có thể ước định với nhau về xác định tài sản nào là tài sản chung hoặc riêng, quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung[5]… trong thời kỳ hôn nhân. Miễn sao, sự thỏa thuận này từ hai phía và phù hợp với quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong đó có nguyên tắc về sự bình đẳng. Nếu vi phạm, người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
Trường hợp vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo luật định thì tài sản chung của vợ chồng được xác định gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng (trừ trường hợp vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân); các khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được tặng cho chung, thừa kế chung; tài sản mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; ngoài ra, tài sản mà vợ chồng không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng khi có tranh chấp cũng được xác định là tài sản chung của vợ chồng[6]. Như vậy, sự bình đẳng trong quy định này thể hiện ở việc không phân biệt ai là người trực tiếp tạo ra tài sản (vợ hay chồng), mọi thu nhập, thành quả lao động hợp pháp, thu nhập hợp pháp[7] trong thời kỳ hôn nhân đều được xác định là tài sản chung. Thậm chí, dù ai đứng tên sở hữu, nếu không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng thì được coi là tài sản chung[8]. Điều đó chứng tỏ pháp luật thừa nhận quyền ngang nhau của vợ chồng đối với tài sản, bảo vệ quyền lợi của cả hai người như nhau. Những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng phải ghi tên của cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác[9]. Trường hợp tài sản chỉ đứng tên một bên vợ hoặc chồng, giao dịch đối với tài sản đó tuân theo Điều 26 hoặc nếu có tranh chấp phát sinh thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014[10].
1.2. Quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung
Với sự tương thích nhất định, khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận: “Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”. Trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vi phạm quy định tại Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu[11]. Trường hợp vợ chồng áp dụng chế độ tài sản pháp định, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ rõ: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận”. Nói cách khác, vợ và chồng đều có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Đối với việc định đoạt các tài sản có giá trị lớn như bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu hoặc tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình thì khi định đoạt, vợ chồng phải có sự thỏa thuận bằng văn bản[12]. Nếu không có sự đồng thuận, thiếu ý chí của một trong hai bên vợ, chồng thì bên còn lại có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu[13] để bảo đảm quyền lợi của mình đối với tài sản chung. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, khi thực hiện chăm lo đời sống gia đình, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình, để bảo đảm quyền bình đẳng giữa các thành viên, những giao dịch liên quan đến tài sản chung có thể chỉ do một bên thực hiện, bên còn lại có thể biết hoặc không biết nhưng vẫn phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ phát sinh. Đây được xem là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng[14].
Đối với nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, hoặc từ giao dịch do vợ chồng cùng thực hiện, hoặc thiệt hại do tài sản chung gây ra, thì đều được xác định là nghĩa vụ chung của vợ chồng. Bên cạnh đó, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình cũng làm phát sinh trách nhiệm liên đới, được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của vợ chồng. Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì nghĩa vụ sẽ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng. Việc đóng góp này tùy theo khả năng kinh tế của mỗi bên[15]. Ngoài ra, nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình cũng được xác định là nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Đặc biệt, bất kể vợ chồng áp dụng chế độ tài sản nào, nếu việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường[16].
1.3. Nguyên tắc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc khi hôn nhân chấm dứt
Căn cứ xác lập tài sản chung dựa trên nguyên tắc bình đẳng, nên khi phân chia cũng được thực hiện trên nguyên tắc này. Việc chia tài sản chung có thể diễn ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc khi hôn nhân chấm dứt. Theo đó, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết (Tòa án giải quyết theo cơ chế tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)[17]. Thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung mà gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình hoặc nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ, thì việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ bị vô hiệu[18].
Trường hợp khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản. Trường hợp có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế[19].
Trong trường hợp áp dụng quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc phân chia tài sản chung trước hết do vợ chồng tự thỏa thuận. Nếu vợ chồng không thỏa thuận được và có yêu cầu thì Tòa án sẽ dựa vào chế độ tài sản mà vợ chồng đang áp dụng để giải quyết. Đối với chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; trường hợp thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì giải quyết theo quy định pháp luật. Khi đó, về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố như hoàn cảnh gia đình, công sức đóng góp, lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng… Đặc biệt, điểm b khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình (Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT) nhấn mạnh “người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm”. Quy định này cho thấy quan điểm bảo vệ quyền bình đẳng về tài sản chung giữa vợ và chồng, nhất là trong trường hợp một bên làm công việc nội trợ. Đây là biểu hiện rõ nhất của bình đẳng thực chất, kể cả khi một bên không có thu nhập trực tiếp.
2. Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Từ các quy định trên, có thể thấy Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tạo hành lang pháp lý nhằm bảo đảm quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung. Thực tế xét xử, Tòa án cũng linh hoạt áp dụng các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ và chồng, đặc biệt trong các vụ tranh chấp tài sản khi ly hôn. Đơn cử như Án lệ số 03/2016/AL, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao công bố, liên quan đến việc mua bán nhà đất trong thời kỳ hôn nhân nhưng chỉ đứng tên người chồng. Căn cứ nguồn gốc hình thành tài sản và thời điểm phát sinh, Tòa án xác định đây là tài sản chung của vợ chồng. Quyết định này thể hiện rõ tinh thần “quyền sở hữu không phụ thuộc vào tên gọi trên giấy chứng nhận”, mà dựa vào thực chất việc hình thành tài sản. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của quan hệ hôn nhân, cùng quan niệm lâu đời chồng là “chủ” của gia đình, thực tiễn áp dụng quy định về quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung còn gặp một số khó khăn.
2.1. Tiêu chí xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia khi có yêu cầu phân chia tài sản chung
Hiện, pháp luật thừa nhận công việc nội trợ là một hình thức lao động có giá trị, “tương đương” với lao động tạo ra thu nhập. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử, việc đánh giá thường thiên về tài sản hữu hình, bên không trực tiếp tạo ra thu nhập lại chưa có cơ chế đánh giá xác định công sức đóng góp, nên việc xác định tỷ lệ phân chia thường có sự chênh lệch giữa người “trực tiếp” và “gián tiếp” tạo ra thu nhập. Mức độ chênh lệch (trong những vụ việc có yếu tố tương đồng) khác nhau, chẳng hạn qua một số vụ việc sau:
Cùng là đánh giá “công sức đóng góp” dựa vào nguồn gốc hình thành tài sản, nhưng Bản án số 08/2023/HNGĐ-PT ngày 16/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh TN[20] theo hướng chia cho ông S hưởng 60% tài sản, bà Tr hưởng 40% tài sản. Cụ thể, xét về nguồn gốc đất, ông S trình bày nhận tặng cho từ cha ông S; quá trình chung sống, bà Tr chỉ là nội trợ, còn ông S là lao động chính trong gia đình và là người kê khai đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên có cơ sở xác định công sức đóng góp vào tài sản nhiều hơn bà Tr. Trong trường hợp khác, Tòa án đưa ra tỷ lệ chênh lệch nhiều hơn. Cụ thể, theo Bản án Phúc thẩm số 44/2022/HNGĐ-PT ngày 30/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh TN[21], phần đất trồng cây cao su có nguồn gốc từ cha mẹ ông M, quá trình chung sống vợ chồng đã sử dụng chung nhiều năm, bà P có công cải tạo làm tăng giá trị của đất và được ông M để cùng đứng tên sử dụng đất. Vì vậy, chia tài sản vợ chồng theo tỷ lệ ông M được 66,2%, bà P được 33,8% trên tổng giá trị tài sản.
Bên cạnh đó, nếu dựa trên tiêu chí công sức đóng góp là thu nhập, có Tòa án đưa tỷ lệ là 55%/45%, có Tòa án đưa ra tỷ lệ 65%/35%. Cụ thể, theo Bản án số 46/2020/HNGĐ-ST ngày 28/8/2020 của Tòa án nhân dân HN, chị V đi lao động tại Hàn Quốc, thu nhập chủ yếu do chị tạo ra, còn anh T sức khỏe yếu, chủ yếu ở nhà chăm con từ khi con sinh ra đến tháng 9/2020 (khi chị V về nước). Do đó, Hội đồng xét xử xác định công sức đóng góp của chị V là chủ yếu và quyết định chia tài sản cho chị V và anh T theo tỷ lệ 65%/35%. Trường hợp tương tự, Bản án Phúc thẩm số 08/2019/HNGĐ-PT của Tòa án nhân dân tỉnh HD[22] ngày 03/4/2019 về tranh chấp giữa bà A và ông E theo hướng: bà A được xác định công sức đóng góp nhiều hơn vì từ năm 2004 đến năm 2014, bà A đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, có 06 lần chuyển tiền thông qua ngân hàng và ông E đã nhận tổng số tiền là 28.600USD. Thời điểm ông E ở nhà mua hai thửa đất (năm 2010 và 2014) cũng là thời điểm bà A nhiều lần gửi tiền cho ông E. Xác định công sức đóng góp vào khối tài sản chung giữa bà A và ông E theo tỷ lệ 55%/45%.
Có thể thấy, tiêu chí “công sức đóng góp” được Tòa án áp dụng triệt để trong quá trình phân chia tài sản chung khi ly hôn. Việc phải xem xét đến “công sức” các bên đã đóng góp trong việc gây dựng khối tài sản chung để phân chia có sự công bằng hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, bản chất nguyên tắc “chia đôi” như một công cụ giúp bảo vệ nhóm yếu thế (thường là phụ nữ hoặc người không trực tiếp tạo ra thu nhập[23]), qua đó bảo đảm quyền bình đẳng thực chất, phòng ngừa rủi ro trong tranh chấp, nên nếu tỷ lệ phân chia dựa trên công sức đóng góp quá chênh lệch sẽ làm suy yếu nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ hôn nhân. Vì vậy, để bảo vệ quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung theo đúng nguyên tắc này, pháp luật hôn nhân và gia đình cần làm rõ nội hàm thuật ngữ “lao động của vợ, chồng trong gia đình”, đồng thời, hướng dẫn cụ thể cách xác định tỷ lệ phân chia dựa trên công sức đóng góp khi có yêu cầu phân chia tài sản chung.
Có thể tham khảo Bộ luật Lao động năm 2019 để làm rõ phạm vi công việc gia đình được thừa nhận, trong đó bao gồm nội trợ, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, người cao tuổi, quản gia, lái xe, làm vườn… Đây có thể là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền xây dựng các quy định rõ ràng hơn việc đóng góp công sức của vợ chồng vào khối tài sản chung thông qua hoạt động gia đình, dù là trực tiếp hay gián tiếp. Do đó, để bảo đảm tính thống nhất trong quá trình xét xử, cần quy định các tiêu chí xác định “lao động của vợ, chồng trong gia đình” là gì, định nghĩa và mức độ đóng góp các công việc “chăm sóc con, gia đình” để hiểu và áp dụng thống nhất.
Bên cạnh đó, tỷ lệ phân chia cần được kiểm soát ở mức hợp lý để tránh vi phạm nguyên tắc bình đẳng. Nếu phân chia quá chênh lệch sẽ không chỉ gây cảm giác bất công, mà còn có thể làm phức tạp hóa việc xác định ranh giới giữa tài sản chung và tài sản riêng (trong trường hợp tài sản riêng có sự trộn lẫn). Do đó, nếu có sự chênh lệch tỷ lệ chia tài sản, cần được Tòa án giải thích rõ trong bản án để bảo đảm tính minh bạch, khách quan. Nếu không, nguyên tắc chia đôi “coi như ngang nhau”, “tương đương” chỉ mang tính chất tương đối. Như vậy, khi giải quyết phân chia tài sản chung, nguyên tắc chia đôi nên đóng vai trò trung tâm và trong mọi trường hợp, phần tài sản của một bên cũng không nên vượt quá 2/3 tổng giá trị tài sản chung.
2.2. Chế tài trong trường hợp vợ, chồng xâm phạm quyền bình đẳng đối với tài sản chung
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều quy định liên quan đến quyền bình đẳng của vợ, chồng, nhưng chế tài đối với sự vi phạm nguyên tắc này chưa được quan tâm đúng mức. Ví dụ, Luật chỉ quy định chế tài áp dụng trong trường hợp vi phạm quy tắc đại diện giữa vợ và chồng khi xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung thuộc loại phải đăng ký mà trên giấy chứng nhận chỉ ghi tên một bên. Theo đó, “trong trường hợp vợ hoặc chồng có tên trên giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản tự mình xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch với người thứ ba trái với quy định về đại diện giữa vợ và chồng của Luật này thì giao dịch đó vô hiệu, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật mà người thứ ba ngay tình được bảo vệ quyền lợi”[24]. Như vậy, chưa rõ hướng xử lý đối với tài sản chung không thuộc loại phải đăng ký.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 yêu cầu việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp tài sản là: bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Từ đó, khoản 2 Điều 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (Nghị định số 126/2014/NĐ-CP) quy định: “Trong trường hợp vợ hoặc chồng định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu”. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015, có trường hợp “giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu”. Vậy, nếu người chồng tự ý chuyển nhượng nhà đất - vi phạm khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, áp dụng khoản 2 Điều 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP để tuyên giao dịch vô hiệu, nhưng bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho ngân hàng theo đúng quy định pháp luật, đặt ra tính hiệu lực của giao dịch thế chấp. Tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính thì hướng giải đáp là giao dịch thế chấp đó không vô hiệu. Việc bảo vệ người thứ ba ngay tình trong tình huống này là hợp lý, nhưng quyền bình đẳng của vợ, chồng đối với tài sản chung ít nhiều đã bị xâm phạm. Hoặc, trường hợp vợ, chồng tự ý sử dụng tài sản chung, làm hư hỏng tài sản chung, hủy hoại tài sản chung dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện. Tuy nhiên, đối với những vụ việc này, thông thường sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Cơ quan chức năng sẽ xác định quyền sử dụng tài sản của mỗi bên, trên cơ sở đó xác định hành vi của các bên ở mức độ vi phạm như thế nào. Trong trường hợp tài sản chung vợ chồng nhưng một người sử dụng, định đoạt chưa quá một phần hai giá trị tài sản chung đó, thì hành vi này không vi phạm pháp luật[25]. Mặc dù Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có cơ chế người thực hiện giao dịch phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (nếu xảy ra) cho chồng, vợ mình theo khoản 3 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng để chứng minh thiệt hại hay thi hành án trong trường hợp vợ/chồng phải bồi thường trên thực tế sẽ không khả thi. Đặc biệt, trong tình huống hôn nhân vẫn tồn tại, người chồng/vợ được bồi thường thiệt hại bị đặt vào tình thế “khó đòi” bồi thường từ vợ/chồng, bởi thời kỳ hôn nhân vẫn còn và thu nhập có được của hai người trong thời kỳ hôn nhân vẫn được coi là tài sản chung của vợ chồng nếu không có thỏa thuận khác[26].
Trước xu thế hội nhập, khái niệm về tài sản đã bổ sung những cách tiếp cận mới khi Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 được ban hành (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026) đã ghi nhận “tài sản số là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, được thể hiện dưới dạng dữ liệu số, được tạo lập, phát hành, lưu trữ, chuyển giao và xác thực bởi công nghệ số trên môi trường điện tử”, chắc chắn cơ chế bảo đảm thực hiện quyền đối với tài sản chung của vợ chồng nói riêng, bảo đảm quyền bình đẳng đối với tài sản chung của vợ chồng nói chung càng phải thắt chặt. Theo dữ liệu của Finder’s Crypto Adoption Index 2023, khoảng 21% dân số Việt Nam (tương đương hơn 20 triệu người) đã từng giao dịch hoặc sở hữu tiền điện tử. Việt Nam xếp thứ nhất thế giới về tỉ lệ chấp nhận tiền điện tử trong hai năm liên tiếp (2021, 2022)[27]. Đứng trước bối cảnh đó, không ít trường hợp vợ hoặc chồng đơn phương sử dụng toàn bộ tài sản chung để đầu tư thua lỗ, khiến người còn lại không chỉ mất tài sản mà còn phải gánh nợ, đe dọa nghiêm trọng đến sự ổn định gia đình và việc nuôi dạy con cái. Đây là vấn đề không chỉ ở Việt Nam, mà còn xảy ra tại nhiều quốc gia khác[28].
Tham khảo chế tài dân sự cho thấy, một số quốc gia có quy định về việc bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án chia lại tài sản chung và yêu cầu bồi thường nếu có thiệt hại. Đơn cử Bộ luật Dân sự Trung Quốc. Điều 1066 quy định “trong thời kỳ hôn nhân, một trong hai người vợ hoặc chồng có thể nộp đơn lên Tòa án nhân dân để phân chia tài sản chung trong các trường hợp: một bên vợ hoặc chồng đã che giấu, chuyển nhượng, bán, tiêu hủy hoặc làm hư hỏng, hoặc lãng phí tài sản chung, tạo ra một khoản nợ chung giả, hoặc thực hiện các hành vi khác xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của tài sản chung”. Điều 2550 Bộ luật Gia đình California (California Family Code)[29], nếu một bên vợ hoặc chồng tự ý chuyển nhượng hoặc tiêu tán tài sản chung mà không có sự đồng ý của bên kia, bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu tòa án chia lại tài sản và có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Hiện, pháp luật Việt Nam cho phép vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung[30]. Yêu cầu chia có thể đến từ cả vợ và chồng hoặc do một bên có yêu cầu. Do đó, nghiên cứu này khuyến nghị cho người bị xâm phạm quyền đối với tài sản chung được quyền yêu cầu Tòa án phân chia lại tài sản chung, theo đó, bên gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường tương ứng với phần quyền của mình trong khối tài sản chung. Điều này giúp hạn chế rủi ro cũng như trách nhiệm liên đới, nghĩa vụ đối với tài sản chung của vợ chồng.
Bên cạnh đó, kiến nghị bổ sung khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và khoản 2 Điều 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP theo hướng bổ sung quy định trường hợp vợ hoặc chồng xâm phạm quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản chung (là bất động sản, động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình) thì bên kia đều có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu. Cụ thể hơn, trong trường hợp vợ hoặc chồng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu.
Kết luận
Khung pháp lý về quyền bình đẳng đối với tài sản chung giữa vợ và chồng không đơn thuần là một quy định về tài sản, mà còn là một phần quan trọng trong hệ thống bảo đảm quyền con người, quyền công dân, thể hiện rõ tinh thần của Hiến pháp năm 2013 sửa đổi, bổ sung năm 2025 và phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người. Bình đẳng trong quan hệ tài sản giữa vợ, chồng sẽ tạo cơ hội phát triển kinh tế và là bước đệm cho các quyền khác như quyền tự do cá nhân, quyền được học tập, lao động… Việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành trong bảo vệ quyền bình đẳng đối với tài sản chung của vợ chồng là điều cần thiết giúp bảo vệ quyền lợi cho từng cá nhân trong quan hệ hôn nhân và góp phần nâng cao chất lượng pháp quyền và phát triển xã hội theo hướng bền vững./.
ThS. Nguyễn Phương Ân
Giảng viên Khoa Luật dân sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
ThS. Nguyễn Thị Thanh Mai
Giảng viên Khoa Luật, Trường Đại học Tôn Đức Thắng
[1]. Từ điển Bách khoa Việt Nam - Tập 1 (1995), Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 232.
[2]. Szilagy Vilmos (1981), Hôn nhân trong tương lai, Lê Thị Nguyệt (dịch), Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, tr. 137.
[3]. Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4]. Khoản 2 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Điểm a khoản 1 Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 15 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (Nghị định số 126/2014/NĐ-CP).
[6]. Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[7]. Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP.
[8]. Khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[9]. Khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[10]. Khoản 2 Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[11]. Điểm b khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[12]. Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
[13]. Điều 13 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP.
[14]. Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[15]. Khoản 2 Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[16]. Khoản 3 Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[17]. Khoản 1 Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[18]. Điều 42 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[19]. Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[20]. Xem tại: https://static3.luatvietnam.vn/uploaded/LawJudgs/docs/2023/03/16/ban-an-08-2023-hngd-pt-042010.pdf, truy cập ngày 05/01/2026.
[21]. Xem tại: https://static3.luatvietnam.vn/uploaded/LawJudgs/docs/2022/12/30/ban-an-44-2022-hngd-pt-182609.pdf, truy cập ngày 05/01/2026.
[22]. Xem tại: https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-082019hngdpt-ngay-03042019-ve-tranh-chap-chia-tai-san-sau-khi-ly-hon-89043, truy cập ngày 05/01/2026.
[23]. Nguyễn Thị Thu Trang, Đào Thị Diệu Thương (2024), Một số vấn đề cần lưu ý khi kiểm sát việc giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng, Tạp chí Kiểm sát, số 8, tr. 45.
[24]. Khoản 2 Điều 26 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[25]. Tiến Hưng (2023), Vụ trộm tiền của vợ: Người chồng có thể bị xử lý thế nào?, https://lsvn.vn/vu-trom-tien-cua-vo-nguoi-chong-co-the-bi-xu-ly-the-nao-1675606627-a127440.html, truy cập ngày 05/01/2026.
[26]. Văn Tâm, Thanh Tùng (2014), Chồng bị kiện vì tự ý xài tiền chung, Tạp chí điện tử Tri thức, https://znews.vn/chong-bi-kien-vi-tu-y-xai-tien-chung-post497354.html, truy cập ngày 05/01/2026.
[27]. PGS.TS. Ngô Trí Long (2025), Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm, https://tapchinganhang.gov.vn/viet-nam-khong-duoc-cham-chan-voi-tien-ky-thuat-so-quan-diem-chien-luoc-cua-tong-bi-thu-to-lam-15619.html, truy cập ngày 05/01/2026.
[28]. Milica Prica (2023), Concealing More Than Your Affairs: A Deep Dive into the World of Cryptocurrency and its Future Influence on Family Law in Ohio, Cleveland State Law Review, Volume 71, Issue 3.
[29]. Bộ luật Gia đình California, https://leginfo.legislature.ca.gov/faces/codesdisplaySection.xhtml?lawCode=FAM§ionNum=2550, truy cập ngày 05/01/2026.
[30]. Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật Gia đình California, https://leginfo.legislature.ca.gov/faces/codesdisplaySection.xhtml?lawCode=FAM§ionNum=2550, truy cập ngày 05/01/2026.
2. Khoa Luật - Trường Đại học Cần Thơ (2023), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Milica Prica (2023), Concealing More Than Your Affairs: A Deep Dive into the World of Cryptocurrency and its Future Influence on Family Law in Ohio, Cleveland State Law Review, Volume 71, Issue 3.
4. Nguyễn Thị Thu Trang, Đào Thị Diệu Thương (2024), Một số vấn đề cần lưu ý khi kiểm sát việc giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng, Tạp chí Kiểm sát, số 8.
5. PGS.TS. Ngô Trí Long (2025), Việt Nam không được chậm chân với tiền kỹ thuật số - Quan điểm chiến lược của Tổng Bí thư Tô Lâm, https://tapchinganhang.gov.vn/viet-nam-khong-duoc-cham-chan-voi-tien-ky-thuat-so-quan-diem-chien-luoc-cua-tong-bi-thu-to-lam-15619.html, truy cập ngày 05/01/2026.
6. Szilagy Vilmos (1981), Hôn nhân trong tương lai, Lê Thị Nguyệt (dịch), Nxb. Phụ Nữ, Hà Nội.
7. Tiến Hưng (2023), Vụ trộm tiền của vợ: Người chồng có thể bị xử lý thế nào?, https://lsvn.vn/vu-trom-tien-cua-vo-nguoi-chong-co-the-bi-xu-ly-the-nao-1675606627-a127440.html, truy cập ngày 05/01/2026.
8. Từ điển Bách khoa Việt Nam - Tập 1 (1995), Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
9. Văn Tâm, Thanh Tùng (2014), Chồng bị kiện vì tự ý xài tiền chung, Tạp chí điện tử Tri thức, https://znews.vn/chong-bi-kien-vi-tu-y-xai-tien-chung-post497354.html, truy cập ngày 05/01/2026.
(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 2 (445) tháng 1/2026)